Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai THIẾU TÁ LÊ ÂN

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

THIẾU TÁ LÊ ÂN

In PDF.

 




một thời để nhớ

 

Rất ít người trong Trường ta còn nhớ, nói chi nhắc, đến vị Văn Hoá Vụ trưởng cuối cùng, Thiếu tá Lê Ân. Có lẽ vì bản tính ông kín đáo, khiêm cung, có lẽ vì trong chức vụ VHV trưởng ông ít xuất hiện, không tiếp xúc nhiều với anh em SVSQ, khác với chúng tôi, những sĩ quan phụ khảo. Ông về Đại học CTCT, từ trường Võ Bị (trưởng phòng Tâm lý chiến), cùng một thời gian với tôi, tháng giêng 1973, nghĩa là từ khoá 4. Ông có bằng Cử nhân Việt-Hán. Rất hiền lành, ít nói, vóc dáng ốm nhỏ, mặt luôn tái xanh, và sau này tôi được ông cho biết ông bị bệnh bao tử kinh niên. Ông sống khép kín cùng với gia đình, một vợ ba con nhỏ, tại bến xe Chi Lăng, gần căn nhà thuê của tôi. Vợ ông người Huế, cháu ruột của Linh mục nổi tiếng Phan Phát Huồn, dòng Chúa Cứu Thế. Còn ông nói tiếng Quảng, lai Huế, em họ của Linh mục Lê Thiên Ân, tu viện trưởng tu viện dòng Chúa Cứu Thế Nha Trang. Khi Khối Khoá sinh và Văn hóa vụ dời về trường Chỉ Huy Tham Mưu cũ, chúng tôi chỉ cần thả bộ bốn phút là đến nơi làm việc. Rất tiện lợi.

 

Văn hoá vụ lúc ấy có bốn khoa và bốn trưởng khoa. Đại úy Võ Lê Tuấn, cử nhân Luật, người hiền hòa, ăn nói nhỏ nhẹ, lịch sự, là trưởng khoa Triết Học Chính Trị (không nhớ tên gọi có đúng không?) kiêm phụ khảo Nhân chủng học (gs Lê Tôn Nghiêm), Trung úy Trần Kiêm Nguyện, cử nhân Văn khoa, trưởng khoa Hành Chánh Công Quyền (?) kiêm phụ khảo Bang giao quốc tế (gs Nguyễn Thị Huệ), Trung úy Phạm Hữu Tạo, du học Mỹ về, trưởng khoa Sinh ngữ (một trong các gs là cô Thu, hiệu trưởng Bùi Thị Xuân), và Đại úy Nguyễn Kim Quý, trưởng khoa Nhân Văn Xã Hội kiêm phụ khảo Xã hội học (gs Phạm Thị Tự). Mỗi trưởng khoa có văn phòng riêng trong một building, được dùng làm nơi thi vấn đáp, kế cận đại giảng đường. Sau này, khi hai gs Lê Tôn Nghiêm và Phạm Thị Tự bận không lên dạy được nữa, vào năm cuối của khóa 4, Đại tá Chỉ huy trưởng, bằng một văn thư chính thức, đã bổ nhiệm Đ/U Tuấn dạy môn Nhân chủng học và Đ/U Quý dạy môn Xã hội học, sau khi ông và một số sĩ quan (có Tr/Tá Đồng Văn Chân, Quân Huấn Vụ trưởng) vào lớp, ngồi phía sau, "nghe" hai Đ/U này dạy thử một lần. Hai ông này, theo đề nghị của Đại tá CHT, đã dùng tài liệu của các giáo sư để "lên lớp", khỏi tốn giờ soạn tài liệu mới, mà chưa chắc đã hay hơn, có giá trị hơn. Chúng tôi "lên lớp" được hai lần (cuối khóa 4, đầu khóa 5) thì tan hàng, "di tản chiến đấu" (cụm từ mỉa mai của ký giả Phạm Kim trong bài TH mới post về các lỉnh tướng tại BCH Hải Quân trước ngày 30/4/75) xuống Sài Gòn. Tôi không chắc là các anh em SVSQ có lời bình phẩm nào về cách dạy của chúng tôi, vì đa số, đi bãi về, mệt quá, đã ngủ trong lớp, có anh mê man không biết tôi xuống bục đứng bên cạnh lúc nào, có anh ngáy "vô tư", có anh còn mớ nói lảm nhảm. Tôi thông cảm hết. Có một điều duy nhất tôi không thông cảm là "quay phim" trong lớp.



Trở lại Th/Tá Lê Ân. Ông cho các sĩ quan VHV thì giờ rộng rãi để soạn bài vở, tài liệu, không bắt buộc có mặt ở đơn vị 100%, trừ khi trực trại, ứng chiến, và họp tham mưu có ĐT/CHT chủ tọa. Còn ông tình nguyện lãnh phần "trực văn phòng" mỗi ngày, mà ông và chúng tôi gọi đùa là  "giữ chùa", thay cho tất cả. Cần sĩ quan nào, ông cho người đi lùng gọi, thường thường tại gia. Vài lần, bận việc, không lên văn phòng được, ông cho cô con gái lớn, 14 tuổi, đến tìm tôi tại nhà, gõ cửa, nói bằng giọng Huế đặc: "Ba chạu nọi, nhờ chụ lên giự chùa giùm cho ba". Nghĩa là, vì tôi là láng giềng gần gũi, nên luôn luôn được ông ưu tiên "chiếu cố", hơn ba ông trưởng khoa kia. Suốt hai năm làm việc dưới quyền ông, tôi chưa bao giờ thấy ông giận, lớn tiếng với, hoặc rầy la bất cứ ai. Cho nên chúng tôi rất thương ông. Có chuyện gì không vừa ý, ông chỉ lắc lắc đầu, buông nhẹ một lời than độc nhất, rất trademark:



     - Cháng gướm (chán gớm!)



Tôi được ông "chiếu cố" một phần nữa vì tôi đi làm bằng chiếc xe Peugeot 203 đen, mượn của ba mẹ tôi, đời Bảo Đại, không bao giờ lau rửa, sách báo đầy ngập sàn xe, và thắng không được ăn lắm, muốn ngừng phải nhắp nhắp 10 thước trước từ xa, không ai dám ngồi với, nói chi mượn lái. Có một đêm sương mù, nhắp không kịp tôi suýt lao xuống hồ Xuân Hương. Lần khác, cũng bởi nhắp không kịp tôi đã tông vào cửa xe Peugeot  403 trắng mới tinh của ông Trưởng ty Công chánh Đà Lạt, người Huế, trông rất hách, bị ông này bước xuống la lối ầm ĩ, đòi rút bằng lái, nhưng lúc ấy ông cũng vừa kịp thấy tôi mặc quân phục, đeo lon, mang súng Colt, bước ra, mặt hầm hầm vì bị chửi ngang xương, nên ông cũng ngán, dịu giọng lại, chỉ đòi "đại úy trả tiền gò lại cửa xe", tốn hết một tháng lương của tôi. Nhờ đó, tôi mới chịu sửa lại cái thắng xe.



    Vài sĩ quan VHV biết chuyện này, nhưng Th/T Ân thì không, nên đề nghị với Đại tá CHT cho ông và tôi đi xuống Sài Gòn mời các giáo sư, bằng xe riêng của tôi, và nhà trường đài thọ xăng. Đó là một trong vài lần hiếm hoi tôi rửa xe, nhưng vẫn không check máy móc. Gần đến Phan Thiết, gió mát từ biển thổi vào, hai thầy trò đang ngon trớn, Th/T đang khen nức nở "xe chạy êm quá", thì bỗng xe pan, xịt khói mờ mịt, giật liên hồi mấy cái, rồi máy tắt. Dù ốm yếu, ông cũng phải xuống đường cùng tôi đẩy xe, mồ hôi nhể nhại, thở hồng hộc, luôn miệng: Cháng gướm ! Hóa ra bộ phận bơm xăng bị bể. Trở về trường, ông đi máy bay cho chắc ăn. Sau chuyến đó, ông không dám ngồi vào xe của tôi nữa.



    Cũng với chiếc xe ấy, trong mùa văn hoá đầu tiên của tôi, vì tài xế xe jeep dân sự của trường bận đón đưa ai, hình như bà Trung tướng Trần Văn Trung, ông nhờ tôi (một mình) đến trường Liên Khương đón giáo sư Phạm Thị Tự mà cả ông và tôi không biết mặt. Máy bay đến, tôi chờ mãi, vẫn không thấy bà đâu, vì trong đầu tôi mường tượng bà phải như một "mệnh phụ phu nhân", ăn mặc sang trọng cho đúng với tước giáo sư du học ở Mỹ về, v.v... Cuối cùng, không còn ai, ngoài một bà cao lớn mặc áo dài rất bình dị, đi guốc thường, đến hỏi với giọng Bắc thanh tao, trong vắt:  "Có phải Đại úy thuộc trường Đại học CTCT?". Tôi trả lời: "Vâng, tôi có nhiệm vụ đón giáo sư Phạm Thị Tự, nhưng không thấy bà đâu cả". Bà nói lớn: "Tôi là giáo sư Tự đây mà!"



     Bà Phạm Thị Tự, anh em phải công nhận cùng tôi là một giáo sư giỏi, cởi mở, kiến thức rộng, có óc khôi hài cao, ăn nói vô cùng duyên dáng. Mỗi lần Đại tá CHT mời bà và Th/T Lê Ân đến dùng cơm tại tư thất, tôi đều được mời đến "ăn ké".




Khi cả trường di tản, tôi phải bỏ lại chiếc Peugeot Bảo Đại trước nhà tại Đà Lạt, vì không có xăng (có thằng cán ngố nào vớ được chắc cũng sẽ khổ vì nó), và quá giang xe jeep của VHV trưởng Lê Ân, cùng với Thiếu úy Nguyễn Ngọc Chẩn, thuộc khoa Nhân văn Xã hội, và bác sĩ Đặng Phùng Hậu, trưởng bệnh xá trường ĐH/CTCT, cũng từ khóa 4. Gia đình Th/T Ân đã về Sài Gòn trước. Những gian truân, vất vả trên đường di tản, quý bạn đã biết, và tôi có kể một phần trong bài "Đà Lạt ngày về" (cũng xin nhân tiện đính chính: bài "Đà Lạt ngày về" này tôi viết bằng tiếng Việt, không phải bằng tiếng Anh như trang Ức Trai ghi nhầm. NT4 Nguyễn Kiến Tạo đã "dịch" từ Font VNI ra Unicode).

Đến Bình Tuy, tôi và Th/T Ân và các bạn đồng hành chia tay nhau, đường ai nấy đi.




một thời để chết

 

Cho đến khoảng hạ tuần tháng 6/1975. Bị giam tại trại tù cải tạo Long Giao (cùng với Bác sĩ Đặng Phùng Hậu, hiện ở Texas), một buổi trưa, tôi lần mò qua khu giữ các cấp tá, và được gặp lại Th/T Lê Ân. Cả hai mừng rỡ, chạy lại bên nhau, và qua lớp hàng rào kẽm cao hơn đầu người, hỏi thăm sức khỏe của nhau. Ông có vẻ ốm yếu hơn, mặt tái xanh hơn. Nhưng như thường lệ, ông vẫn lắc lắc đầu, nói với giọng Quảng lai Huế:

    - Cháng gướm !

 
Từ đó không bao giờ tôi còn gặp ông nữa, không nghe ai nói về ông, không biết ông ở đâu mà tìm. Ở các trại ngoài Bắc, tôi gặp một số sĩ quan và cựu SVSQ trường ta. Tôi chứng kiến tận mắt cái chết của Trung tá Nguyễn Văn Năm và Trung tá TMT Nguyễn Quang Hưng. Nhưng ông, thì biệt vô âm tín. Tôi không bao giờ quên được ông, vẫn cố tìm gặp ông, trong vô vọng. Cô con gái 14 tuổi năm ấy (1974) "nhờ chụ lên giự chùa giùm cho ba chạu" bây giờ cũng đã 50 rồi, bằng tuổi của Lisa Ngọc Huyền, con gái của Đại tá Quỳnh. Ôi, thời gian.




Rồi một hôm, tôi nghe ai nói ông đã chết, vì bệnh, sau khi đi tù cải tạo trở về. Mặc dù người đưa tin, tôi không nhớ là ai (hình như là Ba Chai Nguyễn Tiến Đạt), cam đoan đúng sự thật, nhưng vì thiếu chứng cớ và vì thương ông tôi vẫn bán tin bán nghi, hy vọng tin đó sai. Tôi hy vọng ông còn sống ở đâu đó tại Việt Nam, tại Mỹ, tại Pháp, tại Úc. Tôi cũng hy vọng, nếu quả thật ông đã mất rồi, rằng ở bên kia thế giới, ông đã tìm được sự giải thoát, không còn thở than "cháng gướm" nữa, không còn "giữ chùa" cho đứa nào nữa, và tất cả tốt đẹp cho ông hơn trong cuộc đời này.


Chúc Thiếu tá Lê Ân, vị chỉ huy trực tiếp, người bạn lớn thân ái của tôi, nếu đã qua đời thật rồi, được ngủ một giấc bình yên, ngàn năm.




Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, SQ/VHV