Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai DƯỚI TRỜI ÂU MÙA THU ( Phần 1)

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

DƯỚI TRỜI ÂU MÙA THU ( Phần 1)

In PDF.

Ba lô lên vai ta cùng đi.

Với sự khuyến khích của bạn Đỗ Nguyên Thiện, Dưới trời Âu mùa thu được viết để góp vui với các bạn trước khi ta hội ngộ 40 năm. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bước chân của tôi. 

Tôi được đi vòng quanh Âu châu vào mùa thu năm nay  là một chuyện tình cờ không chủ định.  Khi cô con gái út vừa tốt nghiệp xong, cháu lại chọn nơi làm việc ở một nơi hẻo lành miền đông nước Pháp. Thương con và không muốn cháu phải lo lắng một mình trong những ngày đầu tiên, tôi quyết định đi theo cháu để chia xẻ một phần nào khó khăn trong những bước đường đời.  Vả lại, đến Âu châu từ lâu đối với tôi vẫn là niềm mơ ước từ khi vừa mới lớn mà không có điều kiện. Nay tôi có cơ hội  sao lại có thể bỏ qua. Được đặt chân đến để xem sứ sở của Monsieur Vincent mà tôi chỉ biết đến trong những trang sách ngày xưa.

 

Du lịch Âu Châu. Các bạn sẵn sàng chưa. Ba lô lên vai ta cùng đi. Hình chụp tại phi trường Barcelona. Tây ban Nha

Theo như dự định, hai bố con tôi sẽ bay một chặng dài từ Dallas để tới Amsterdam, thủ đô của xứ Hoà Lan. Nới đây tôi sẽ được nghỉ vài tiếng trước khi chuyển tiếp máy bay tới Geneve, Thụy Sĩ. Từ Thụy Sĩ chúng tôi sẽ đi xe để vượt biên giới sang  Annemasse, một tỉnh lỵ nhỏ của miền đông nước Pháp. Cháu Thảo Nguyên sẽ làm việc tại nơi đèo heo hút gió này.

Mong ngóng ngày đi và sự trông chờ nơi đến cũng làm tôi hồi hộp. Dù sẽ chẳng có ai đứng đợi ở cửa  lối ra và bao nhiêu nỗi âu lo nơi xứ lạ, cũng không làm mất cảm giác ngây ngất đầu tiên của tôi khi đặt chân đến Âu châu. Mặc cho cả đêm ngủ chẳng yên giấc trên máy bay cũng không làm tôi mệt nhọc. Phi cơ giảm dần cao độ vào một buổi sáng tinh mơ đưa tôi đến trời Âu. Có một chút gì xao xuyến, bâng khuâng trước con người và cảnh vật khi nhìn qua khung cửa kính  đầy nắng ban mai của phi trường Amsterdam.

Tôi vẫn nghe rằng  Hoà Lan là xứ của ngàn hoa tulip, loại hoa mà ngày xưa Thương của tôi vẫn thích. Sao bay giờ  tôi chẳng thấy màu sắc gì ngoài  vạt đất mênh mông bụi đỏ và một vài hàng cây thưa thớt màu xanh. Hay là đất nơi đây thấp hơn mặt biển nên ít có những cây lớn như tôi từng được nhìn nơi xứ Mỹ.

Nhưng khi ra khỏi máy bay bước vào bên trong phi trường thì  sự nhộn nhịp, tươi vui làm cảm giác của tôi khác hẳn. Mọi thứ nơi đây đều được sắp xếp gọn gàng và con người cũng cao ráo đẹp đẽ như tính tình nồng hậu của họ. Các cô gái , những chàng trai làm việc trong phi trường đều tươi cười thân thiện. Họ luôn luôn hỏi han và giúp đỡ nếu thấy hành khách lung túng trong bất cứ vấn đề gì với hai thứ tiếng  Pháp và Anh rất nhuần nhuyễn. Đi bên con gái,tôi chợt thấy có một chút gì tiếc nuối nhớ  nhung. Phải rồi, tôi lại chợt nhớ đến người bạn đời của tôi. Phải chi có Thuơng ở bên cạnh cha con tôi, trong những phút giây tươi vui này thì hạnh phúc biết bao nhiêu. Ngày xưa, chúng tôi vẫn thường  mơ ước có một ngày bên nhau đi khắp thế gian. Nhưng nay, ngày ấy không bao giờ đến nữa.

Đây Hòa Lan, xứ sở của các cối xay gió mang nước ra biển, của hoa tulip( uất kim cương) muôn màu và các cô gái chân dài xinh đẹp làm cho trái tim ta như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.(Hình từ Internet)

Hai bố con ngồi đợi ở phi trường để làm thủ tục nhập cảnh dù rằng với Pasport của Mỹ, tôi không phải xin Visa để vào châu Âu như các nước khác. Giã từ Hòa Lan, thêm hai tiếng bay nữa chúng tôi đến được Geneve, Thuỵ sĩ. Với thành phố này,  không một người Việt Nam nào ở độ tuổi tôi lại vô tình không biết vì nó là chứng nhân của  một hiệp định phân ly nước tôi thành hai miền Nam Bắc năm 1954, mở đầu cho một cuôc chiến tranh huynh đệ tương tàn hai mươi mốt năm, để lại biết bao nhiêu hệ luy đau thương cho mọi người dân Việt. Thú thực, không hiểu tại sao mà tôi không có một chút cảm tình gì với thành phố này. Khi lòng đã không ưa thì nhìn cảnh vật cũng thờ ơ ảm đạm. Geneve, tôi nhìn ra cửa kính của phi trường bắt gặp những con đường nhỏ bé, những căn nhà cũ kỹ những sườn đồi loang lổ làm xám thêm một buổi trưa mùa thu với những đám mây đen, làm buồn lo thêm trong lòng người lữ khách, đi mà chưa biết về đâu.

Nhưng thật may, lúc đó cháu Thảo Nguyên mới bảo tôi sẽ có một người bà con bạn cháu ở Dallas ra đón và chỉ vẽ cho lối qua biên giới tới khách sạn của tỉnh Annemasse. Tôi trách con không nói làm bố lo lắng mấy hôm rày. Cháu trả lời rằng cho đến giờ phút này nó mới biết chắc có nguời ra đón. Chúng tôi đặt hành lý lên chiếc xe đẩy ra ngoài chờ đợi. Khá  lâu sau, ông bà Dumont, cư dân ở thành phố Geneve ra đón. Chị Dung,  người miền Nam vợ bác sĩ Dumont, sang du học ở Thuỵ Sĩ đã hơn bốn mươi năm trước khi miền Nam mất về tay Cộng sản. Tuy cũng là bác sĩ như  chồng, nhưng chị có những cử chỉ rất bình  dị và thân ái khiến tôi có cảm tưởng được nói chuyện với một bà chị Nam bộ, Bến Tre nào ngày trước.

    Hồ Geneve,nằm trong thành phố Geneve mà bất cứ người Việt nào cũng biết vì đó là nơi ký hiệp định chia đôi đất nước Việt nam

Chúng tôi được  chở về nhà ở ngoại thành phố Geneve  để dùng bữa trưa trước khi về Annemase. Xe chạy vào trung tâm thành phố, cảnh vật tươi  màu thêm một chút. Có lẽ sự đón tiếp vui vẻ của chị Dung làm lòng tôi phấn khởi hơn nhất là khi xe chạy lứơt qua bờ hồ nước thật xanh trong. Tôi được biết thành phố Genève nổi tiếng về sự đắt đỏ vì cư dân ở đây đều là những người giàu có, lương bổng rất cao. Chừng hai mươi phút sau xe đậu trước một căn biệt thự khá xinh. Nhà  chị Dung có một lầu, một basement, rộng chừng hơn 2000sf, dĩ nhiên là  cũ mà giá tới khoảng hai triệu rưỡi USD. Thú thực, tôi có một chút hiểu biết và hay tìm hiểu về tình hình địa ốc ở Dallas cũng không thể tưởng tượng được nhà cửa ở đây lại đắt đỏ đến dường này.

Tôi  đi một vòng quanh khu vườn nhà chị Dung thich thú thấy được một vườn rau Việt Nam, thật hiếm với  xứ này. Có đủ loại rau thơm, cà chua bầu bí do chính tay chị vun trồng. Sau này tôi mới biết thêm là người Việt Nam tại Âu châu thường ở trong những căn chung cư, chứ ít ai có nhà riêng để có mảnh vườn như chị.

Khoảng bốn mươi phút sau chúng tôi được mời ngồi vào bàn ăn. Hôm nay chị Dung nấu cho chúng tôi ăn bún riêu nhưng lại có giò heo. Chị hỏi tôi có ăn giò heo không chứ mấy đứa con và ông chồng Thụy Sĩ của chị không thích món này. Dĩ nhiên là tôi rất thích. Bún riêu được múc vào những tô lớn, đặt trên những điã to, công thêm muỗng nĩa và rưọu khai vị rất long trọng.  Ở Âu châu mọi người thường ăn uống trịnh trọng như vậy. Chuyện này làm tôi nhớ đến một anh bạn tù ngày trước đi du học ở Âu châu về. Anh  ấy  vót mấy thanh tre làm uỗng và niã để ăn ba lát mỳ khô trong trại giam ngày xưa.

Người Thụy sĩ nói hai thứ tiếng Đức và Pháp. Tôi chẳng biết  tiếng Đức, tiếng Pháp gì ngoài câu hỏi Parlez vous Anglais  dạo đầu nên dùng tiếng Anh để nói chuyện với chồng chị Dung, một người đàn ông chắc lớn hơn tôi vài tuổi, trầm lặng và lịch sự nhưng xử sự rất thân tình. Thú thực, tuy chưa ăn gì nhưng tôi không thấy đói bụng lắm, ăn theo phép lịch sự  cho xong bữa và phải để ý đến cung cách  bên ngoài quá nhiều vì sợ bị chê là thô  lỗ.

Nghỉ trưa tại nhà chị Dung vài tiếng  chúng tôi được vợ chồng chị chở về Annemase,  tới khách sạn mà cháu Thảo Nguyên đã đặt sẵn khi còn ở Dallas. Theo dự trù  là hai bố con sẽ đi tìm thuê ngay một căn Appartment để tránh phải ở nhiều ngày ở Khách sạn. Nhưng lúc này trời đã về chiều. chúng tôi không có thời giờ  nhiều ngoài việc mua được hai thẻ điện thoại và tìm được một quán ăn trong cửa hang Giant gần đó. Đây là một siêu thị gần giống như Walmart ở Mỹ, bán đủ mọi thứ đồ gia dụng và có những tiệm Fast Food , giá cũng không mắc lắm. Tuy nói là không mắc là chỉ so với Âu châu thôi chứ tính ra tiền Mỹ thì  rất là mệt óc vì thời giá bây giờ  một Euro của châu Âu bằng 1.485 USD. Thành thử cái gì rẻ nhất cũng đắt gấp rưỡi

                Thành phố Annemasse mùa thu

Hôm sau là thứ bảy, hai bố con lội bộ từ sang đến chiều khắp thành phố Annemase, vưà để tham quan cuộc sống vừa tìm thuê một căn phòng cho Thảo Nguyên, mới biết rằng ngày thứ bảy ở nước Pháp người ta không làm việc.  Ngoài những cơ sỏ thương mại ra, tất cả các dịch vu khác đều đóng cửa hay chỉ mở từng phần theo nhu cầu. Điện thoai cầm tay mà bên Pháp gọi là Portable rất đắt. Có lẽ đắt hơn cả ở Việt Nam. Gọi liên lạc vơí nhau trong nước là 0.50 Euro/phút. Còn gọi ra nước ngoài thì tùy theo nước. Gọi về Mỹ là 1Euro/phút. Tôi ớn quá  tính dùng computer để gọi vì tôi download program Skype, có thể gọi ra ngoài nhưng ngặt nỗi khách sạn tôi ở thuộc loại bình dân, nên không có đường dây internet. Muốn có phải trả tiền 5 Euro trong vài giờ. Như thế tính ra cũng quá đắt.

                   Một góc chung cư tại thành phố Annemase mùa thu, nơi Thảo Nguyên cư ngụ

Thành phố Annemasse nhỏ nhưng xinh xắn. Đó là ý nghĩ ban đầu của tôi khi thường thấy những căn nhà rất cũ, có thể hằng trăm năm nhưng lại đầy màu hoa chung quanh. Các cô gái Pháp, đa số là mảnh mai và dễ thương chứ không mập tròn như ở Mỹ, có lẽ tại họ đi bộ quá nhiều. Ở đây người ta ít dùng xe hơi, đa số đi xe bus nên thường phải lội bộ hơi nhiều để tới trạm hoặc đổi xe. Thành phố sát ngay biên giời Thuy Sĩ nên cũng là vùng núi non, lên dốc xuống khe nên trông lạ mắt. Có lẽ vì tôi ở Texas, vùng đất bằng phẳng nhìn cái gì cũng cứ đều đều nên bây giờ thấy một chút nhấp nhô đã thấy rộn rã trong lòng.

Đặc điểm của các căn nhà ở các tỉnh nhỏ nước Pháp là hoa nở khắp mọi nơi

Chúng tôi bước vào một văn phòng Tourist, may quá, sắp đóng cửa vì ngày thứ bảy họ chỉ làm việc tới 12 giờ trưa. Thảo Nguyên hỏi xin bản đồ và tin tức thêm về các văn phòng địa ốc. Một cô gái Á đông tiếp chuyện chúng tôi  -dĩ nhiên là bằng tiếng Pháp-  Tôi chỉ biết đứng nhìn vì có hiểu gì đâu. Trời vào thu nên hơi lạnh. Cô gái ăn mặc thật giản dị mà sao tôi thấy có vẻ gì rất hài hoà và đẹp quá. Tôi không nói tới nhan sắc mà chỉ chú ý đến vẻ bên cách phục sức bên ngoài. Từ màu sắc  của chiếc khăn quàng cột rất xinh trên ngực với cái áo Tshirt, và chiếc áo len mỏng   trễ xuống để nâng cao phần ngực, sao mà nó rất hợp với chiếc quần jean hơi chật để lộ cả thân hình  dễ thương mà chắc thưong thì không ..dễ. Cô có một vẻ gì quyến rũ rất Âu châu. Hai mươi  lăm năm rồi nhìn cách phục sức lè phè của dân Mỹ đã  quen, nay được nhìn các cô gái Pháp ăn mặc hợp thời trang, hỏi lòng tôi sao không hồi hộp rộn ràng.

Muốn thuê nhà chúng hôi phải có ngay tiền mặt để trả tiền đặt cọc, tiền tháng đầu tiên. Tôi đã biết ngay chuyện đó, vả lại cũng có ý định đi chơi nên chuẩn bị một số tiền khá lớn. Đáng lẽ tôi phải đổi ngay ở Mỹ nhưng nghe người ta nói sang Paris đổi cho mấy thằng Tàu có giá hơn (Ôi lại nghe người ta nói) nên bây giờ kẹt cứng. Ôm mấy ngàn đô la tôi đi lang thang hết nhà băng này đến nhà băng khác chẳng đổi được tiền. Dân Âu châu chê tiền dollar nên xua tôi đi, muốn đổi thì qua vùng biên giới có thể đổi ở các nhà Duane. Ở đây họ chỉ đổi tiền Thụy sĩ  lấy Euro mà thôi. Mẹ ơi, không biết đường mà cha con tôi cũng cố gắng mò mẫm coi trong bản đồ cầm tay lôi bộ sang biên giới. Tới nơi mới biết rằng thứ bảy chúng nó không làm việc. Không có cô con gái bên cạnh thì tôi đã chửi thề cho sướng miệng.

Mất hết cả ngày thứ bảy mà không được công chuyện gì. Ngày mai chúa nhật chắc là không  hy vọng. Tình huống này chắc chắn tôi phải ở khách sạn thêm rất nhiều ngày. Cháu Thảo Nguyên, đúng là con gái Mỹ chẳng lo lắng gì. Cháu hỏi tôi có đi Geneve chơi cho biết hay không nhưng nỗi buồn lo về tìm một chỗ ở không làm tôi còn hứng thú. Tôi bảo Thảo Nguyên không thể đi đâu nếu chưa có một chỗ ở chắc chắn để làm tan đi nỗi lo lắng phải tốn tiền thêm. Nó không nói gì, chỉ nhún vai chê tôi sao ‘kẹo” quá. Đi loanh quanh một hồi bố con chúng tôi về lại downtown mà sau này Phạm cô Giao giảng cho tôi nghe ở Pháp thường gọi là Hotel de ville. Giờ này nhà bank đã đóng cửa vì người ta chỉ làm việc vài tiếng vào sáng thứ bảy mà thôi. Có vài người đang đứng nơi máy đổi tiền. Cháu Thảo Nguyên bước tới và reo lên là với thẻ Visa của Bank of America, tôi có thể rút tiền được ở đây. Dĩ nhiên là Euro chứ không phải Dollars. Mừng quá tôi đợi đến luợt mình, đưa thẻ vào máy mà lòng hồi hộp như đang phỏng vấn việc làm, đợi chờ phán quyết của ông chủ xem có nhận hay không.

Một lúc sau máy mới cho dữ kiện, tôi chỉ được rút 300 Euro cho mỗi ngày. Ba trăm Euro làm sao đủ khi tôi cần  ngay 1200 Euro để thuê nhà. Ngày mai có rút thêm thì cũng chỉ có  sáu trăm. Đang lúc suy nghĩ đến nát óc ra tôi mới  nhận ra rằng mình còn một cái thẻ khác của Bank of America làm ở California nữa. Tôi lập tức cho thẻ vào. Ba trăm Euro khác chạy ra ngay. Cái thẻ này lý ra tôi phải cancel khi làm thêm thẻ mới nhưng vì cái tật lè phè nên tôi quen mất, thế mà nó lại giúp tôi trong lúc ngặt nghèo này.  Đến mai tôi lại chịu khó ra đây rút một lần nữa là đủ tiền thuê nhà cho Thảo Nguyên.

Đến này thứ hai dân Pháp làm việc, nhưng thật không dễ dàng để thuê một căn phòng như chúng tôi tưởng lúc còn ở Mỹ. Bố con lại lê chân khắp thị trấn nộp đơn hết chỗ này sang chỗ nọ nhưng ai cũng bảo chờ. Trước khi đi tôi đã gọi hai thằng bạn đang ở Pháp là Phạm cô Giao và Nguyễn hiền Trung để nó cố vấn cho một số vấn đề, Trung đã cảnh báo cho tôi biết những khó khăn sẽ gặp nhưng tôi nghĩ nó chỉ cho tôi ớn chơi nên không care lắm. Bây giờ mới biết có tiền chưa chắc làm gì cũng được.

Thuê một căn phòng, người đi mướn phải trả tiền cho nhân viên địa ốc. Khác hẳn với Mỹ là người chủ nhà  phải trả. Lại nữa nếu không có người bảo đảm thì phải đóng luôn số tiền trong thời gian mình ở mà không được trả lại nếu nửa chừng mình bị cho thôi việc hoặc có bất cứ lý do hợp lệ nào khác. Giá cả cũng không rẻ gì. Một căn phòng chiều ngang ba thước, dài khoảng 7 thước, chỉ đủ kê một chiếc giường giá là 585 Euro/tháng. Đây là giá tại tỉnh Annemase chứ ở Paris chắc đắt gấp hai.

Tôi đành cầu cứu hai thằng bạn nhờ nó bảo đảm cho dù rằng hôm mới tới khi gọi thăm hai đứa có nói cần gì cứ gọi tao, tôi đã hùng hồn tuyên bố rằng an tâm đi tao sẽ lo được. Tội nghiệp nhất là chị Trung cứ bắt thằng bạn tôi lái xe từ Lyon lên Annemase để chở hai bố con ông ấy về đây, khi nào thuê được nhà hãy về làm việc. Tôi cảm ơn nhưng không muốn về Lyon vì thấy mình còn lo được. Chỉ hứa với chúng nó rằng khi nào xong công chuyện sẽ có một ngày mò tới thăm chúng nó.

Ngay trong những lúc gay go nhất thì lại thấy ánh sáng nơi cuối đường hầm. Sau cả tiếng đồng hồ điện thoại lui tới Thảo Nguyên cho biết: Sở giáo dục mà cháu   làm việc sẽ can thiệp với sở xã hội ở đây để cháu có thể thuê được một căn phòng rộng rãi với giá phải chăng. Tốt hơn nữa là cháu sẽ được trợ cấp thêm để trả một nửa tiền nhà từ tháng thứ hai trở đi nhưng phải đợi gần một tuần sau mới có nhà vì người ta phải chuẩn bị để làm sách sẽ và sơn phết lại. Đây cũng là một điều may mắn vì ngày mai, thứ tư cháu Thảo Nguyên phải đi về  tỉnh  Grenoble để training công việc trong ba ngày. Sau đó cháu sẽ gặp bạn bè từ Mỹ sang ở thêm vài ngày nữa.

Còn tôi, hy vọng thuê được chỗ ở làm tôi cũng vui lên. Lại một điều may nữa là cũng vào dịp này có một số người ở Paris tổ chức buổi họp mặt Thu Hội Ngộ ngay tai kinh thành ánh sáng  Paris cho mấy ông bà văn, thi sĩ từ Mỹ sang. Tôi có nguời bạn cũng là dân viết lách được mời trong buổi hội ngộ này, rủ rê tôi phiêu lưu lên Paris cho biết. Người bạn quảng cáo rằng ban tổ chức ta sẽ thuê dùm khách sạn và nhất là có người dẫn phái đoàn đi thăm vòng quanh khắp Paris xinh đẹp. Nếu tôi muốn đi . thì  bạn tôi sẽ giữ chỗ cho, nhưng phải đóng tiền khách sạn trước để được giá phải chăng. Tôi nghe bùi tai nên  bằng lòng ngay không một chút đắn đo.

Sau đó nghĩ lại tôi rất phân vân vì biết rất nhiều khó khăn. Làm sao tôi phiêu lưu lên Paris một mình mà không có cô con gái làm thông dịch cho. Tiếng Pháp thì không rành, đi xe  hay tàu từ Annemasse lên Paris phải đổi bao nhiêu chặng đường mà vốn liếng thì chỉ có một cái địa chỉ khách sạn cộng với một số phone, với lời hứa hẹn là tới ga sẽ có người ra đón. Để cho chắc ăn tôi gọi người đón trước làm quen xem anh ta sẽ đón tôi ở chỗ nào, tôi nên đi đứng ra làm sao. Lấy phone tay ra gọi, đầu dây bên kia reng mãi mới có tiếng người đàn bà trả lời. Tôi hỏi tên người sẽ đón tôi nhưng bà ta nói liền một tràng tiếng Pháp tôi chẳng hiểu gì. Tôi lỳ mặt nhắc lại một lần nữa bằng tiếng Anh, lại một tràng tiếng Pháp nữa xổ ra. Tôi nản quá đành cúp máy  định rằng gọi về Mỹ nói với người bạn tôi không đi nữa.

Xui cho tôi khi gọi về Mỹ thì người bạn tôi đã ra tới phi trường để bay sang Pháp. Như thế là bạn tôi sẽ cứ đinh ninh rằng tôi sẽ có mặt ở Paris vì đã đóng trước tiền khách sạn cho tôi. Đi hay ở bây giờ với tôi là câu hỏi lớn. Suy nghĩ mãi thêm nhức cả đầu, hôm sau tôi quyết định cứ liều đi, tới đâu thì tới. Ngày xưa người ta có câu ông vua cũng thua thằng liều. Không liều lĩnh sao làm được việc. Đơi tôi cũng đã nhiều lần liều lĩnh. Cũng lắm lần may mắn với cái liều của mình mà làm được chuyện. Vả lại đi chơi chứ làm vương tướng gì. Có lạc mới có khôn.

Nhưng còn một chuyện khó khăn nữa là làm sao gửi được bốn cái vali to mà hai bố con tôi khiêng từ Dallas qua đây. Tôi vì cái tật hà tiện nên bắt con mang theo đủ thứ để đỡ phải mua. Chẳng lẽ giữ phòng khách sân mỗi ngày 75 Euro chỉ để bốn cái vali thì đau quá. Mà gửi  ai bây giờ đây. Sẵn khi Giao gọi thăm tôi than thở, nó lại bảo mày lên Paris làm cái giống gì ở trển. Nhà cửa không lo mà lo đi chơi. Lại một màn phân trần tả oán, Giao nghe xong bảo tôi là nhà ga có chỗ cho gửi đồ. Hai bố con chạy lên hỏi ngay nhưng ngưòi ta không nhận. Tôi nản quá đâm cáu kỉnh quyết định không đi nữa, ở lại khách sạn một mình.

Thảo Nguyên rất muốn tôi đi Paris trong thời gian cháu training ở Grenoble nên gọi diện thoại  cho mấy người bạn tới trước để gửi bốn cái va-li. May mắn có một đứa nhận lời, càng may mắn hơn là nhà của người bạn Thảo nguyên lại cùng trên đường tơí ga Annemase. Như thế thì tiện cả đôi bề.

Hai bố con  hì hục kéo bốn cái vali to tới nhà cô bạn rồi vui vẻ ra  nhà ga Annemasse mua ba tấm vé. Một cho Thảo nguyên đi Grenoble, hai cho tôi đi Paris vì tôi phải đổi xe ở tỉnh Bellgarde. Cháu còn cẩn thận viết những câu tiếng Pháp thông dụng để cho tôi vừa đi vừa học. Tôi vác balô lên xe trong lòng rộn rã vì sắp được đi xuyên nước Pháp, không một chút gì lo lắng nữa. Đi chơi  chứ có đi hành quân như ngày xưa đâu mà sợ. Tôi lên tàu, chọn một chỗ ngồi bên cửa sổ để được nhìn cảnh vật miền quê nước Pháp rõ ràng hơn.

Tàu lửa chạy nhanh và êm ái như ngồi trên máy bay và cảnh vật miền quê xanh tươi quá. Tôi được nghe mấy thằng bạn dọa rằng sang Pháp, thăm Paris chỉ đạp nhằm cứt chó chứ chẳng có gì. Chưa tới Paris tôi chưa dám nói. Nhưng miền quê nưóc Pháp quả đẹp và gọn gàng hơn hẳn quê hương tôi.

 

                    Một làng quê miền trung nước Pháp

Những mái nhà cổ kính nấp sau lùm cây đủ các màu hoa. Những lâu đài ẩn hiện trên những ngọn đồi hay sau vách đá cheo leo. Pháp là xứ sở của những lâu đài nổi tiếng mà tình cơ tôi đã được đi thăm sau này.

 Dọc theo đường xe lửa là những cánh đồng xanh bát ngát.  Tuy không thể sánh vơí  ruộng đồng của Mỹ nhưng màu xanh ở đây cũng đủ bao la để tầm mắt tôi mất hút. Những con sông xanh lơ  quanh co uốn khúc gợi tình. Tôi chợt khám phá ra  con sông nào của nưóc Pháp mà tôi đi qua hôm nay nước cũng  trong xanh quá. Thảo nào làm cho cô gái Pháp nồng nàn hơn trong tình yêu. Bao nhiêu thiên tình sử mà ngày xưa  tôi mê say, theo tháng năm đã rơi rụng hết thì nay lại lần luợt trở về.

  

                                    Mùa thu trên một con đường quê nước Pháp.

Mải ngắm cảnh say sưa, chút nữa tôi quên mất phải xuống ở ga Bellgarde nếu không có anh chàng ngồi bên nhắc nhở. Tôi cũng nghiệm ra rằng nếu tôi hỏi bằng tiếng Anh thì ai cũng vui vẻ trả lời dù họ chỉ biết chút ít, không như nghe người ta đồn rằng dân Pháp rất kỳ thị, dù biết tiếng Anh cũng không muốn nói chuyện với mình . Sở dĩ anh chàng bên cạnh nhắc tôi là vì khi lên xe, tôi đã làm quen, hỏi thăm và nhờ anh nhắc khi nào đến Bellgarde.Anh ta không biết nói nhiều nhưng cũng hiểu, rất vui vẻ bằng lòng. 

 

                Một dãy phố miền quê nước Pháp

Dân Pháp, dân Âu châu nói chung hút thuốc lá rất nhiều. Nhất là con gái cô nào cũng cặp điếu thuốc trên tay phun khói liên tục. Họ hút bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào. Quán ăn ngoài trời, trong nhà, trên ga trên tàu xe lửa tôi không thấy bẳng cấm hút thuốc bao giờ. Thảo nào dân Việt sang đay chuyên nghề bán thuốc lá cũng giàu to. Nhìn họ hút mình đâm thèm lây. Ngặt một điều cô con gái tôi kiểm soát  dữ quá tôi đành nhượng bộ. Bây giờ đi có một mình  tôi liền kiếm ngay một gói Pallmall thủ sẵn trong túi ở ga Bellgarde.

Mua thuốc xong tôi vào trong ga hỏi đường đi Paris. Tôi cứ tiếng Anh nói đại và nhân viên xe lửa cũng cứ tiếng Anh mà trả lời. Gặp người gỉỏi thi lẹ làng mau chóng, gặp người biết chút chút thi lâu thêm một chút , đôi khi cũng phải dùng tay quơ đại. Sign language vốn là ngôn ngữ đầu tiên của loài người.

Tôi theo sau một chị Pháp vừa đi vừa hút thuốc. Quen nhau vì chị xin lửa của tôi. Chiếc hộp quẹt mới mua đã giúp ngay được chủ. Quen để hỏi thăm đường thôi chứ trông chị cũng khá chán. Được cái là chị vui vẻ nói chuyện huyên thuyên bằng tiếng Anh rành rọt hơn cả dân Mỹ là tôi đây. Ngày xưa chị đã ở New York, gặp tôi, có con gái học ở New York lên thăm được vài lần nên nói phét rằng mình cũng là dân New York, thành thử hai người đứng chờ tàu nói không hết chuyện. Tàu Paris đến, thiên hạ đua nhau ùa lên. Tôi dành được hai chỗ ngồi, để cái ba lô lên định bụng rằng để dành chỗ cho chị nhưng liếc dọc liếc ngang chẳng thấy chị đâu. Mới nói chuyện vui vẻ đó bây giờ biến mât tiêu. Tôi chẳng tiếc nữa vì còn lâu mới đến Paris. Trong vé đã ghi rõ ràng, tàu sẽ đến ga Lyon đèn vàng  của ông Cung trầm Tưởng. Ga này là một trong những ga chính của Paris mang tên Lyon. Nó đã  nằm trong dòng nhạc trữ tình miền Nam ( mà ây giờ mấy anh Việt Cộng hát ké) mấy mươi năm rồi. Đừng lầm với nhà ga ở tỉnh Lyon mà hai ông bạn tôi trú ngụ. Ít nhất là ba tiếng nữa mới tới Paris. Tôi có quyền thiếp đi một chút vì cả đêm qua lo lắng quá không ngủ được.


Ngày đầu tiên ở Paris.

Chợp mắt được mười lăm phút tôi tỉnh dậy ngay. Đi du lịch thì phải nhìn , phải thưởng thức chứ không thì thật là phí phạm tiền bạc với thời gian, tôi tự nhủ lòng như vậy nên ráng thức dậy để nhìn ngắm hai bên đường.

Xe lửa chạy êm ái quá. Tôi nhớ khi còn ở ga Annemasse một người thanh niên Pháp khi biết tôi đi xe lửa lần đầu bảo rằng  ông ngồi trên xe sẽ có cảm giác như ngồi trên phi cơ phản lực quả không sai. Tôi chăm chú nhìn sang hai bên đường thấy quang cảnh thật sạch sẽ và gọn gàng như trong những bức tranh. Xe đi xuyên qua những rừng cây thấp rồi chạy song song theo một con song nhỏ.

        Nước ở đây xanh lơ, xanh hệt như màu mắt cô con gái Pháp. Màu xanh của nước, màu xanh của cỏ cây, màu vàng đất của đồng lúa đã gặt xong điểm lơ thơ những căn nhà bên rừng lá hay dưới sườn đồi thật đúng là một cảnh đồng quê mà tôi hằng mơ ước.

        Tâm hồn tôi như hòa vào cảnh vật nên thời gian đi nhanh. Xe tiến vào ngoại thành Paris và  không còn bao lâu nữa sẽ dừng lại  ga Lyon, tôi sẽ không sợ lạc vì đó là ca cuối. Tôi lấy phone ra để gọi người đón mình nhưng cũng như khi ở Annemasse, một tràng tiếng Pháp  đã xổ ra khi tôi chưa kịp nói gì. Tôi buồn rầu tắt phone đi và hỏi thăm người thanh niên ngồi bên cạnh đường đến khách sạn nằm trong quận 13 là quận có đông cơ sở thương mại của người Việt Nam.


Hình ảnh nông thôn nước Pháp chụp từ khung cửa xe lửa tốc hành.

        Tôi lo lắng khi anh chàng này cứ ngớ ra khi tôi nói tiếng Anh. Hay tại giọng nói của mình hay  quá nên anh ta không hiểu. Tôi cố gắng  nói một lần nữa, bắt chước giọng Mỹ mà anh ta cứ lắc đầu quầy quậy. Thôi chết tôi rồi. Hỏi thăm ai bây giờ.

        Đang bối rối nhìn quanh, chẳng kịp lấy hành lý thì một người thanh niên khác, ăn mặc khá lịch sự đến gần bên tôi và hỏi bằng tiếng Anh.

        Ông cần tôi giúp gì không?

Tôi mừng quá gật đầu mấy lần, miệng nói please liên tục. Rồi tôi đưa địa chỉ cho anh ta coi. Coi xong người thanh niên gật đầu làm cho tôi yên tâm hơn.

        Trước hết anh bảo tôi đi theo anh ta xuống xe và cẩn thận với chiếc ví của mình vì rất dễ bị móc túi ở một chỗ đông người. Tôi đeo chiếc backpack laptop trên vai rồi kéo theo va li đựng quần áo, sờ lại túi quần rồi bước xuống. Trời ơi tôi không thể tưởng được ga Lyon đông người đến cỡ này. Người ta phải chen sát vai nhau mà bước. Cũng may là anh thanh niên Pháp  nhanh nhẹn đi lên phiá trước rồi đứng lại chờ tôi. Chúng tôi đi xuống hai tầng lầu thì đến cửa ga đối diện con đường có đầy xe bus. Anh ta bảo tôi.

        -Ở đây là bến xe bus. Ông có thể chỉ ông đi xe bus để ngắm cảnh Paris nhưng dễ bị lạc lắm, vì phải đổi xe. Tốt hơn hết ông nên đi subway, dễ dàng hơn.

        Tôi chỉ biết gật đầu đồng ý. Hai người lại xuống một tầng hầm nữa, đây là  trạm subway của ga Lyon. Người thanh niên dẫn tôi đến một bản đồ lớn chằng chịt những đường xe với màu sắc khác nhau rồi chỉ lên bản đồ bảo tôi.

-Chúng ta đang ở đây, nơi ông đến là chỗ này. Trước hết ông phải lấy xe  số 14 theo chiều hướng về Olympiates. Tới trạm đầu tiên là Bercy ông xuống, đổi qua xe số 6 hướng về Charles De Gaulle E’toile và xuống ở Place D’Italie. Đây là ngã năm, từ đó ông sẽ kiếm ra đường Choisy. Khách sạn Le Barron ở đó.

Ở Dallas chưa có Subway, nhưng tôi lên New York mấy lần và thường dùng subway di chuyển nên không bỡ ngỡ lắm, vả lại người thanh niên này chỉ quá rõ ràng. Anh ta còn tặng tôi một vé xe để tôi khỏi phải xếp hàng mua ở quầy. Tôi cố gắng trả lại tiền nhưng anh nhất định không nhận nên tôi đành chỉ biết cảm ơn.

Mười lăm phút sau bước ra khỏi đường hầm đặt chân lên Place D’Italie, tôi đã nhìn ra đường Choisy  và thong thả ngồi xuống một chiếc ghế ven bùng binh ( Round point) và lấy thuốc lá ra tự thưởng cho mình một điếu. Bây giờ tôi mới  bình tâm để sung sướng nghĩ rằng mình đang đứng trong  lòng Paris, thủ đô của ánh sáng, của những mối tình lãng mạng vào bậc nhất trên đời mà suốt một thời đi học tôi từng mơ ưóc được đặt chân đến nơi này.

Hoàng hôn đang xuống nhưng trời chưa tối hẳn. Tôi đi dưới tàn cây hai bên đường, lẫn vào những khách bộ hành, tự nhiên như một Parisien, nhưng phải khá lâu mới tìm thấy khách sạn Le Barron. Sau này khi đã quen đường tôi mới nghiệm ra rằng nếu mình xuống Place de Choisy thì không phải đi bộ xa như thế.

 

Đây cà phê của người Paris, xin mời các bạn

Đến nơi, người bạn  mừng quá và trách rằng tôi không mở phone để người ta phải lo lắng, tưởng đâu tôi đã lạc rồi. Khi biết rằng tôi một thân một mình dẫn xác tới đây người bạn càng không tin hơn nữa. Xách vali lên tôi được biết mình ở chung phòng với một ông nhà văn có bút hiệu, nói theo kiểu Việt Cộng bây giờ là khá  ấn tượng. Tên ông ta  là Duy An Đông, tác giả cuốn tiểu thuyết Đời cô Thủy. Chẳng biết Đời cô Thủy có chị em gì với Đời cô Lựu mà cô đào thoại kịch Kim Cuơng thường diễn hay không. Ông này là nhà văn từ Mỹ qua chính thức tham dự đại hội Thu tao ngộ, nhằm giới thiệu các văn thi sĩ Việt Nam ở Hoa Kỳ và ra mắt độc giả Paris một cuốn sách có tựa đề: Món ăn theo bước chân di tản, do các văn nghệ sĩ này viết chung .

Vốn là dân nhà binh, tôi dùng chiến thuật du kích, dấu mình trước một biển người đẹp mà lại tài hoa, bằng cách dặn đi dặn lại người bạn rằng đừng nói cho họ biết về tôi, nhất là đừng khoe tôi là tác giả cái cuốn sách mà ai đứng đắn đàng hoàng, thấy nhan đề cũng bĩu môi khinh bỉ. Đừng để cho địch biết ta dễ quậy hơn. Tôi định bụng rằng cứ gặp bà nào cô nào là khen  rối rít về những cuốn sách của họ là ăn chắc. Nịnh đầm vốn là nghề của mấy ông sinh viên sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị. Bài học của bà Alice Kiều Oanh dạy năm xưa  mà bây giờ không đem ra áp dụng thì còn đợi đến bao giờ.

Sau khi tắm rửa xong, chúng tôi cùng nhau ra đường xuống đường ra phố. Đêm xuống  ở quận 13 thành phố Paris nồng nàn, quyến rũ lạ thường. Tôi hân hạnh được gặp và đi chung với các nhà văn, thơ nữ từ Hoa kỳ sang như các chị Ngọc Dung ở VA, Mặc Giao, Ngoc An ở CA. Lưu Hồng Phúc ở Dallas, Chu kim Oanh ở Arizona và một lô các nàng Thu như Phong Thu ở VA, Tiểu Thu ở Canada và Mây Thu ở Paris. Phía đàn ông chỉ có tôi, nhà văn  Duy an Đông và anh Đoàn phú Lập, phu quân của nhà báo Chu kim Oanh. Người hướng dẫn đêm nay  là Thi Như, cựu tiếp viên hàng không Việt Nam đã ở Paris ba mươi lăm năm rồi.


Chị Thi Như hướng dẫn phái đoàn đi  rong chơi Paris ban đêm

        Trời đêm se lạnh, hương đêm ngọt ngào như mật ong. Chúng tôi mười mấy người vừa bước đi vừa cười nói vui đùa.

Đặc điểm ở Paris là có những nhà vệ sinh  cong cong hình bầu dục ở bên lề đường.  Người nào muốn đi phải bỏ tiền vào máy cửa mới mở ra được. Nhưng cũng có  đôi khi máy bị hỏng, bỏ tiền vào mất luôn mà việc cần giải quyết vẫn còn nguyên trong bụng. Chúng tôi giăng hàng ngang chụp hình làm cho mấy người du khách khác thấy lạ. Họ tưởng chúng tôi không biết đó là restroom.

Thấy quán hàng nào chúng tôi cũng dừng lại.Vào trong những quán nhỏ mua hàng, các chị vừa trả giá vừa chọc ghẹo chủ quán. Đám chúng tôi có muời mấy bà hiệp lực lại chẳng sợ một ai. Tôi lấy máy hình ra chụp mái tóc đuôi gà của Thi Như. Chụp lén thôi, không ngờ mấy chị khác la lên tố cáo. Tôi tái mặt tưởng đâu phen này là chết chắc, nhưng Thy  Như đã không giận mà còn nghiêng mình  làm duyên cho chụp thêm một tấm nữa. Oh my God.

Chúng tôi đi qua các dãy phố đêm rộn ràng đầy người qua lại. Các quán bên đường dường như mới bắt đầu sinh hoạt. Người ta ngồi lan ra khắp các con đường hẻm. Tôi không biết đây là khu nào. Nhà cửa san sát, những con đường chật hẹp lót bằng gạch đá càng đi càng lên cao. Tuy thế cả khu phố đêm bừng bừng sức sống.

 

Paris, các khu phố ban đêm bừng lên sức sống

Đến một quán nhạc người ta hát hò , bắc ghế ngồi chật cả góc đường. Một người nghệ sĩ cầm Tây ban Cầm hát một bản tình ca bằng tiếng Pháp. Tôi đoán là tình ca vì nghe êm dịu và tha thiết chứ có hiểu gì đâu. Gặp đoàn  chúng tôi người nghệ sĩ đưa tay chào đón. Thi Như nói nhỏ với anh ta  vài lời.  Anh ta im lặng dạo lại tiếng đàn rồi bắt đầu hát bản Việt Nam, Việt Nam của Phạm Duy. Chúng tôi cùng vỗ tay và vui vẻ hát theo. Những người trong quán cũng vỗ tay. Không khí  sống đông hẳn lên. Mấy chị ôm nhau cùng nhảy. Ô. tôi không ngờ ban đêm Paris vui nhộn đến thế này.

Hát xong ai có tiền thì cho người nghệ sĩ  vì anh ta hát để kiếm sống hàng ngày.

Chúng tôi cứ nối tiếp di chuyển từ gian hàng này đến gian hàng khác. Múa hát, rươu bia và thuốc lá không thể thiếu trong những quán ven đường phố nhỏ Paris.


Mọi người cùng vỗ tay, nhảy múa và hát bài Việt Nam, Việt Nam

Đến gần nửa đêm thì đi đã quá xa.  Thi Như đưa ra ý kiến nên về lại khách sạn bằng xe bus. Ở Paris ai cũng có thẻ đi xe hàng tháng. Riêng chúng tôi không có nên phải mua vé. May mắn, Thi Như lên trước, nói gì đó với người tài xế thế là anh ta gật đầu bằng lòng cho cả bọn lên, khỏi cà thẻ, khỏi mua vé, đỡ phải tốn tiền.

Đêm hôm đó về khách sạn tôi nằm ngủ với mười mấy giấc mơ khác biệt hòan toàn.

Sáng hôm sau dù rất muốn ngủ thêm, chúng tôi cũng phải thức dậy sớm vì huớng dẫn viên đã có mặt ở văn phòng khách sạn, sẵn sàng đưa chúng tôi đi thăm những thắng cảnh nổi tiếng của Paris.

Paris, thủ đô nằm ở phiá bắc của nước Pháp, được xây dựng hai bên bờ sông Seine, ngay hợp lưu của sông Seine và sông Mame. Mật độ dân số vào hàng cao nhất trong các thủ đô của châu Âu. Từ thế kỷ thứ 10 Paris đã là một trong những thành phố chính của Pháp với các cung điện hoàng gia, các tu viện và nhà thờ. Đây cũng là nơi diễn ra cuộc cách mạng nổi tiếng 1789 của Pháp kéo theo các sự kiện lịch sử quan trọng của châu Âu. Paris cũng là một trong những trung tâm văn hóa lớn của thế giới, thủ đô của nghệ thuật và giải trí của mọi người

 
Paris có gì lạ không em. Mai anh về giữa bến sông Seine ( Thơ Nguyên Sa)


Ngừơi Việt ở Pháp khoảng độ 300.000 người. Không thấy có khu phố Việt Nam như ở Mỹ nhưng có rất nhiều tiệm ăn Việt Nam ở khu phố Tàu thuộc quận 13. Có một giáo xứ công giáo ở quận 17 và vài ngôi chùa ở ngoại ô như chùa Khánh Anh và Trúc Lâm Thiền viện.

 Paris có quá nhiều nơi để chúng ta tìm đến nhưng vì giới hạn bởi thời gian chúng tôi chỉ được hướng dẫn đến một số nơi nổi tiếng. Người hướng dẫn nhóm chúng tôi hôm nay là giáo sư Nguyễn ngọc Chân và nơi chúng tôi đến đầu tiên là Khải Hoàn Môn năm trên đại lộ danh tiếng nhất thề giới: Champ Élysées.

Khải Hòan môn là một trong những biểu tượng lịch sử nổi tiếng của nước Pháp nằm trên điểm cuối cùng trên đại lộ Champ Élysées. Kích thước gần như hình vuông với chiều rộng 45 mét và chiều cao 50 mét nằm trên quãng trường có đường kính 240 mét là công trình điêu khắc lớn nhất của Pháp trong thế kỷ 19. Đây là khu vực tập trung đông đảo khách du lich nhất vì đến Paris không thể đi dọc theo đai lộ Champs Élysées.

Khải hoàn môn được hoàng đế Napoléon xây vào năm 1806 sau chiến thắng Austerlitz để vinh danh chiến thắng của quân đội, do kiến trúc sư Jean-Francois-Thérèse thiết kế, nhưng chỉ được hoàn thành vào năm 1836. Ngày nay có bảy con đường họp lại thành quãng trường Étoile

Chúng  tôi mua vé để đi subway. Khoảng 13 Euro cho 10 vé tàu. Cứ mỗi lần xuống và lên khỏ mặt đất là tôn hết một vé. Hướng dẫn viên khỏi lo chuyện này vì ông có vé đi lại cả năm trên bất cứ tuyến đường nào.

Chui ra khỏi đường hầm lên đại lô Champs Élysées. chúng tôi đã thấy một khối lượng lớn du khách  qua lại.



Khải hoàn Môn Paris với rất nhiều người qua lại ngày đêm

Giáo sư Chân dừng lại, giảng giải cho chúng tôi nghe về đời sống diễn ra hàng ngày quanh đây. Nghe thì nhiều song nhớ lại chẳng bao nhiêu vì tôi cứ chú ý đến muôn người qua lại, nhất là các cô gái  Pháp và sinh hoạt nhộn nhịp bên lề đại lộ. Nếu bạn có  tiền bạn có thể mua vé để leo lên hành lang cao tít trên Khải Hòan Môn mà nhìn quanh một vùng Paris rông lớn. Chúng tôi không có nhiều tiền và cũng không có thì giờ để sắp hàng nên chỉ đứng xa nhìn ngắm cái vĩ đại của người xưa rồi cùng nhau đi dọc theo đai lộ Champs Élysées.

Một cô gái nhỏ chùng mười lăm, muời sáu rất xinh , ăn mặc theo kiểu Hồi giáo chận tôi lại và hỏi tôi có biết nói tiếng Anh không. Tôi vui vẻ ưỡn ngực gật đầu thì cô liền đưa cho tôi một tấm giấy bià dầy viết đại khái rằng mẹ cô đang nằm bệnh viện và gia đình cô không có tiền ăn, xin được giúp đỡ. Tôi ngạc nhiên nhưng không ngần ngại móc ra hai Euro đưa cho cô bé. Sau tiếng cảm ơn ngắn ngủi cô lẫn vào đám đông mất hút. Giáo sư Chân đến bảo tôi  là từ nay đừng cho như thế vì sau đó sẽ có nhiều người đến làm phiền mình. Quả nhiên một lúc sau một đám người toàn là bà già và con nít  tơí bao quanh tôi và ông Chân. Thật là một bài học đích đáng cho cái tội thấy con gái là sáng ngay mắt, cái gì cũng gật. Chúng tôi phải nhắm mắt lại bước đi sau nhiều lần nói không liên tục.

Ra khỏi đám đông giáo sư Chân nói thêm là những ngưới ăn mày Hồi giáo được một tổ chức xã hội đen đưa từ các nước theo đạo Hồi nghèo đói tới đây huấn luyện cho họ ăn xin, được bao nhiêu cũng phải nạp cho tổ chức và họ chỉ phát lương đủ sống hàng ngày. Tôi bắt đầu chú ý thấy suốt dọc con đường những người xin ăn với nhiều kiểu cách trình bày khác nhau đầy dẫy  trên con phố. Họ không làm ra vẻ quá bi thảm như ở Việt Nam nhưng số lượng chắc là không kém.

Đại lộ Champs Élysées là đại lộ lớn và nổi tiếng của Paris, nối liền  hai quảng trường ConcordeÉtoile,  nơi quần tụ tất cả các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. với nhiều cửa hàng, quán cà phê và rạp chiếu phim. Hãng xưởng nào, công ty nào cũng có muốn có một mảnh đất cắm dùi ở đây để cho thế giới biết tên nên giá đất đai và sinh hoạt ở đây khỏi phải nói về khoản đắt đỏ. Hai bên đại lộ trồng cây xanh được lát bằng gạch vuông nhỏ, cứ đi một quãng lại có ghế để cho du khách ngồi nghỉ chân. Đây là nơi các người làm ăn lợi dụng để kiếm tiền. Có một người mặc quần áo Ai Cập xa xưa thời các Pharaon cai trị ngòi sẵn. Ai muốn chụp ảnh cũng được, nhưng nhớ rằng sau khi chụp xong phải bỏ tiền vào chiếc  thau gần đó. Không thiếu những nghệ sĩ vỉa hè đờn ca hát xướng giúp vui nhưng cũng đừng quên những chiếc thau chờ tiền đặt ngay bên cạnh.

 

Bạn muốn ngồi bên cạnh chụp hình cứ tự nhiên, nhưng nhớ đừng quên bỏ tiền vào chiếc  giỏ mây này

Chúng tôi đi qua những gian hàng lừng danh, những toà nhà cổ kính  mà tôi không còn nhớ là nhà hát hay toà quốc hội Pháp và hướng đến công trường  Concorde.

Quảng trường Concorde là nơi nổi tiếng nhất của Paris, nằm ở đầu phía đông đại lộ Champs Élysées, ngay bên bờ sông Seine. được khởi công xây dựng năn 1748 đặt một bức tượng của vua Louis 14 cưỡi ngựa, để chào mừng nhà vua hồi phục sau cơn bạo bệnh. Đầu tiên quảng trường được gọi là Quảng trường Louis 14. Quảng trường  có hình bát giác.


Quảng trường Concorde, nơi hành hình vua Louis 16 và hoàng hậu Marie Antoinette sau cách mạng 1789.

 Nơi đây đã xẩy ra biết bao nhiêu chuyện bi thảm. Đầu tiên là 133 người chết ngạt do cuộc bắn pháo bông mừng đám cưới hoàng tử Louis 16 và công chú Marie Antoinette. Khi cuộc cách mạng 1789 bùng nổ máy chém. đã được đặt tại nơi đây và đôi tình  nhân vương giả này đã chấm dứt cuộc đời trên máy chém. Đây là địa điểm đẫm máu nhất trong lich sử cách mạng Pháp. Có tất cả 1119 người bị xử tử   tại quảng trường này trong cuộc cách mạng. Khi ấy tượng vua Louis 14 bị kéo xuống và người ta lại đặt tên là Quảng trường Cách mạng. Năm 1826, vương quyền trở lại trên chính trường, quảng trường lại đổi tên thành Quảng trường Louis 16, cuối cùng năm 1830  lại một lần nữa đổi tên thành quảng trường Concorde cho đến ngày nay.

Nhìn từ xa tôi thấy một cột đá giống như cây tháp bút ở Wasington DC nhưng nhỏ hơn. Giáo sư Chân bảo rằng cây tháp đó là nguyên một cột đá chứ không phải là ngọn tháp được lắp ghép bằng nhiều tảng đá chồng chất lên nhau.

Cột đá đó có tên là Obélisque là một trong hai chiếc cột đá của đền Luxor Ai Cập mà phó vương Mahammad Ali tặng cho Dân Pháp năm 1831. Cột có 3300 năm tuổi, chiều cao 22.86 mét nặng 227 tấn được tạc nguyên từ khội đá syenite hồng. Bốn mặt tháp được tạc những hình tương thể hiện sự vinh quang của  pharaon Ramesses Ai Cập. Cột được đặt trên một bệ đài cao 9 mét và chóp mạ vàng trên đỉnh có chiều cao 3.5 mét.



Đại lộ Champs Élysées với hai hàng cây xanh, cuối cùng là ngọn tháp của quảng trường Concorde

Chúng tôi tới gần cột đá để chứng kiến tận mắt một vùng đất trải qua bao nhiêu bi hùng trong lich sử Pháp. Có hai đài phun nưóc tại quảng trường. Đài phiá bắc mang tên: Đài phun nước của các giòng sông tượng trưng cho  hai con sông lớn RhinRhône. (La fontaine des fleuves) . Đài thứ hai nằm ở phía nam mang tên : Đài phun nước của các đại dương ( La fontaine des Mers) tượng trưng cho biển Địa Trung Hải và Đại Tây dương.



Cột đá của quảng trường Concorde và đài phun nước phía bắc

        Cả đoàn người thi nhau chụp ảnh, tôi muốn nhân đây ghi lại hình ảnh của mình trên một vùng đất có lắm oan khiên.

Chiều dần xuống. Gió vi vu thổi, lạnh lùng đâu đây như tiếng của  những oan hồn xưa cũ. Bao nhiêu triều đại hưng phế qua rồi. Từ vương triều xa hoa lộng lẫy đến Cách Mạng sắt máu bạo tàn để đến hôm nay nền Cộng Hòa  mang lại cho người dân Pháp tự do dân chủ. Tôi nhớ đến quê hương Việt Nam xưa cũng có nền Cộng Hòa non trẻ, chưa lớn đã bị người ta  bóp nghẹt để con dân trong cuộc sống lưu vong, lang thang  khắp năm châu bốn biển. Đi và nghĩ chỉ thấy những nỗi buồn.



Đài phun nước phía nam

Quảng trường Concorde là địa điểm mọi người dừng chân lâu nhất. Ai cũng muốn thu lại hình ảnh mảnh đất mà một thời xưa khi còn đi học đã mường tượng ra biết bao nhiêu biến cố. Tôi nhìn quanh. Nơi nào ngày xưa  người ta đã lê máy chém. Nơi nào nàng công chúa  yêu kiều Marie Antoinette gục xuống để chịu khổ hình. Thời gian  đã xóa đi tất cả để hôm nay quãng trường Concorde là niềm tự hòa của người dân Pháp. Họ đã cho chúng ta một bài học: Hoa tự do phải tưới bằng máu mới  trường tồn.


Cột đá Obélisque của phó vương  Muhammad Ali tặng cho nước Pháp năm 1831

Rời Concorde, chúng tôi lại tiếp tục đi tới một nhà thờ cũ xây từ thế kỷ 14 có tên là  Saint Germain des Pres. Vào trong nhà thờ nhìn những bức tranh đã trải qua hằng bao thế kỷ nhưng màu sắc vẫn còn tươi rói như mới vẽ hôm qua mới thầm phục cái bí quyết gìn giữ màu sắc của người xưa.



Nhà thờ Saint Germain des Pres được  xây từ thế kỷ 14

Đi bộ như thế, đến giờ này ai cũng đói lắm rồi. Chúng tôi mời giáo sư Chân và chị Mây Thu vào một quán ăn. Cả bọn đồng ý vơí nhau  là trả tiền theo lối Mỹ, nghiã là chia đều cho tất cả trừ  hai hướng dẫn viên.

Lần đầu tiên tôi bước vào một quán ăn sang trọng ở trên một đại lộ danh tiếng của Paris. Giáo sư Chân và chị Mây Thu hướng dẫn chúng tôi gọi thực đơn bằng tiếng Pháp nhưng điều này xem ra hơi thừa. Du khách vào quán ăn nào cứ việc nói tiếng Anh vì tất cả  nhân viên trong nhà hàng đều biết.

Bữa ăn ở Pháp thật cầu kỳ. Người ta dọn ra rượu khai vị để thực khách uống cho mau đói rồi mới dọn thực đơn sau. Muỗng niã lỉnh kỉnh mà đồ ăn thì khiêm nhường vì chúng tôi sợ tốn tiền không dám kêu nhiều thứ. Tôi ăn mà không thấy ngon lành gì, có lẽ vì tôi chọn thức ăn rẻ nhất. Ăn uống xong , tính ra chia đều, mọi người đều  phải trả 55 Euro, tương đương với khoảng chừng tám mươi đô la Mỹ. Nghỉ ngơi một chút chúng tôi lại tiếp tục đi.

Sông Seine và nhà thờ Notre Dame

 Rời quảng trường Concord, chúng tôi đi  băng ngang qua đường Voie Georges Pompidou là  đã thấy sông Seine. Cầu bắc qua sông ở đoạn này mang tên Pont  de la Concorde. Tôi bước mau qua bên kia đường  đứng tựa vào thành cầu để nhìn xuống giòng sông.

            Sông Seine lừng danh của Paris đã đi vào văn học của miền Nam nước Việt xưa với những giòng thơ lời nhạc bất hủ  của Nguyên Sa , Phạm trọng Cầu mà  thanh niên thời ấy mấy ai là không biết.

 

            Paris có gì lạ không em.

 

Mai anh về giữa bến sông Seine.

 

(thơ Nguyên Sa).

Cả đoàn người dừng lại để thi nhau chụp ảnh. Tôi cũng cố bon chen nhờ Lưu hồng Phúc chụp giùm cho một tấm. Thật vậy, bao nhiêu năm rồi , thời còn đi học tôi vẫn thường ao ước dược nhìn thấy sông Seine một lần nhưng vì nhà nghèo và học dốt nên tôi biết đó chỉ là ước mơ. Ba bốn mươi năm cuộc đời dâu bể để đến hôm nay giấc mơ xưa đã thành sự thực.

 

 


Sông Seine nhìn về hướng tây nam với tháp Eiffel từ đằng xa

Nước sông , dù nằm trong  thành phố, chứa bao nhiêu chất thải vẫn còn trong xanh lắm. Những con tàu chở hàng ngược xuôi. Những du thuyền chở khách du lịch lại qua rộn rã. Hai bên bờ sông cây lá và màu sắc thật tươi đẹp quá, ngay nơi đây, trong tầm mắt , tôi thấy chỗ nào cũng gọn gàng xinh xắn. Tôi nghĩ rằng sông Seine đã cho Paris những nét đẹp, phong cảnh hữu tình để người con gái Pháp thêm duyên dáng và tâm hồn thêm lãng mãn với tình yêu.

Sông Seine của nước Pháp dài chừng 776 km, thượng nguồn ở Saint Germent cao nguyên Langres thuộc Cote d’ Or và đổ ra biển ở vùng Le Havre.

Chảy qua Paris sông để lại cho thành phố nhiều cù lao xinh đẹp  và chính tại một trong những cù lao này  nhà thờ nổi tiếng của nước Pháp: Cathrédrale Notre Dame được dựng nên.

Có ba mươi bảy cây cầu được bắc qua sông Seine trong thành phố Paris. Hôm nay trời mát dịu nên người đi ngược xuôi như trẩy hội. Các bến trạm, tàu thuyền khắp hai bên bờ sông phục vụ du khách đi trong lòng sông Seine  nhìn thấy một Paris yêu kiều quyến rũ, tháp Eiffel hùng vĩ và nhà thờ Notre Dame cổ kính hơn lên.

Bạn chỉ cần có tiền thôi. Nào mời bạn lên tàu. Giá cũng chẳng đắt là bao.



 

    Một bến tàu đón khách du lịch đi quanh sông Seine

 


Nhưng tiếc thay, sông Seine không phải là điểm chính để chúng tôi thăm viếng thành thử chỉ khỏang hai mươi phút sau chúng tôi được hướng dẫn tới một trạm metro ở ven đường để đi đến nhà thờ Notre Dame, Paris.

 

Thời còn đi học ít ai mà không nghe nói về nhà thờ này với thiên trường thiên tiểu thuyết lừng danh của Victor Hugor : Thằng gù ở nhà thờ ĐứcBà.

Sau này khi coi lại bản đồ , tôi mới biết rằng cứ đi con đường Georges Pompidou theo bờ sông về hướng đông nam, thì cũng tới nhà thờ. Đi như thế chúng tôi có nhiều thời gian để nhìn ngắm giòng sông, nhưng bây giờ đi chung cả toán nên  chúng tôi chỉ biết theo sự chỉ dẫn của hướng dẫn viên. Tuy vậy, tôi cũng chụp vội dược một tấm hình có tháp Eifeel nhìn từ xa.



 

  Tháp Eiffel cũng gần bờ sông Seine

Từ trạm xe subway trồi lên mặt đất chúng tôi lại thấy sông Seine và cầu Pont de Notre Dame. Các bà lại thi nhau chụp ảnh. Chúng tôi đã bước vào khỏang sân rộng lát đá trước nhà thờ. Chị Chu kim Oanh mau mắn ngồi xuống nghỉ mệt trên một ghế đá, đưa tay vẫy ông chồng  đang lê bước đằng xa. Anh Lâp mấy hôm nay xưng chân nên tôi thường đi chậm lại để nói chuyện với anh. Khi cả hai tới nơi chị Oanh đưa đùi ra bảo anh Lập ngồi xuống đùi mình. Chị Oanh thường hay đùa vui như thế. Khi thấy anh Lập quay đi chị nạt anh : Có ngồi xuống hay để tôi cho người khác ngồi bây giờ. Cả bọn thi nhau cười, tôi bảo anh Lập: Anh không ngồi thì nhường cho tôi nhé .

Chúng tôi tình cờ quen nhau trong chuyến đi chung, nhưng tính anh chị Chu kim Oanh , Đoàn phú Lập rất cởi mở vui nhộn nên chúng tôi dễ dàng thân nhau. Sau này nói chuyện ra mới biết tôi và chị Oanh cùng học chung một trường, một thày ở Đà Nẵng mấy mươi năm trước.

Khi qua khỏi cây cầu tôi  đã cố ý nhìn quanh tìm kiếm một đỉnh cao vút với lầu chuông và thánh giá nhưng chẳng thấy, dù rằng giáo sư Chân chỉ về hướng  phiá trước nói rằng  nhà thờ Đức Bà kia kìa. Mãi cho đến khi tới gần khoảng sân lát bằng đá, tôi mới biết ngôi nhà thờ với hai ngọn tháp song song cao vượt lên không.


 

     Nhà thờ Đức Bà ( Notre Dame de Paris)  Nhìn từ bờ sông Seine

Thú thực tôi hơi thất vọng vì trong tâm trí tôi, nhà thờ Đức Bà có thằng Gù đi vào văn học sử của thế giới chắc phải uy nghi cao lớn lắm. Tôi không dám nói hai ngọn tháp kia không đủ cao. Nhưng chính vì chúng đứng song song, mà trên mái lại vuông vức, làm tôi cảm thấy như thiếu hẳn một cái gì như những nhà thờ khác. Trong giây phút nhìn thấy đầu tiên này, tôi có cảm tưởng đây là một lâu đài cổ kính hơn là nhà thờ nổi tiếng. Tôi, tuy không khỏi thán phục khỏang sân lát đá rộng mênh mông nói lên cái to lớn vĩ đại của nhà thờ nhưng vẫn ấm ức, tiếc rẻ vì thấy nhà thờ sao không cao giống như trong trí tưởng tượng ngày xưa, nghiã là phải có mái nhọn như ngọn tháp cao vút lên không với cây thánh giá để lan toả sự nhiệm màu vào cả không gian.

Mãi về sau, trong một dịp tình cờ tôi được nhìn nhà thờ từ xa ở phía sau mới thấy được ngọn tháp ở giữa. Với tôi, ở góc nhìn này, nhà thờ Đức Bà  Paris xứng đáng là một công trình kiến trúc vĩ đại của  nước Pháp. Một kiến trúc độc đáo mà tôi chưa từng gặp từ khi đặt chân đến trời Âu.

 Chúng tôi cùng nhau sắp hàng lần lượt đi vào trong nhà thờ. Đoàn người quá dài, muốn bắt đầu mọi người phải đứng ở giữa sân. Phía trước là một hàng người uốn lượn theo hình chữ Z, đủ biết du khách đông tới mức nào.


 

Du khách đang chiêm ngưỡng, chụp hình và chuẩn bị sắp hàng để vào bên trong nhà thờ.

Gần hai ngàn năm truớc, thánh Danis truyền bá Ki-tô giáo vào đất Pháp, khỏang năm 250 AD. Trên cù lao Ilde la Cité từng đã có nhà thờ Saint Etienne. Đến thế kỷ 12 Paris trở thành  thành phố quan trong của Ki- tô gíao. Thành phố phát triển mạnh về dân số và kinh tế. Trên bến sông Seine, người dân lao động và thương thuyền vào ra tấp nập.

Năm 1960 Tổng giám mục  Maurice de Sully đắc cử và quyết định xây dựng một nhà thờ mới trên quảng trường Saint Etienne, thay thế nhà thờ Saint Etienne cũ bị phá bỏ.  Đó là Nhà thờ Notre Dame de Paris ngày nay.

  Notre Dame de Paris là nhà thờ chính tòa Công giáo của tổng giáo phận Paris, xây cất theo phong cách kiến trúc Gothic, được đức Giáo hoàng Alessandro và vua Louis  VII đặt viên đá đầu tiên năm 1163 và chính thức xong năm 1350.  Người ta không rõ tên kiến trúc sư đầu tiên. Nhưng từ thế kỷ 13, 14 từng phần của công trình vĩ đại này được vẽ bởi các  kiến trúc sư Jean de Chelles, Pierre de Montreuil, Piere the Chelles.

Gần hai thế kỷ để xây dựng đủ nói lên sự vĩ đại của ngôi nhà thờ, đủ cho nhà văn Victor Hugor có nhiều cảm hứng để viết nên tác phẩm Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà, mà những nhân vật chính  với những số phận bi thảm, sống và chết gắn liền với ngôi nhà thờ uy nghi này đây



 

Từ chân cầu Notre Dame nhìn thấy nhà thờ vượt hẳn lên không trung chan hòa ánh nắng

Bước vào bên trong, tôi như lạc vào một thế giới trầm lắng và huyền diệu khác hẳn với những  sôi động , ồn ào của bên ngoài. Những tác phẩm tuyệt vời được khắc hoa trên vách đá, trên những trần cao của mái nhà thờ. Với khoảng rộng  và cao vút như vượt khỏi tầm mắt, tôi tự hỏi người xưa  làm sao để vẽ được những bức hoa  sống động về tôn giáo mà màu sắc còn nguyên vẹn tươi rói kéo dài đã cả ngàn năm. Dù biết rằng  tác phẩm Thằng gù  ở nhà thờ Đức Bà chỉ là một hư cấu tài tình của văn hào Victor Hugor sao tôi vẫn cứ nghĩ  rằng đây là một câu chuyện thực góp phần vào  sự nổi tiếng của nhà thờ.

 


Nhà thờ Notre Dame, nhìn từ phía sau, giữa sông Seine

Tới bên tháp, tôi liên tưởng đến thằng gù Quasimodo với công việc kéo chuông hằng ngày, để âm thanh ngân dài vào không gian trong những  buổi cử hành thánh lễ. Trong  đầu óc hoang dại có bao giờ con người tật nguyền ấy biết được những âm mưu thâm độc của  giám mục Claude Frollo đầy kiến thức và quyền uy. Quasimodo với đời sống hoang vu như thú vật, mà trái tim cũng đã rung đông những nhịp đập lọan cuồng trước sự nhân ái của cô bé Esméralda.

Tôi đi quanh với ý nghĩ tìm một nơi nào có thể cho Quasimodo  dấu cô bé Esméralda trong một thời gian dài để che mắt ngài giám mục bị quỷ ám Claude Frollo và luật pháp. Chính niềm khoan dung và nhân ái của Esméralda đã đánh thức trái tim hoang vu của Quasimodo trở lại kiếp người bằng một tình yêu mà sự kết thúc đầy đớn đau và bi thảm.

Chuyện xưa đọc đã mấy mươi năm, trong khung cảnh trầm buồn này tôi dần nhớ lại để ngạc nhiên thấy rằng ở tuổi về chiều này tôi đã nhận ra tình yêu có thực, nhưng bất hạnh thay người mà tôi muốn hiến dâng cả một tình yêu thực sự đã không còn ở trên đời.


    Nhà thờ Notre Dame nhìn từ đường phố Paris

Chúng tôi trở ra ngoài sân sau khi đi vòng quanh nhiều lần trong nhà thờ. Trong lúc chờ đợi những người bạn đồng hành tôi và Lưu Hồng Phúc đi về phía sân bên phải cho chim ăn. Chim bồ câu ở đây nhiều  và bạo dạn quá chừng. Nếu bạn có thức ăn là chim bay đến, đậu trên đầu, trên vai để mổ thức ăn, rất dạn dĩ vì đã từng quen như thế.


Du khách đang cho chim bồ câu ăn ở phía góc trái của khoảng sân từ nhà thờ nhìn ra

Chờ mọi người đông đủ thì chiều đã đi vào tối. Bên dòng sông Seine vẫn còn vô số người  qua kẻ lại. Cuộc sống về đêm như mới bắt đầu. Chúng tôi xuống hầm xe điện ngầm, đón xe về lại khách sạn. Nghỉ ngơi một lúc tôi mời Hồng Phúc tìm đế một quán ăn Việt Nam.

Quán Việt Nam ở quận 13 Paris lẫn lộn với mhững quán ăn Tàu và các nước đông nam Á khác. Tôi không thấy những khu vực thuần túy Việt Nam như ở Mỹ. Chủ nhân các quán ăn, chủ yếu là phở thường là những người gốc  miền Bắc. Vì sự chật hẹp nên khó tìm thấy những nhà hàng Việt Nam lớn như ở Mỹ nhưng nói chung cũng khá sạch sẽ và tiếp đãi lịch sự . Dù gì cũng là dân Pháp mà. Một tô phở nhỏ bình thường gía 7.50 Euros. Nước uống cũng phải mua dù là nước lạnh. Một chai coca cola chỉ bằng nhỏ giá 3 Euros cộng thêm tiền cover charge 1.50 euros. Như thế nếu một người vào ăn một tô phở, uống nước ngọt sẽ phải trả cho nhà hàng khoảng 12 Euros. Thời giá trong lúc này tương đương với 17,50 Dollars. Như vậy có thể nói đắt gấp hai lần ở Mỹ.

Đi suốt một ngày và ăn uống thanh lịch hương hoa như thế nên tối đến ai cũng đói bụng. Mấy bà nhà thơ nhà văn nữ ở phòng bên gồm có Ngọc An, Mặc Giao, Hồng Phúc, Phong Thu, Chu Kim Oanh xuống phòng ăn dưới tầng cuối cùng nấu mỳ. Tôi và anh Duy An Đông được mời ăn ké. Ở đây khách sạn cũng bán đồ ăn cho lữ khách nên họ có đủ nước sôi, muỗng nĩa và microway để nấu ăn. Có người ngồi bán hàng nhưng ta có thể tiết kiệm bằng cách nấu lấy đồ ăn đơn giản cho mình như mỳ gói. Cả bọn ngồi ăn, kể chuyện cho nhau nghe những gì tai nghe mắt thấy trong suốt ngày đầu tiên thăm viếng Paris. Tôi, vì cái tính hay đùa, nhìn cô bán hàng ăn người Trung Hoa ngồi buồn rầu bên quầy, bảo cả bọn rằng chắc cô ấy ghét tụi mình lắm vì mang đồ ăn tới nấu mà chẳng mua gì. Nói vừa xong, không ngờ cô ấy trả lời ngay:

-Sao ông lại nói vậy, tôi có ghét ai đâu.

Chết rồi, cô này biết nói và hiểu tiếng Việt Nam. Tôi ngượng quá chạy thẳng vào thang máy đi một nước vào phòng ngủ . Tới phòng tôi mới nhớ là chưa lau miệng và uống nước. Thật là một bài học thấm thía cho tôi về viêc phát ngôn chỉ để mua vui mà thiếu cảnh giác.

Ghé mắt vào laptop, tôi thấy lời nhắn của Trần đại Hữu hẹn gặp tôi ở một gã tư đường. Mấy hôm nay bạn bè đã biết tôi đang ở Pháp cứ xôn xao hỏi thăm,vui đùa. Thôi hãy ngủ say một giấc để đi tiếp vào sáng sớm mai. Ngày mai chúng tôi sẽ chọn những nơi sẽ đến, dĩ nhiên là những nơi đã từng ước ao một thuở ngày xưa.

Sáng ngày kế tiếp chúng tôi thức dậy sớm , làm vệ sinh cá nhân thật mau để khi huớng dẫn viên tới khách sạn khỏi phải chờ như ngày hôm trước. Tính toán như thế, nhưng khi chúng tôi bước xuống đường thì giáo sư Chân  và chị Mây Thu đã chờ sẵn tự bao giờ. Tuy vậy  so vớí ngày hôm qua cũng là sớm lắm.

Mọi người đều đồng ý hôm nay đi thăm tháp Eiffel một biểu tượng của thành phố Paris. Ai cũng đồng ý rằng đến Paris mà không đước chiêm ngưỡng tháp Eiffel thì mất hẳn đi một nửa niềm hứng thú.

Chuẩn bị kỹ nhưng khi chúng tôi tới khoảng sân rộng trước tháp thì trời đã quá trưa. Lý do đơn giản là hôm nay rất nhiều nhà thơ, nhà văn nữ cùng đi. Mỗi người đều có những lý do riêng để hướng dẫn viên phải chờ, mà hướng dẫn viên chờ thì dĩ mhiên cả đoàn phải dừng lại để chờ.



Những bức tường  dọc theo con đường xuống chân tháp Eiffel

Tháp Eiffel được xây dựng đầu năm 1887  do hai kỹ sư Maurice Koechlin và Émile Nouguier của công ty Eiffel thiết kế để đón chào cuộc triển lãm của thế giới vào năm 1889. Tháp tọa lạc tại  đại lộ Anatole France nhưng có rất nhiều con đường để tới. Trước khi bước xuống những bậc  thang để xuống công viên Champ-de Mars, canh sông Seine là nơi dựng tháp Eifell chúng tôi phải đi qua  một khỏang sân rộng, có lát đá vuông màu ngà. Hai hàng theo lối đi  là những bức tương mỹ  nhân khỏa thân màu vàng, Nằm gần sát  bức tường của hai tòa nhà song song, chay dài xuống bờ sân cỏ . Vì đi theo đoàn tôi không có thì giờ để đọc kỹ về những bức tượng đó, mà giáo sư Chân thì cũng  không có gần đây để hỏi.

Tôi đi vào chân tháp thấy từ tầng thứ ba có một đoàn người đang tụt xuống bằng dây, chắc họ đang thực tập một môn thể thao nào đó. Những thao tác tuột dây giống hệt như ngày xưa chúng tôi được học nhảy tuột dây từ trực thăng trong khóa học Hành quân Biệt động Rừng Núi Sình lầy thời còn trai trẻ. Thuở ấy chúng tôi đi vào cuộc chiến, sống nay chết mai mà cứ vui như dự một cuộc phiêu lưu dài, chẳng biết sợ hãi là gì. Lý tưởng có, tuổi trẻ có, can đảm pha một chút liều lĩnh cũng có luôn thế mà vẫn thua trận quả thật đau khổ  cho những người lính ở thế hệ chúng tôi. Bất ngờ hôm nay nhìn cảnh mà chua chát cho  số phận của mình.

 Giáo sư Chân kể rằng trước đây người ta đã tính phá bỏ tháp vì nhận thấy một khối sắt chẳng mang đến lợi ích gì ngoài việc phải bảo trì tốn kém vì ngày một xuống cấp nhưng chiến tranh đã cứu tháp vì người ta phải đặt đài vô tuyến để phát sóng tại đây. Đến nay thì Eiffel chính là biểu tượng của Paris, kinh đô của ánh sáng, một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng nhất hoàn cầu với chiều cao 325 mét kể cà cột ăng ten. Hoàn thành vào năm 1889, Eiffel là công  trình cao nhất thế giới hồi đó và giữ cương vị này trong 40 năm.


Tháp Eiffel với bốn tầng cao bên giòng sông Seine

Tháp có bốn tầng, có hai nhà hàng ở tầng 2 và 3. Có thang máy để du khách lên các tầng hai ba và bốn để ngắm nhìn toàn cảnh Paris. Tầng 2  cao 57 mét, có diện tích 4200 m2. Có một hành lang bao quanh cho du khách ngắm  Paris bắng kính viễn vọng. Tầng 3 cao 115 mét có diện tích 1650 m2. Ở tầng nầy được xem là lý tưởng nhất đễ nhìn cảnh vật xa tới  55 miles chung quanh.  Tôi chỉ biết thế qua những lời ghi chú  chứ không có thời giờ để sắp hàng  leo lên các tầng cao vì phải đi theo đoàn người du lịch.

Đi vào sân cỏ xanh rì chúng tôi dừng lại chụp hình, Cả bọn  đứng trước hàng rào quanh sân cỏ. Hôm nay chúng tôi đi chung  một toán đông người, có ba bốn hướng dẫn viên, như thế cho mãi đến chiều mới ra khỏi vùng chung quanh tháp. Cứ người nọ chờ người kia, toán này đợi toán khác, mất hết nguyên một ngày chúng tôi chỉ đi thăm được tháp Eiffel, nhưng bù lại chúng tôi có rất nhiều chuyện vui cười , đùa cợt nhau thật là thoải mái.

Ban đêm, nhìn lên tháp người ta thấy cả một cây ánh sáng  cao lên lưng trời. Chẳng thế mà người ta gọi Paris là kinh thành ánh sáng. Mấy trăm năm rồi vẫn còn đúng tới hôm nay.

Rút kinh nghiệm việc mất thời gian vì chờ đợi, tìm nhau nếu đi một toán đông người nên ngày hôm sau chúng tôi lại chia thành những nhóm nhỏ và hướng dẫn viên sẽ dẫn đến những nơi nào mà du khách yêu cầu. May mắn tôi lại được xếp trong toán có giáo sư Nguyễn ngọc Chân hướng dẫn.

Buổi sáng chúng tôi đến thăm một nhà thờ nổi tiếng khác của phía bắc thành phố Paris, đó là nhà thờ Thánh Tâm ( Basilique du Sacré Coeur).


Nhà thờ  Thánh Tâm

Từ quận 13 chúng tôi dùng xe điện ngầm  đi lên quận 18,  ra khỏi bến Anvers đã thấy một quang cảnh náo nhiệt khác thường. Tôi được biết phía bắc Paris thường là nơi cư ngụ của người Pháp gốc Bắc Phi nên dân số đông đúc và mang một sắc thái đặc biết hơn hẳn các khu khác. Tại sao? không có câu trả lời. Tôi chỉ đoán rằng tại vì lối sống của người Pháp gốc  châu Phi bình dân hơn, trái tim họ cuồng nhiệt hơn và tôn giáo mà họ theo  xa lạ, huyền bí  và khó hiểu hơn chăng.



Phố xá đông đúc dưới chân nhà thờ Thánh tâm

Chúng tôi chen chân qua con phố lúc nào cũng đông đúc và tiến dần lên những bực thang mỗi lúc một cao của ngọn đồi Montmartre. Người đâu mà nhiều quá. Du khách, người tứ xứ và người bản xứ trôn lẫn vào nhau  như ở thành phố New York. Đủ mọi sắc dân, đủ mọi hạng người, đủ mọi màu da, đủ loại áo quần trộn chung vào những con phố dười chân đồi Montmartre tạo thành một sắc thái riêng Paris hoa lệ. Chúng tôi đang ở quận 18 trong 20 quận của Paris. Tới đây tôi mới để ý và được giảng giải rằng ở Paris nguời ta thường hay cho thêm tên quận hạt vào các bảng chỉ tên đường.

Bước chân lên những bậc thang đầu tiên để lên ngôi nhà thờ uy nghi trên cao chúng tôi vẫn bị cái ồn ào náo nhiệt vây quanh. Nhà thờ trên đỉnh đồi và chúng tôi phải bước lên rất nhiều những bậc thang nếu không muốn mất tiền đi thang máy kéo lên. Rất nhiều thanh niên Ả Rập hay Phi châu chờ đợi để làm phiền du khách. Đang đi bạn có thể bị chận ngay lại. Nếu yếu bóng viá hay quá lịch sự bạn có thể bị cột vào tay một sợi dây màu rồi họ giảng giải cho bạn những phép nhiệm màu nào đó của tôn giáo họ và cuối cùng thì bạn phải xì tiền ra. Hoặc có thể bạn được dúi vào tay những món đồ lưu miệm rồi phải trả bằng giá cao như trên trời. Tôi được giáo sư Chân báo đông trước nên just say no cho tất cả mọi thứ , mọi câu hỏi và mọi yêu cầu. Vì thế không bao lâi chúng tôi bước lên tới đỉnh.



Từ trên  nhà thờ nhìn xuống phố xá bên dưới.

Phiá trước nhà thờ có một điểm để ta có thể nhìn thấy toàn cảnh Paris. Có cả kính viễn vọng  để ta bỏ tiền vào nhìn được xa hơn. Bên cạnh đó là nơi cho các họa sĩ vẽ chân dung cho du khách và quán Ca phê.

Chúng tôi sắp hàng để bước vào bên trong nhà thờ. Cũng như khi bước vào nhà thờ Notre Dame, tôi bị  sự cao lớn vĩ đại trong một không gian trầm lắng mà uy nghi  với ánh sáng u huyền cuốn hút theo những bức tranh huyền hoặc trải dài trên trần cao với vợi. Nhà thơ Thánh Tâm được trang trí theo phong cách La mã-Byzance. Tháp chuông uy nghi với quả chuông Savoyarde lớn nhất nước Pháp.

Nhà thờ được xây dựng vào năm 1875 để tưởng niệm các binh lính của Công xã Paris. Đồi Montmartre là địa điểm tôn giáo lâu đời. Bên cạnh  nhà thờ Thánh  Tâm có những tu viện, những nhà nguyện đã xây dựng lâu đời từ thế kỷ thứ 5. Đến nay nhà thờ Thánh Tâm là điạ điểm thu hút đông đảo du khách hơn cả tháp Eiffel và viện bảo tàng Louvre.



Một tu viện được xây vào thế kỷ thứ 5 cạnh nhà thờ Thánh Tâm


Tuy thế chúng tôi chỉ có môt buổi sáng để thưởng thức vẻ đẹp của nhà thờ, trầm mình vào không khí u huyền của tôn giáo bên trong và sự rộn rã với đời sống tưng bừng ở bên ngoài  và phiá dứơi chân đồi.

Buổi trưa, chúng tôi trở ngược lại đại lộ Champs Élysés  để bước vào một tiệm Mac Donald. Quán đông quá chúng tôi phải chờ  lâu mới tới lượt dù có cả chục quầy bán hàng và phục vụ. Ở đây bạn có thể uống bia thay nước ngọt. Đối với người ở Mỹ thì thấy lạ chứ với dân Pháp thì rất bình thường. Dĩ nhiên là giáo sư Chân uống bia để ăn hamburger và Friench fry. Bọn tôi thì chịu thua chỉ kêu nước ngọt.

Ăn xong muốn có chỗ để xả cũng phải chờ. Khu của nam giới thì chờ ít chứ khu của các bà thì dài lê thê. Xong hết nhu cầu  thi trời đã vào chiều.

Chúng tôi quyết định đi thăm vườn hoa Luxembourg. Chẳng là khi con đi học tôi rất thích bài tập đọc một đoạn văn của Anatole France mà cụ Hà mai Anh đã dịch nói về một cậu bé thường hay đi học qua vườn hoa Luxembourg, cậu bé đó chính là Anatole France hai mươi lăm năm về trước. Mê văn tôi tò mò muốn xem vườn hoa để  xem những bức tượng có lá vàng rơi đầy trên lối đi trong tâm tưởng của thuở học trò  năm mươi năm trước có khác gì không vớí cảnh vật hôm nay.

Từ trạm metro chui lên mặt đất chúng tôi phải đi bộ khá xa vì giáo sư Chân lạc đường. Cuối cùng sau mấy lần hỏi thăm chúng tôi cũng tới được khu vườn mong đợi.

Luxembourg là khu vưòn lớn nổi tiếng nằm trong quận 6 thành phố Paris với diện tích 23 mẫu tây. Được thành lập từ năm 1612 bởi một vị hoàng hậu đang nhiếp chính vương quyền nước Pháp. Bên trong khu vườn có cung điện Luxembourg mà ngày nay đã trở thành văn phòng thượng viện Pháp.

Chúng tôi bước vào bên trong khu vườn đẹp, cổ kính  với rất nhiều con đường có những bức tượng cổ miêu tả  những vị thần Hy lạp. Bây giờ là mùa thu, lá mgoài vườn rụng vàng trên vai những pho tượng và những con thú  chỉ có trong thần thoại nên không khí đượm buồn.

Những bức tượng cổ Hy Lạp trong vườn Luxembourg

Luxembourg là nơi đi dạo của người dân, nhất là nơi mà sinh viên Paris hẹn hò gặp gỡ, cũng là nơi du khách thường xuyên thăm viếng. Có đài phun nước, có  phòng âm nhạc. Phiá trước  lâu đài Luxembourg nay là v ăn phòng Thượng Viện là hồ nước hình bát giác, trẻ em thường thả những thuyền buồm nhỏ chạy theo chiều gió.Có bảo tàng viện, sân quần vợt và không gian dành cho trẻ em.

Cả toán chúng tôi ai cũng trầm ngâm không nói. Ai cũng  muốn thưởng thức vẻ đẹp của vuờn hoa Luxembourg bằng một không gian kỷ niêm riêng biệt của mình

Lá vàng rơi nhiều quá. Tôi đi vào kỷ niệm trong tôi. Ô hay mùa thu đang chết. Nghĩ về một câu thơ để rồi lại nhớ về một người đã ra đi vĩnh viễn khỏi thế gian này;

 

Muà thu trần gian đang ở nơi đâu.

Hãy chỉ cho tôi về những mùa thu đã chết. 

 

Hãy cho tôi sống lại những phút giây sinh ly tử biệt.

 

Của một tình yêu trân quý nhất trên đời.

Ngay bây giờ trong tôi nhớ lại ngày bé thơ xưa, ngày đau năm cũ  và lòng buồn  muốn khóc. Nhưng thôi, cố lên cuộc sống vẫn trôi qua.


Hồ nước trước Thượng viện trong vườn Luxembourg

Tôi và Hồng Phúc đi qua những hàng cây lá vàng, kể cho nhau nghe về những giấc mơ không bao giờ thành sự thực của cuộc đời.

Trời chiều xuống mau, chúng tôi sửa soạn trở về quan trọ. Ngày mai là ngày các  nhà thơ , nhà văn  tao ngộ. Tôi không phải là một thành viên trong đại hội nhưng có lẽ tôi cũng tham dự để chụp giùm bạn tôi những tấm hình. Sau đó thì đại hội bế mạc, mọi người đều ra về không còn ai hướng dẫn nữa. Muốn ở lại Paris tôi sẽ phải tự xoay sở một mình. Còn bao nhiêu địa điểm cần và muốn đến như cung điện Versailles, viện bảo tàng Louvre và các lâu đài và bao nhiêu thành phố khác. Tôi sẽ ở lại Paris để đi đến những nơi mà tôi hằng mong muốn, nhưng phải chọn cách nào để  đạt được điều mong ước.

Coi tiếp phần 2