Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai ĐÊM HẠ ORLANDO

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

ĐÊM HẠ ORLANDO

In PDF.


 

1. Từ Portland, tôi đến Orlando rạng ngày thứ bảy 27/6, sau hai chuyến bay đêm dài hơn tám tiếng. Mệt rã rời. Thế mới hiểu thế nào sự vất vả và tấm lòng trời biển của vị chỉ huy trưởng khả kính, Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, người cách đây ba năm đã ngồi xe lăn lặn lội từ Florida đến Portland, để phát động phong trào chống nghị quyết 36 và tay sai nằm vùng, đồng thời để yểm trợ một sĩ quan thuộc cấp, một “hàn sĩ” theo lời thầy, bị kiện vì một bài báo chống Cộng.

       Mới sáu giờ sáng mà trời Orlando đã thấy nóng bức. Trong một thoáng, tôi thấy tiếc nhớ hơi lạnh dìu dịu và những giọt mưa nặng trĩu bên rặng thông già của mùa xuân Oregon đang úa tàn, hay xa hơn, những hoàng hôn phủ áo tím trên Đà Lạt sương mờ một thời thương nhớ. Nguyễn Đức Toàn, người học trò cũ ở Collège Français Nha Trang thuở nào, cùng vợ, Kim Chi, ra đón tôi tại phi trường, chở thẳng về nhà, nghỉ ngơi một chút, vì biết tôi đang bị cảm và mệt, trước khi đến quận lỵ Clermont thăm viếng vị Đại tá chỉ huy cũ.

        Đến giờ, Kim Chi phải đi làm, sau khi dọn sẵn bữa ăn sáng thịnh soạn kiểu Tây  cho Toàn và tôi. Nhâm nhi cà phê, hai thầy trò hàn huyên tâm sự, chuyện cũ chuyện mới, không dứt. Ghép lại những mảnh thời gian đã vỡ qua các bức ảnh ố vàng, nhạt nhòa dung nhan và kỷ niệm ngày nào đã dấu yêu. Tại Portland, trong khi chuẩn bị lên online mua vé, tưởng mình sẽ là lữ hành cô độc, tôi dự tính chỉ ở lại Orlando và nhà thầy Quỳnh hai hôm rồi về. Nhưng tình cờ tôi được biết, qua Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trường Pháp Nha Trang, có Toàn ở Orlando, và qua gia đình, có thêm Nguyễn Khen, tự Kinh Kha, một người bạn bà con xa, cựu Thiếu tá Tiểu Đoàn 3 Dù, nay ở Indialantic, nên phải thay đổi lịch trình, lưu lại vài ngày nữa, với sự thỏa thuận qua emails giữa bộ ba Toàn, Khen và Lisa Ngọc Huyền, con gái của Đại tá Quỳnh. Orlando, dù nổi tiếng với Disney World và đội bóng rổ Magic, vẫn là một thành phố còn quá xa lạ đối với tôi, đến nỗi lần đầu tôi không phát âm đúng cách (tôi nhấn ở âm cuối -do, như khi nói tiếng Pháp, thay vì âm giữa -land), khiến em tiếp viên mắt xanh, tóc vàng sợi nhỏ, ở phi trường chuyển tiếp Denver không hiểu, phải hỏi tới hỏi lui.

       Tôi thích Orlando vì cái vẻ nửa quê nửa tỉnh của một thành phố hình như mới được khai phá, đầy chất hương đồng cỏ nội, với những rừng cây xanh biếc một màu chạy dài song song hai bên đường phố và xa lộ thật vắng, với nhịp sống êm ả, khoan thai, từ tốn như cung cách của cư dân tại đó. Trước cảnh thôn dã hiền lành, ước mơ muôn đời của biết bao thi sĩ thế giới, một Horace trên đồi Sabine thuộc Rome cổ, một Vigny của La Maison du berger, một Cao Bá Quát với kho trời chung mà vô tận của mình riêng, và một Nguyễn Trãi thảnh thơi bên dòng suối Côn Sơn, bỗng nhiên ký ức hao mòn tìm về hai câu thơ nổi tiếng của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao. Riêng tôi, cả đời muốn dại như cụ mà không được. Vì khôn, tôi đã lỡ sa vào chốn gió tanh mưa máu, bị thù bao vây, bị bạn phản bội, điển hình là vụ kiện lố bịch kéo dài ba năm, gây bao nhiêu phiền lụy cho cá nhân, gia đình, và những người thân, trong đó có thầy Quỳnh.

      Chín giờ sáng, Toàn chở tôi đến nhà thầy, cách Orlando khoảng 50 miles. Dù là một thổ công lâu đời Orlando đã nghiên cứu kỹ lộ trình và trên xe có máy navigator hướng dẫn, Toàn, một lúc nào đó, vẫn phân vân giữa hai lối highways, và đã chọn sai, phải chạy vòng. Đường đi đến Clermont, một phố nhỏ buồn hiu, có những con dốc dài ngoằng, những ngã rẽ bất chợt, chưa tráng nhựa, còn in vết sỏi đá, những hàng dừa dại palmiers soi bóng trên mặt hồ vuông vắn nước trong vắt ngừng trôi, và những mái nhà mới xây, rực rỡ dưới nắng sớm, mọc trên những ngọn đồi thấp, trơ trọi, bên hàng cây đứng im lìm trong cái nắng thiêu người. Toàn bảo tôi: “Nhờ thầy em mới biết Clermont, dù em ở đây đã trên hai mươi năm.”

       Huy, người con trai duy nhất của Đại tá Quỳnh, và Ngọc Huyền đón chúng tôi vào nhà. Căn nhà sang trọng, khang trang của vợ chồng Huyền, cấu trúc bên ngoài giống hệt các căn chung quanh. Từ phòng ngủ, Huy đẩy xe lăn đưa thầy ra phòng khách. Tôi cúi xuống ôm hôn thầy, nghẹn ngào không nói nên lời, giọt lệ lưng tròng. Mới ba năm, sau lần cuối gặp thầy tại Portland, trông thầy có vẻ yếu hơn nhiều, không bước đi một mình được nữa. Nhưng thầy vẫn minh mẫn, nhớ hết. Thầy hỏi thăm, Loan và hai cháu Huyền Trân, Kim Quân có khỏe không em? Trên đôi mắt mờ đục của thầy tôi thấy chan hòa bao nỗi mừng vui, cho buổi tái ngộ hạn hữu, tuyệt diệu, cho những ân tình mà cả hai biết sẽ mãi mãi bền chặt giữa thầy và trò, giữa chỉ huy trưởng và cấp dưới. Chinh chiến đã tàn, tiếng súng đã im, nước mắt đã khô, vinh quang cũng như tủi nhục đã hết, giờ đây với thầy, hay với tôi, chỉ còn là cõi bình yên, là hạnh phúc có nhau, như trong tiểu thuyết của Marcel Proust khi thời gian đã mất một ngày được gặp lại, vĩnh cửu từ đây, sau bao năm khắc khoải đi tìm. Thầy đã 90 tuổi.

Toàn tiến lại bên thầy, tự giới thiệu:

- Kính thưa đại tá, tôi là Toàn, học trò của thầy Quý, và cũng là trung úy về Đà Lạt học khóa căn bản CTCT, đã cùng di tản với trường tháng 4 năm 1975.

Nghe thế, thầy cười tươi:

- Hân hạnh lắm. Rất vui được biết anh Toàn. CTCT mình dù phục vụ ở đâu cũng có cùng một chí hướng, một lý tưởng.

Ngọc Huyền pha trà, mời mọi người. Chuyện trò một lúc, Toàn kiếu từ ra về, hẹn gặp lại tôi chiều thứ hai.

      Còn lại mình tôi với gia đình thầy, tôi mở backpack lấy trao thầy bức tượng Đức Mẹ Maria, quà tặng của Nguyễn Đức Lai, khóa 4, và đưa cho Ngọc Huyền món quà mọn của Loan, vợ tôi. Tôi cũng chuyển đến thầy lời thăm hỏi của những người mà thầy đã gặp và nói chuyện tại Portland ba năm trước: Thiếu tá Tổng Cục CTCT Trịnh Đình Bội, NT1 Đào Mỹ, NT2 Dương Xuân Kính, NT2 Nguyễn Thế Thăng, NT4 Nguyễn Đức Lai, ông bà Vương Thế Hạnh, thuộc đơn vị Thám sát TK Tuyên Đức, ông cựu chủ tịch cộng đồng Oregon Huỳnh Quốc Bình. Ngoài ra, còn có NT 4Trần Thanh Sơn, từ Irvine. Thầy cám ơn, nhớ hết mọi người.

      Một lúc sau, thầy giục Huy soạn phòng cho tôi đi nghỉ. Và thầy nhắc tôi 12 giờ xuống ăn cơm trưa. Quá mệt sau chuyến bay, tôi mặc nguyên bộ đồ, lăn ra giường, ngủ vùi, cho đến khi Huy gõ cửa, đánh thức dậy.

      Buổi trưa, “đầu bếp” Ngọc Huyền cho ăn bifteck, sà lách và bánh mì. Thầy Quỳnh ngồi đầu bàn, và tôi được xếp bên phải thầy, chỗ danh dự, cạnh Huy, đối diện với Huyền. Thanh, chồng Huyền, đi làm ăn xa, vắng mặt. Trong nhà, ngoài Huy và hai cậu con trai đã lớn của Huyền, còn có người chị, Hương, và chồng tên Tuấn, đã qua Mỹ theo hồ sơ HO của thầy. Cô Đức Hạnh và chồng Võ Chánh Cương, dân Nha Trang, mà tôi và các sĩ quan trường có dự đám cưới, trước 1975, hiện ở Houston, Texas, với hai con gái. Hạnh nay là thiếu tá quân y, đã tham chiến vùng Vịnh thời ông Bush Cha, còn Cương là kỹ sư làm việc cho NASA.

- Anh có hai chục đứa cháu và bảy đứa chắt, thầy hãnh diện nói với tôi.

      Bà Đại tá đã dùng bữa trước, với thực đơn riêng, phải xay nhuyễn. Còn thầy ăn được, như mọi người, nhưng bác sĩ không cho ăn nhiều. Nói chung, sức khỏe thầy ngày càng yếu, dĩ nhiên, nhưng không đến nỗi nào, ngoại trừ việc đi đứng và thính giác hoàn toàn vô hiệu. Thầy đeo luôn hai cái máy nghe, mở hết volume, thế mà đôi lúc, có lẽ máy yếu pin, Huy vẫn phải nói như hét vào tai thầy. Huyền có nhiệm vụ tập thể dục mỗi ngày cho thầy: thầy ngồi trong xe lăn, tay cầm một lon đồ hộp, thay tạ, duỗi ra duỗi vào cho giãn xương cốt, trong khi bà đại tá, cùng tuổi thầy, nhưng khỏe hơn, đi bộ quanh trong nhà với cái walker

      Ăn xong, thầy ngồi lại xem trận World Cup mà thầy rất thích, và bảo tôi ngồi cạnh, để cùng xem. Được vài phút, thầy lim dim đôi mắt, rồi chợt tỉnh, hỏi Huy, đã đá vô trái nào chưa. Thầy gật đầu, cười vui khi biết đội của thầy đang thắng, rồi tiếp tục lim dim. Cứ thế cho đến lúc mãn hiệp một. Huy đưa thầy vào phòng nghỉ và mời tôi vào xem “phòng hai cụ”. Chỗ nào cũng có tượng Chúa và Mẹ Maria. Phòng sạch sẽ, ngăn nắp, mát mẻ, đầy đủ tiện nghi: tivi, computer, bàn làm việc. Ba chiếc xe lăn và một walker đặt giữa hai chiếc giường ngủ, trong tầm tay với của hai cụ.

      Xế chiều, thầy nói muốn gặp riêng tôi. Tại phòng khách, thầy đưa tôi một hộp quà gói kín dặn trao cho Loan. Về lại Portland, mở ra mới biết đó là một chai nước hoa Chanel và hai bao lì xì cho hai cháu bé. Rồi thầy lấy ra một xấp tiền mặt ấn vào tay tôi, nói:

- Anh biết em bên đó còn nhiều cái phải chi tiêu. Em cầm lấy cho anh vui.

Tôi từ chối mãi:

- Em còn tiền mà! 

Nhưng thầy vẫn bảo, dứt khoát:

- Em không lấy, anh giận đấy.

Không thể làm gì hơn, và sợ thầy buồn, tôi đành nhận, bỏ vào túi áo:

- Cám ơn anh nhiều lắm!

    Thầy cười, vẻ rạng rỡ, hài lòng. Riêng tôi thấy xúc động dâng ngập hồn, không nói gì được nữa. Thầy đã cho tôi nhiều quá. Từ những bữa ăn thịnh soạn thầy đãi các giáo sư, có Thiếu tá Văn hóa vụ trưởng Lê Ân và tôi theo cùng, tại tư thất Đà Lạt, đến miếng bánh mì khô biscotte và táng đường đen thầy lén dúi vào tay tôi ở trại tù Vĩnh Phú, đến món tiền lớn yểm trợ trong vụ kiện, đến chuyến bay năm nào tới Portland thăm tôi để nâng đỡ tinh thần, đến xấp tiền hôm nay, tất cả bỗng trở thành những dấu ấn của tình thương chân thật, bao la, vô điều kiện thầy dành cho tôi, mà không thời gian nào có thể làm phai úa, không cách ngăn nào có thể làm suy suyển, không sắc màu nào có thể tô thắm hơn. Tôi cảm thấy mình quá may mắn.

Rồi thầy lui về phòng. Còn tôi đi tìm Huy, kể hết sự việc, và trao xấp tiền cho Huy:

- Chú không thể nhận được. Nhờ Huy trao lại cho cụ, nhưng chỉ sau khi chú về tới Portland, và Huy hãy lựa lời nói với cụ, để cụ không giận chú nhé.

Huy hứa. Khi biết chuyện này, tối hôm ấy, Huyền nói:

- Cụ quý chú lắm, mới làm như vậy. Từ ngày biết chú qua đây, cụ cứ băn khoăn mãi về việc chú đi thăm tốn kém, và hỏi cháu vé máy bay chú mua bao nhiêu. Cháu đâu biết. Nhưng cháu đã nói với cụ chú sẽ không lấy đâu.

Tôi cảm động:

- Huyền biết không, trong nhà binh, tụi chú hay nói câu huynh đệ chi binh. Nghĩa là, lính tráng, chỉ huy, thuộc cấp đối xử với nhau như tình anh em một nhà. Riêng trường hợp cụ, chú phải nói phụ tử chi binh, chú nhớ dường như là của Đức Trần Hưng Đạo đã dạy: chỉ huy đối xử với thuộc cấp như cha đối với con, và ngược lại, để khích lệ tinh thần chiến đấu. Ba chú mất lúc chú còn trong tù, nếu sống năm nay cũng 94 tuổi, hơn cụ chỉ độ 4 tuổi. Chú luôn luôn thấy nơi cụ hình ảnh của ba chú. Nhưng cụ muốn chú gọi cụ là anh. Chứ thực ra, đối với chú và nhiều sĩ quan khác cùng tuổi chú ở trường cũ, cụ là một người thầy cao cả, một người cha đáng kính.

        Buổi tối, được ăn bún chả Hà Nội do cô Bắc Kỳ nho nhỏ gốc Đà Lạt, Ngọc Huyền, khoản đãi. Tôi thấy rất ngon miệng, hơn cả bún chả Hà Nội do cô nội trợ Nam Kỳ nho nhỏ gốc Phú Nhuận của tôi, chưa biết Hà Nội bao giờ, nấu để thưởng công tôi, sau những lần bị hàng xóm Mỹ than phiền cỏ mọc cao quá, đã phải hy sinh một ngày ra vườn cắt dọn sạch sẽ. Tôi ăn hai bát bún, phủ đầy những lát cá nướng mềm ngọt. Giá ở nhà, chắc phải thêm một bát nữa. Trong bữa ăn, thầy luôn nhắc nhở tôi, sáng mai, Chúa Nhật, nhớ đi nhà thờ nhé. Nhà thờ Mỹ, gần hơn. Và thầy giao cho Tuấn nhiệm vụ chở tôi đi. Bác sĩ không cho thầy dự lễ ở nhà thờ, sợ xảy ra chuyện bất trắc. Thầy xem lễ trên tivi và có người đem mình thánh Chúa đến tận nhà. Một lúc nào đó thầy bất chợt hỏi tôi:

- Cô bạn ở Áo của em bây giờ ra sao?

Tôi chưng hửng, một giây sau, kịp nhớ ra, đáp:

- Bettina. Ở Vienne. Em không còn liên lạc, từ ngày có Loan.

Một bằng chứng hùng hồn nữa về trí nhớ không suy mòn của thầy. Tối nay thầy rời bàn ăn sớm, dù đang vui chuyện. Huy nói, đến giờ bố cần nghỉ.

      Đêm về. Tôi vẫn ngồi tại bàn, xem tivi. Huy mang ra chai cognac và cụng ly với tôi, trong lúc Huyền lau rửa chén bát. Trước đây tôi chưa hề gặp Huy, kể cả lúc ăn tại nhà thầy ở Đà Lạt. Bây giờ Huy đang trong tuổi trung niên, chín chắn, lịch thiệp, lễ độ. Huy tâm sự:

     - À mà sao hồi còn ở trường cháu không biết chú nhỉ? Cháu học võ với Trung úy Thạch Minh Lợi. Cháu nhớ còn có Trung úy Trần Ngọc Phong nữa, Phong râu, hát hay lắm.

     Tôi trả lời:

    - Chú làm việc bên Chi Lăng, vả lại hồi ấy Huy còn nhỏ quá, chú không để ý. Lại càng không để ý Huyền, vì lúc ấy chắc còn con nít, chừng độ tuổi 13.

    Huyền gật đầu:

   - Vâng, đúng như vậy, cháu sinh năm 1960, nay đã 50 tuổi rồi, còn gì?

    Như vậy, Huyền lớn hơn cô Quý ba tuổi, tôi bảo. Bấy giờ, tôi ngắm Huyền kỹ hơn. Và ngạc nhiên. Trông còn rất trẻ so với số tuổi. Xinh đẹp, duyên dáng, lịch sự, đằm thắm, không biểu lộ buồn vui thái quá. Qua Huyền, tôi gặp định nghĩa hoàn hảo của chữ dung, một trong bốn đức tính có giá trị ngàn đời, Công Dung Ngôn Hạnh, mà phụ nữ Việt Nam ngày xưa được dạy phải đạt tới, chữ Dung mà đa số các cô các bà bây giờ không hiểu rõ lắm, cứ nghĩ Dung chỉ là sắc đẹp thiên phú hay nhân tạo bề ngoài, mà quên đi cái duyên, cũng rất quyến rũ, cũng rất cần thiết do lời ăn tiếng nói, hoa cười ngọc thốt đoan trang (Kiều), đi đứng khoan thai, vẻ mặt lúc nào cũng giữ được sự khoan hòa, không để cho tình cảm nhất thời tràn lấn, gây điều thất thố. Vẻ mặt ấy chứng tỏ sự giáo dục của gia đình và bản lĩnh của một người biết kềm chế cảm xúc nhất thời, như vui, buồn, giận, khổ, v.v... Tôi nói đùa:

- Thanh trước kia chắc tu mấy kiếp mới lấy được Huyền đấy!

Huyền cười:

- Không phải vậy đâu chú!

Rồi Huy kể tiếp:

- Chú biết không, đúng ra ngày 30 tháng 4, cả nhà có thể xuống tàu Hải quân đi được hết, nhưng ông cụ nhất định không chịu vì còn kẹt cái quân trường của cụ. Cháu là người duy nhất đi trứớc. Cháu theo gia đình ông chú nhảy đại lên tàu Hải quân, đến Guam, rồi được nhà thờ Tin Lành Mỹ bảo trợ, rồi… rồi… qua đây. Còn tất cả đều vượt biên sau này.

Tôi an ủi:

- Tất cả đều là định mệnh. Cũng như chú. Nếu ngày ấy, chú nghe lời cô em gái hôtesse Air Vietnam bỏ đơn vị đưa cả gia đình lên chuyến bay cuối cùng, thì đâu phải ra nông nỗi này. Huy thấy không, rồi dần dần, trước sau, cả gia đình nhà ta cũng đã được đoàn tụ. Một điều quan trọng Huy cần biết là, theo chú, giả sử ngày ấy cụ bỏ chạy trước như các đơn vị trưởng khác, có thể bây giờ thuộc cấp không nhìn cụ như đang nhìn cụ bây giờ. Huy, Huyền và các cháu nên hãnh diện có một ông bố như thế, quân đội VNCH nên hãnh diện có một cấp chỉ huy như thế. Dĩ nhiên, không thể so sánh cụ với các đại anh hùng khác thuộc mọi binh chủng, cấp bậc, đã tuẫn tiết theo cái chết của đất nước, nhưng chấp nhận ở lại, sống chết với đơn vị, trong khi có đủ phương tiện thoát thân, không phải ai cũng làm được. Riêng đối với chú, cụ là biểu tượng tuyệt vời của tinh thần trách nhiệm, của tấm lòng thủy chung và đại lượng đối với cấp dưới, của phong cách phi thường, trượng phu trong mọi cảnh đời, vinh quang cũng như tủi nhục. Trong một vở kịch, Shakespeare viết, những kẻ hèn nhát chết đi chết lại nhiều lần trước khi chết thật, những người dũng cảm chỉ một lần chết thôi.

     Dọn dẹp xong, Huyền ra bàn ngồi, tiếp chuyện. Còn Huy tiếp rượu cho tôi. Tôi nhìn hai anh em, lòng đầy thán phục và cảm thương. Họ thực sự là những người con hiếu thảo, hiếm có trong thời buổi này. Huy bỏ việc làm, để vợ và ba con một nơi, tình nguyện đến săn sóc hai cụ full time. Huyền không theo chồng, ở lại nhà, chăm lo cho bố mẹ. Ngày xưa, vì còn quá nhỏ, họ chưa hưởng được gì từ vinh quang của bố. Nay bố mất hết, họ gánh lấy mọi nhọc nhằn và những giấc mơ tan. Huyền bảo:

- Đó là bổn phận mà chú!

Tôi đáp ngay:

- Đồng ý. Nhưng không phải người con nào cũng nhớ và vui vẻ làm bổn phận ấy. Nếu vậy, đâu có những nursing home đầy dẫy tại xứ Mỹ này? Chú may mắn được biết Huy và Huyền, những người con tuyệt vời của bố Quỳnh.

     Một lúc sau, Huyền xin kiếu từ. Good night Huyền, tôi nói. Còn lại Huy với tôi. Cho đến quá nửa khuya. Tâm sự cũng cạn dần theo những ly cognac, dù nghĩa tình chưa vơi. Thôi, tôi đề nghị, mình đi nghỉ nhé, để mai còn đến nhà thờ. Về phòng, chưa ngủ liền được, tôi kéo tấm màn trắng, bước ra lan can, ngắm nhìn trới mây. Làm vài động tác hít thở, theo thói quen.

    Đêm hè mênh mông, xanh thẳm. Orlando chìm sâu trong giấc ngủ, bốn bề lặng thinh. Trời đã bớt nóng. Trên không, những vì sao lấp lánh. Tìm một vì sao đẹp nhất, bay đến đậu bờ vai, như trong đêm Paris lẻ loi, mười tám năm trước, buồn nhớ Bettina. Bettina và mắt tím màu hoàng hôn, mùa xuân Paris với những cơn mưa bất chợt, kinh thành Vienne có gió hờn ghen lùa qua tóc rối và dòng sông Danube lững lờ, mà kỷ niệm đêm nay bỗng kéo về lũ lượt theo câu hỏi thăm tình cờ của thầy, trộn lẫn với hình ảnh của Loan và hai con, của những người yêu dấu cũ. Lòng thanh thản, lâng lâng, vì men rượu, hay men hạnh phúc, hay cả hai. Hạnh phúc bởi có thầy, có Huy, có Huyền, có trường Đại Học CTCT, nên tôi tin rằng tình người còn đẹp, đời còn dễ thương, sau bao năm đắng cay, tả tơi, giữa chốn lao xao bụi hồng, vì những đòn  thù, đòn bạn.

      Sau bữa ăn trưa với bún bò giò heo, đặc biệt, Huy nói, để tiễn tôi, có bà Đại tá ngồi chung nhưng ăn món riêng, thầy và cả nhà quây quần xem các trận World Cup, chờ Khen đến đón tôi, như đã sắp xếp trước. Không ai nói với ai nhiều. Buổi biệt ly nào trong đời cũng làm tim tôi ít nhiều thổn thức. Cũng may, ở Mỹ ít có sân ga lất phất mưa bay, hay sương mù, nên hồn đỡ tái tê.

      Khen, thổ địa Florida tầm cỡ Toàn, lên nhà thầy cũng bị lạc, gọi phôn cầu cứu. Thế mới biết đường đến nơi vắng vẻ của thầy, trong một nghĩa nào, cũng vất vả không kém đường vào Ba Thục thuở xưa. Khen đến, với vợ là Thủy theo cùng. Khen thua tôi một tuổi, đóng vai em, dáng dấp còn nhanh nhẹn. Lần đầu gặp lại Khen sau 30 năm. Khen bước đi khập khiễng, hậu quả của hai lần bị thương nặng, và một lần rớt trực thăng còn sống sót trong khi tất cả đều tử nạn, trong số có Đại tá Dù Nguyễn Trọng Bảo.

      Thầy ngồi giữa phòng khách, Huy đứng bên, Huyền bận pha trà. Khen bước đến chào, tự giới thiệu. Thầy tươi cười, hân hoan, lịch duyệt, không khác chi lúc còn ở trường. Thầy ca ngợi những chiến công hiển hách của Sư Đoàn Dù. Ngồi nói chuyện một lúc, Khen xin đưa tôi đi, vì trời sắp tối và nhà xa lắm.

Tôi bước đến ôm hôn thầy thật lâu. Thầy nói:

- Sang năm em đến nữa nhé, cùng với Loan và hai cháu.

Tôi chỉ dạ. Một năm nữa. Một thế kỷ. Hay một thiên thu. Làm sao biết được thời gian?  Tôi bắt tay, ôm từ biệt Huy và Huyền:

- Chú cám ơn Huyền, Huy về tất cả những gì đã làm cho chú trong hai ngày qua. Huyền cho chú gửi lời thăm Thanh.

Huyền nói khẽ:

- Vâng, chú về bình an.


2. Vợ chồng Khen-Thủy đưa tôi trở lại Orlando, khu Việt Nam, để ăn tối. Khen giới thiệu nhà hàng Lạc Việt, sang nhất. Sau đó, chạy loanh quanh một hồi, rồi thẳng đường về Indialantic, nơi Thủy có tiệm nail, cách Orlando một giờ lái, dọc theo bãi biển, hướng Miami. Trước khi về nhà, Khen dừng xe, đề nghị xuống bãi biển hóng gió. Đêm mát rượi. Ánh trăng non mờ nhạt. Cư dân đổ xô ra, bước dạo trên cát hay ngồi tụm năm tụm ba chuyện trò. Tại một góc vắng, một thanh niên Mễ vừa đàn guitare vừa hát –giọng giọng trầm ấm vang lên giữa đêm không thua ca sĩ thứ thiệt– những bài trữ tình bằng tiếng Tây Ban Nha trong đó tôi nghe có yêu thương, sum vầy, và có chia lìa, phản trắc, làm lòng buồn vời vợi.

      Khen rót rượu đỏ mời tôi. Tôi muốn Khen kể lại những trận đánh, nhất là trận phục kích trong đó Khen đã cố gắng cứu hai cố vấn Mỹ và được quân đội Mỹ tặng thưởng Anh dũng bội tinh. Tôi muốn Khen nói về những người anh em ruột thịt đã hy sinh cho chính nghĩa quốc gia, trong số có Ngợi, một chiến sĩ can trường thuộc toán người nhái, mà tôi biết rõ. Tôi muốn Khen nhắc đến những cuộc tình tan vỡ.

     Tôi muốn đêm cứ dài vô tận, cho tôi ôm hết thời gian và kỷ niệm diệu kỳ.

 3. Trưa hôm sau, Khen và Thủy trở lại Orlando, “bàn giao” tôi cho vợ chồng Toàn. Khen nói đùa, đúng hơn, “trao trả tù binh”. Toàn và Kim Chi đón nhận “tù binh” với vòng tay rộng mở. Lại uống rượu. Rồi đi ngủ sớm, vì Chi nói, sáng mai có chương trình đi chơi Disney World. Trời nóng, đi bộ rã cả chân, mệt, nhưng vui.

  Tối, Mimi, con gái của Toàn, 23 tuổi, đang học nha sĩ, nấu đãi “bác Quý” một bữa sushi và rượu saké. Kim Chi đề nghị Mimi gọi tôi là “sư tổ”, vì bác là thầy, tức sư phụ, của ba. Tôi không chịu, bắt gọi là “tổ sư”. Trong bữa ăn, Chi nhờ tôi giảng nghĩa chữ dung “cho con tụi em hiểu”. Tôi bảo, Mimi đã có đủ đức tính ấy, không cần giải thích thêm: cháu đẹp, thùy mị, duyên dáng, ăn nói lễ phép. Nhưng rồi, cao hứng, tôi cũng trình bày cặn kẽ về một đề tài tôi thích và “thuộc bài” nhuần nhuyễn. Không biết Mimi có lĩnh hội được gì không, nhưng Chi thì vỗ tay, cho là quá chí lý. Và rồi cao hứng, tôi hứa sẽ đến dự lễ cưới của Mimi, một ngày trong tương lai, nếu được mời.

      Hôm sau, thứ tư 30/6, Chi phải đi làm, còn Toàn lấy thêm một ngày nghỉ nữa, để tiếp tôi. Toàn và Chi bảo tôi, thầy ở chơi ít quá. Tôi cười, cắt nghĩa:

      - Như vậy là nhiều lắm rồi, hai em. Cổ nhân, rất kỹ về chuyện này, có nói: khách và cá sẽ ươn sau ba ngày. Tôi là khách đã ở ba nhà khác nhau, không nhà nào đến ba ngày, như vậy tôi vẫn còn tươi.

      Toàn và Chi gật gù, ngẫm nghĩ lời tôi, chắc đã hiểu vì sao tôi không dự trù ở lâu hơn. Buổi chiều, Toàn đưa tôi ra phi trường, và đứng bên ngoài, lẫn lộn với rừng người tiễn đưa, chờ cho đến khi tôi sắp sửa bước vào trạm chót, vẫy tay chào lần cuối. Tôi cũng giơ tay thật cao, và thật lâu.

4. Thôi nhé, xin chào Orlando, tạm biệt người thân yêu và những đêm hạ mênh mông, xanh thẳm. Tạm biệt thầy Quỳnh, Huy, Huyền, Khen, Thủy, Toàn, Chi, và Mimi, mà bóng hình, như thời gian đã mất tìm thấy trong Le temps retrouvé của Proust, sẽ ở lại vĩnh viễn trong tim tôi.

Portland, 10/7/2010

Kim Thanh