Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Ức Trai Sưu Tầm Y Học phổ quát Những thức ăn vị thuốc theo Tây y

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Những thức ăn vị thuốc theo Tây y

In PDF.

 

Theo  Đông y người ta có thể kể ra nhiều thức ăn được coi là những vị thuốc
dùng  để chữa bệnh. Bây giờ đến lượt Tây y nêu lên một số thức ăn khá thông
dụng  nhưng  được xét dưới một góc độ mới: để phòng và chữa bệnh và trên cơ
sở  những  công trình nghiên cứu dịch tễ học không ở riêng một nước nào, mà
có so sánh trên rất nhiều quần thể dân chúng toàn cầu.

Theo  cách  nhìn mới này, người ta có thể giảm được từ 30 – 60% nguy cơ mắc
những bệnh phổ biến như các bệnh về rim mạch, các ung thư nói chung và ngay
cả bệnh “người già” bệnh Alzheimer. 12 thức ăn được đề cao hàng đầu là:
 

1. Dầu Colza:

Có  khả năng giúp chúng ta phòng tránh ung thư, vì là nguồn acid béo hệ ω-3
rất  tốt. Dĩ nhiên nói như vậy không có nghĩa là bạn thôi không sử dụng dầu
ôliu  nữa vì lẽ dầu ôliu có ưu điểm đặc trưng của nó đối với bệnh tim mạch:
giàu  acid  oleic có 1 nối đôi, nhưng thua dầu colza về thành phần các acid
béo  có  nhiều  nối đôi. Chính là nhờ đặc điểm này àm dầu colza có tác dụng
như  một  vị  thuốc: các động mạch giảm hẳn nguy cơ bị tắc nghẽn vì một cục
máu  động vì dầu colza làm hạ giảm cholesterol LDL có khuynh hướng đóng cáu
vào  thành  mạch. Mặt khác các dây thần kinh ảnh hưởng lên chức năng co bóp
của tim cũng nhậy bén hơn. Nhiều nghiên cứu ở Pháp (BS. Fricker, BV. Bichat
Paris) đã cho thấy bệnh nhân dùng dầu colza giảm hẳn nguy cơ bị nhồi máu cơ
tim,  loạn nhịp tim... và chết đột ngột. Ở Lyon, trên 600 bệnh nhân đã từng
bị nhồi máu cơ tim mà chuyển sang dùng dầu colza 4 năm liên tiếp đã hầu như
được bảo vệ không còn bị tai biến tim mạch nữa, ngoài ra so với những người
cùng hoàn cảnh đã giảm được 60% nguy cơ bị u ung thư. Một số công trình còn
nêu  lên những lợi ích khác của các chất béo hệ ω-3 trên hoạt động của não:
giảm được 50% nguy cơ bị lú lẫn do bệnh Alzheimer.
 

2. Trái xoài:

Giúp cho trẻ lâu. Khi tới mùa, ăn xoài thoải mái sẽ giúp cho người “nghiền”
cung  ứng đủ vitamin E và C, chất sắt và chất xơ nên theo BS. Pierre Dukan,
chuyên  viên  về dinh dưỡng (Pháp), bảo vệ chúng ta khỏi bị phải những bệnh
tim  mạch,  ung thư và lão hóa trước tuổi. Xoài, thì cũng nhiều nước như lê
thôi,  nên  đem lại ít calco, ăn vào không sợ bị dư cân (như ăn chuối chẳng
hạn).
 

3. Hạt óc chó (Noix): Walnut.

Thì không gì bằng để tránh được cơn đau tim. Công trình nghiên cứu ở Boston
(Hoa  Kỳ),  theo  dõi  cách  ăn uống trong 17 năm của 21.500 bác sĩ ch thấy
những  vị  nào  có  thói quen ăn trái óc chó ít nhất 2 lần một tuần là thấy
giảm  hẳn  nguy cơ chết đột ngột vì cơn đau tim được 50% so với những người
chẳng bao giờ ăn. Họ cũng giảm được 30% nguy cơ bị tắc nghẽn động mạch vành
tim  –  ít bị đau thắt ngực: hạt óc chó dồi dào acid béo giàu ω-3 , vitamin
E,  các  chất  polyphenol,  manhê, kali, rặ những chất có tác dụng điều hòa
huyết áp, óc chó cũng giàu chất đạm thực vật giúp cho động mạch “thu giãn”.
Chỉ cần ăn vào mỗi ngày 3 – 4 trái thôi là đạt “liều” tối ưu, song những ai
hơi  “bị”  dư  cân cũng nên coi chừng... tăng ký thêm nữa, vì dầu dù có tốt
đến đâu thì 1g cũng đem lại đủ 9calo!
 

4. Cà chua vũ khí mới chống ung thư

Là nhờ chất lycopene BS. J.M.Bourre GĐ đơn vị nghiên cứu về dinh dưỡng thần
kinh  dược  chất của tổ chức INSERM Pháp, đã có nhận xét lycopene (một chất
carotenoid)  đặc  biệt  dồi  dào trong cà chua chín có tác dụng phòng tránh
được  nhiều  bệnh  ung  thư: ung thư tuyến tiền liệt ở đàn ông, ung thư vú,
buồng  trứng và tử cung ở đàn bà, nhờ tác dụng kháng ôxy hóa chống lại tiến
trình  suy  thoái  tế bào, biến thành tế bào ung thư. Cứ mỗi ngày “đánh” ít
nhất hai quả cà chua (# 100g) chín, rửa sạch “làm” luôn cả vỏ vì lẽ vỏ chứa
gấp  5 lần lycopene, so với phần “thịt”. Không cần ăn tươi, nuốt sống, càng
nấu chín nhừ thành “xốt” càng được hưởng thêm lycopene, nên mua sẵn các xốt
“ketchup”  trên  thị trường làm bằng cà chua chín, cả chín cây lẫn chín nhừ
cũng rất tốt.
 

5. Ăn nhiều rau và trái cây để chống nhiều bệnh, kể cả loãng xương

Nếu  ngày nào, bữa nào cũng có rau, ăn xong có một suất trái cây theo mùa –
ăn  vào  khảong  từ  400  – 600g thì đó là các bạn được bảo vệ không bị các
chứng  bệnh:  đau  thắt  ngực, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não - đặc
biệt  là  nhờ  hàm  lượng  kalicao. Còn ai cũng biết chất xơ và các vitamin
kháng  ôxy  hóa như C, caroten, vitamin E... có tác dụng điều hòa huyết áp,
huyết  đường lượng và cholesterol trong máu... chưa kể là nếu ăn nhiều cam,
quít  và rau cải như dân ở Vùng Địa Trung Hải hay bờ biển Đông thì còn được
xương, răng rắn chắc, không bao giờ bị loãng xương (osteoprosis).
 

6. Ăn dồi và huyết sẽ không bao giờ bị mệt mỏi

Vì có thể coi đây là nguồn sắt quan trọng nhất. Phụ nữ là cần ăn nhất vì lẽ
các  bà các cô hàng tháng thấy kinh rất dễ bị thiếu máu nên so với nam giới
là  có  nhu  cầu  về  sắt luôn luôn lớp gấp 2. Ở Pháp công trình nghiên cứu
Suvimax  cho  thấy là trên 10 phụ nữ (Pháp) thì có tới 2 người cạn kiệt vốn
sắt dự trữ với tất cả hậu quả tất nhiên là mệt mỏi và bị đủ thứ bệnh do sức
đề  kháng  quá  thấp. Nếu bữa ăn sẵn đủ thịt, cá thì cứ 10 ngày cũng nên ăn
một  suất dồi khoảng 150g (như trong cháo lòng, cháo huyết chẳng hạn) là đủ
để  lâm  vào  tình trạng “thiếu máu (do) thiếu sắt”. Ai không thích món dồi
thì  có  thể  chọn  gan thay thế cũng là một nguồn sắt (và nhiều chất khác)
sáng giá bậc nhất.
 

7. Gạo lức và ngũ cốc nguyên cám để không bị cao huyết áp và tiểu đường

Là  những nguồn tinh bột đi kèm theo chất xơ khiến cho không bị hấp thu quá
nhanh  như  gạo  trắng tinh, bánh mì xốp trắng như “bông gòn”, ngoài ra đây
còn  là  nguồn manhê và các vitamin nhóm B dồi dào làm hạ huyết áp, hạ chất
cholesterol  “xấu”  LDL,  và giảm nguy cơ bị đáo tháo đường. Hí dụ như sáng
nay,  thay  vì ăn cháo trắng, thì ăn cháo gạo lức, cháo lúa mạch hay đủ hỗn
hợp  5  cốc  loại càng tốt. Dù là “tốt cho sức khỏe” cũng chỉ nên khuyên ăn
“vừa đủ no” thôi, đừng nhiều hơn.
 

8. Ăn cá béo ít bị chán đời

Cá  biển hay nước lợ như cá hồi, cá thu, cá mòi, cá ngừ... mà 2 – 3 lần một
tuần  là  đủ  cung  cấp các acid báo thiết yếu hệ ω-3  rất tốt cho sức khỏe
chúng  ta  về  mặt tim mạch và nhất là khi tăng thêm tuổi. Ở Hòa Lan các cụ
thuộc  lớp  tuổi  cổ  lai hy, mà có thói quen ăn cá thường xuyên tỏ ra minh
mẫn, lạc quan yếu đời hơn hẳn so với những người cùng tuổi...ít ăn cá. Trên
toàn cầu, người ta cũng nghiệm thấy rằng những nước có mức tiêu thụ cá càng
thấp  chừng  nào thì càng có tỷ lệ người bị trầm cảm cao (theo nhận xét của
BS. J. Fricker, BV. Bichat, Paris). [Có điều ăn lại cá này thì nên tránh ăn
dưới  dạng  đông  lạnh  vì qua thời gian bảo quản quá lâu, acid ω-3 bị phân
hủy,  mất átc dụng... Và mới có cảnh báo là riêng các bà bầu thì nên tar1nh
ăn  cá  biển  lớn nguy cơ bị ngộ độc thủy ngân (bất lợi cho thai nhi) do cá
lớn tích lũy thủy ngân của môi trường bị ô nhiễm].
 

9. Ăn bông cải xanh Brocoli để không bị ung thư:

Bông  cải  xanh có nhiều chất tác  dụng chống lại tiến trình phát triển của
các khối u: như β-caroten, selenium chẳng hạn. Đã có nhiều công trình chứng
minh  người ta càng ăn nhiều bông cải xanh là càng giảm được nguy cơ bị ung
thư ruột kết, ung thư vú và cả ung thư phổi hay ung thư bao tử - tuy có hơi
ít  hơn.  Chất  sulforaphane đặc trưng cho bộng cải xanh ăn vào có thể diệt
sạch  một số dòng vi khuẩn H.pylori đã được chứng minh gây bệnh loét bao tử
và tá tràng.
 

10. Yaourt điều hòa tiêu hóa:

Thức  ăn  quen  thuộc  này  đáng  lưu  ý  vì  mang  lại  các  chất phụ sinh
(probiotics)  cả  thiện thế quân bình giữa vi khuẩn có khả năng gây bệnh và
các vi khuẩn cộng sinh sống nhờ ở gửi ruột kết → do đó điều hòa tiêu hóa và
nhu động nhuận trường cho những người mỗi ngày chỉ cần ăn hai hũ thôi.
 

11. Hành tỏi bảo vệ tim mạch:

Đó  là theo kinh nghiệm lâu đời ngàn năm của những người ăn theo “chế độ ăn
Vùng  địa  Trung  Hải” theo người Ý, miền Nam nước Pháp,... thì tỏi “ta” có
tác  dụng  làm  hạ  Cholesterol và giúp máu lưu thông. Và hơn thế nữa, cũng
nghiệm  thấy những người “không thể nào thiếu hành và tỏi trong bữa ăn” hầu
như  “chẳng  bao  giờ bị ung thư ruột kết cả. Điều này chưa được giải thích
“tại sao”, nhưng các chuyên viên dinh dưỡng trên toàn cầu thì nhất trí công
nhận thực tế này”.
 

12. Một ly rượu vang đỏ mỗi bữa ăn:

Theo  BS.  J-M  Bourre, rượu vang đỏ nhờ những chất polyphenols bảo vệ được
các  tế  bào, giúo cho các động mạch dễ giản nỡ, không bị tắc nghẽn nên rất
tốt  cho  huyết  áp, phòng tránh các tai biến tim mạch như nhồi máu cơ tim,
tai  biến  mạch máu não, viêm động mạch... cụ nào cứ uống ít mà đều đặn thì
đẹp  lão  và  chỉ  bị nguy cơ vướng phải bệnh Alzheimer và lú lẫn bằng ¼ so
với...  những  cụ chẳng bao giờ uống một giọt rượu vang nào! Đó là kết luận
của  Nghiên  cứu  Framingham  thực  hiện  trong  gần  50  năm  tại  Hoa Kỳ.

 

 ==========================================================

 

 
 

 

Top 10 thực phẩm cho khung xương chắc, khoẻ ...

 
 
Bổ sung những thực phẩm hợp lý trong chế độ ăn hàng ngày giúp xương chắc khoẻ và giảm tối đa nguy cơ mắc bệnh loãng xương khi bước vào độ tuổi trung niên.
 
 
1. Càng cua
Càng cua rất giàu protein và ít chất béo, phần thịt trong càng cua có chứa nhiều kẽm, khoảng 7 miligrams kẽm trong 100g thịt càng cua. Kẽm có tác dụng chống lại quá trình ôxy hoá, hỗ trợ giúp xương chắc khoẻ và cải thiện hệ miễn dịch, giảm viêm nhiễm đường hô hấp
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan mật thiết giữa việc cung cấp đủ kẽm và khả năng miễn dịch của cơ thể. Vậy nên, mỗi tuần nên bổ sung cua trong chế độ ăn 1 lần, khẩu phần khoảng 200g cua /người.
 
 
 

 


 2. Mận sấy khô
 
Mận sấy khô rất tốt cho hệ xương.
 
 
Trong mận sấy khô có chứa nhiều đồng và boron giúp ngăn ngừa chứng loãng xương, chất xơ inulin có hiệu quả với các vi khuẩn đường ruột, tốt cho hệ tiêu hoá vì thế giúp cơ thể hấp thu canxi hiệu quả. Nên ăn từ 4 - 5 quả mận sấy khô mỗi ngày để tăng cường năng lượng và độ chắc khoẻ của xương.
 
 
3. Cải chíp
 
 
 

 


Trong cải chíp rất giàu canxi cho xương chắc khoẻ, vitamin A, C, axit folic, sắt, beta- carotene và kali. Kali rất tốt cho hệ thần kinh, các cơ bắp và giảm huyết áp. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng beta - carotene giúp giảm nguy cơ ung thư bàng quang và ung thư phổi. Nên ăn 1 bát rau cải chíp mỗi ngày.
 
 
4. Con hàu  
 
 
 

 


Hàu và các loại tôm, cua, sò, hến  là nguồn kẽm, canxi, đồng, sắt, iot, kali và selen tuyệt vời. Tuy nhiên hàu xếp vị trí  đầu bảng với khả năng tăng cường lượng testosterone, bảo vệ cơ thể ngăn ngừa bệnh ung thư tuyến tiền liệt. 
 
5. Chuối
 
 
 

 


Trong chuối có tập trung lượng trytophan và serotonin cao, đặc biệt là kali- chất điện phân ngăn ngừa mất canxi của cơ thể. Chuối cũng rất tốt cho hệ thần kinh, tăng cường khả năng miễn dịch và giúp cơ thể chuyển hoá protein.
 
Ăn 1 quả chuối mỗi ngày giúp cung cấp lượng kali và carbohydrate cần thiết cho cơ thể. 
 
 
6. Kiwi
 
 
 

 


Trong quả kiwi có chứa nhiều kali giúp bảo vệ xương, giàu vitamin C và lutein giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Kiwi còn tăng cường năng lượng cho cơ thể. Nên ăn kiwi cả vỏ vì vỏ kiwi chứa nhiều dưỡng chất và không độc.
 
 
7. Súp lơ xanh  
 
 
 

 


Trong bông cải xanh có chứa lượng canxi, mangan, kali, phốt pho, magiê và sắt khoẻ mạnh. Ngoài ra còn chứa nhiều vitamin A, C, K và phytonutrient sulforaphane mà theo các nghiên cứu tại Đại học Johns Hopkins thì các chất này là có khả năng chống ung thư hiệu quả. Chất indole-3-carbinol trong bông cải xanh giúp giảm lượng estrogen thừa.
Các loại rau cải bắp, cải xoăn cũng chứa nhiều vitamin và chất khoáng tốt cho sức khoẻ.
 
 
8. Rau bina  
 
 
 

 


Rau bina rất giàu vitamin K giúp tăng độ chắc khoẻ của cơ bắp và tăng mật độ chất khoáng trong xương, chống loãng xương và giảm gãy xương. Rau bina cũng giàu canxi, phốt pho, kali, kẽm và selen giúp bảo vệ gan và bệnh Alzhimer.
Nghiên cứu đăng trên Tạp Chí Dinh Dưỡng chỉ ra rằng chất carotenoid neoxanthin trong rau bina có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư tuyến tiền liệt, beta- carotene chống lại ung thư ruột kết. Nên ăn rau bina 4 lần 1 tuần.
 
9. Tỏi tây  
 
 
 

 


Các loại rau thuộc họ hành tỏi có chứa nhiều thiamine, riboflavin, canxi và kali giúp tăng độ chắc khoẻ của xương. Lượng axit folic và vitamin B thấp có thể ảnh hưởng xấu đến amino axit homocystein trong máu. Ăn tỏi tây giúp cung cấp cho cơ thể lượng axit folic và vitamin B cần thiết. Hơn nữa tỏi tây còn hỗ trợ chức năng tình dục và giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.
 
 
10. Atisô
 
 
 

 


  Được biết từ lâu với tác dụng kích thích tình dục, atisô rất giàu chất xơ, chứa nhiều magiê và kali giúp xương chắc khoẻ. Lá cây atisô giàu flavonoids và polyphenols - chất chống ôxy hoá giúp giảm nguy cơ đột quỵ và vitamin C giúp cải thiện hệ miễn dịch.


 ========================
 
> Đu đủ là thực phẩm chứa nhiều carotenoid nhất. Chất này có khả năng chống ôxy hóa rất mạnh, rất hữu ích trong việc phòng chống các bệnh tim mạch và ung thư.
> Ngoài carotenoid, đu đủ cũng rất giàu các vitamin A, B, C và khoáng chất. Trong y học cổ truyền Nam Mỹ, đu đủ được đánh giá cao trong việc trị bệnh tiểu đường, hen suyễn và ký sinh trùng đường ruột.
> Các thầy thuốc Đông y tin rằng đu đủ có hiệu quả trong việc điều trị bệnh ho lao nếu được dùng đều đặn trong thời gian dài. Đu đủ còn được đánh giá cao trên lĩnh vực thực phẩm chức năng nhờ các enzym như papain, có tác dụng giống như men pepsin của dạ dày hoặc trypsin của dịch tụy, hết sức hiệu quả trong việc phân hủy các hỗn hợp protein. Nó đặc biệt tốt với các trường hợp xơ hóa túi mật, tiêu hóa khó khăn và nóng rát dạ dày, thiểu năng tuyến tụy.
> Đu đủ là loại quả tráng miệng tốt sau các bữa ăn để bổ sung vitamin thiên nhiên, nhất là bêta caroten (khi vào cơ thể được biến dưỡng thành vitamin A). Loại quả này góp phần hỗ trợ sự tiêu hóa sau những bữa ăn gây nặng bụng; có thể dùng nước ép uống khi có rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy, viêm ruột, kể cả trẻ em trong thời kỳ mọc răng. Tuy nhiên, không nên dùng quá nhiều vì có thể dẫn đến vàng da.
> Đu đủ non hầm móng giò là một món ăn tạo sữa rất quen thuộc cho các bà mẹ đang cho con bú. Đu đủ xanh giúp bà nội trợ hầm các loại thịt dai cho mau mềm.
> Tại các quốc gia nhiệt đới, người ta dùng nhựa đu đủ xanh hoặc hạt làm thuốc chống ký sinh trùng đường ruột như tẩy giun kim, giun đũa, sán heo... dưới dạng thuốc sắc. Nước sắc này còn có tác dụng kích thích chức năng gan, mật.
>
>
> Công dụng chữa bệnh của quả đu đủ


> Ngay từ khi phát hiện ra châu Mỹ, nhà thám hiểm lừng danh Christophe Columbus đã tôn vinh đu đủ là “chúa tể” của các loài quả (fruit of the angels) bởi nó có hương vị thơm ngon, dễ ăn và có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Một trong những hợp chất hàng đầu của đu đủ là papain, đây là loại enzyme có lợi cho hệ thống tiêu hóa của con người, hạn chế virus, vi trùng gây bệnh.
> Thành phần dưỡng chất chính
> Đu đủ tên khoa học là Carica Papaya L., cao từ 6 - 7 mét, lá có nhiều ở phần ngọn, chia làm 6 - 7 thùy hình trứng, mép có răng cưa, lá to, cuống rỗng dài 30 - 50cm, hoa có màu trắng nhạt, quả hình trứng dài 20 - 30cm, đường kính 15 - 20cm, lúc đầu có màu xanh, chín chuyển sang màu vàng. Khi chín, quả đu đủ có chứa 90% nước, 13% đường, không có tinh bột, nhiều caretenoid acid hữu cơ, các loại vitamin A, B, C, protein; 0,9% chất béo, xenlulo; 0,5% canxi, ma nhê và các chất đạm chống oxy hóa nên có tác dụng tốt cho hệ thống tim mạch, ngăn ngừa bệnh ung thư kết tràng. Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều papain, loại enzyme rất hữu ích giống như bromelain có trong dứa, tốt cho tiêu hóa, chữa chấn thương, dị ứng...
>
> Tác dụng bảo vệ tim mạch
> Theo rất nhiều nghiên cứu cho thấy, đu đủ có tác dụng tốt trong việc phòng ngừa bệnh tim mạch ở những người mắc bệnh đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch, vì đu đủ có chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C, E và A, các dưỡng chất này có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol, hạn chế các mảng tiểu cầu do quá trình oxy hóa cholesterol tạo ra bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được. Vitamin E và C của đu đủ kết hợp tạo ra hợp chất có tên là paraoxonase, hay còn gọi là enzyme, có thể ức chế quá trình oxy hóa tạo ra các cholesterol xấu (LDL). Ngoài ra, đu đủ còn là loại quả giàu chất xơ nên có tác dụng làm giảm mỡ máu (cholessterol) , riêng acid folic có trong đu đủ có tác dụng làm chuyển hóa
> homocysteine thành acid amino cần thiết như cysteine hoặc methionine. Nếu không được chuyển hóa thì homocysteine có thể gây phá hủy trực tiếp các mạch máu, thậm chí nếu cao, có thể gây bệnh đau tim hoặc đột quỵ.

> Tăng cường sức khỏe cho hệ tiêu hóa
> Từ lâu, khoa học đã nghiên cứu và phát hiện thấy ăn đu đủ có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư kết tràng. Chất xơ có trong đu đủ có thể “thu gom” các độc tố gây bệnh trong kết tràng và bảo vệ tế bào khỏe mạnh trước nguy cơ bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, trong đu đủ còn có chứa các dưỡng chất như: folate, vitamin C, beta-carotene, vitamin E có tác dụng giảm thiểu bệnh ung thư kết tràng, đặc biệt là ngăn ngừa sự tấn công của các gốc tự do gây tổn thương ADN. Vì vậy, tăng cường ăn đu đủ cũng là biện pháp phòng ngừa ung thư kết tràng rất tốt cho mọi người.
> Thuốc chống viêm nhiễm
> Trong đu đủ có chứa 2 hợp chất quan trọng có tên là papain và chymopapain, đây là 2 loại enzyme tiêu hóa protein hiệu quả, có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thương. Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều vitamin C, E và betacarotene nên có tác dụng phòng ngừa viêm nhiễm ở mức cao nhất, bởi vậy những người bị bệnh hen suyễn, thấp khớp thường được bác sĩ kê đơn cho dùng các dưỡng chất nói trên.
> Tăng cường sức đề kháng
> Vitamin C và A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn, nhất là nguy cơ phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như: cảm, cúm, viêm tai...
> Ngăn ngừa nguy cơ thoái hóa điểm vàng
> Trên tạp chí Nhãn khoa (AOO) của Hoa Kỳ số ra đầu năm 2009, đã khuyến cáo người ta nên ăn 3 xuất rau xanh hoa quả mỗi ngày (mỗi xuất tương đương 1 bát nhỏ), sẽ giảm được nhiều nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng có liên quan đến tuổi tác (AMRD). Cụ thể làm giảm được tới 36% nguy cơ so với những người chỉ ăn 1 - 1,5 xuất. Loại hoa quả tốt nhất có thể ngăn ngừa bệnh ARMD bao gồm: cà rốt, đu đủ vì đây là loại quả có chứa nhiều vitamin C, A, E, carotenoid, chất chống oxy hóa. Có thể chế biến đu đủ dưới dạng xa lát, nước ép hoặc ăn trực tiếp.
> Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp
> Mặc dù sử dụng liều cao vitamin C có thể làm tăng nguy cơ bệnh loãng xương nhưng vitamin C có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh polyarthiritis, một dạng bệnh viêm khớp dạng thấp. Kết luận trên được dựa theo nghiên cứu với hơn 20.000 người sử dụng vitamin C có trong đu đủ và phát hiện thấy có tác dụng rất cao trong việc ngăn ngừa viêm nhiễm gây đau nhức ở người bệnh.
> Tăng cường chức năng phổi
> Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A, trong đó có đu đủ. Theo nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Kansas (Hoa Kỳ) cho thấy, đây là dưỡng chất có tác dụng ngăn ngừa bệnh viêm nhiễm phổi và bệnh khí phế thũng (enphysema) do hợp chất carcinogen trong khói thuốc lá và benzopyrene trong khói thuốc lá gây ra, nó làm tăng nguy cơ thiếu hụt vitamin A ở con người, nhất là ở nhóm người cao tuổi.
> Thuốc ngừa ung thư tiền liệt tuyến
> Ăn thường xuyên thực phẩm giàu lycopen như đu đủ và uống chè xanh đều đặn, sẽ có tác dụng tích cực đối với đàn ông trong việc giảm thiểu bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Đây là khuyến cáo mới nhất công bố trên tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng châu Á – Thái Bình Dương số ra tháng 2 vừa qua, dựa trên nghiên cứu ở 130 bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến đang điều trị tại 274 bệnh viện. Theo đó, những người có thói quen uống chè xanh giảm được 86% nguy cơ mắc bệnh so với những người không dùng chè xanh, còn những người có thói quen ăn các loại thực phẩm giàu lycopen như: đu đủ, cà chua, cà rốt, nho thẫm màu, dưa hấu... thì giảm được tới 82% nguy cơ mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến so với nhóm người không ăn các thực phẩm này. Bởi vậy, các
> chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo đàn ông nên tăng cường sử dụng 2 loại thực phẩm nói trên để hạn chế nguy cơ mắc bệnh.
> Dùng đu đủ chữa bệnh và bồi dưỡng cơ thể
> Men papain trong đu đủ có tác dụng giúp tiêu hóa chất đạm. Nó cũng giúp kìm hãm một số vi trùng gây bệnh như gram và tiêu diệt nhiều vi trùng khác như staphillococcus, thương hàn.
> Đu đủ chín chứa khoảng 13% đường, không có tinh bột, nhiều caroten, acid hữu cơ, các vitamin A, B, C và khoáng chất. Đu đủ xanh ngoài các chất trên còn có nhiều nhựa mủ latex màu trắng đục - là hỗn hợp của nhiều men tiêu hóa chất đạm, chủ yếu là papain. Ngoài các tác dụng kể trên, men này còn có khả năng làm đông sữa và giảm độc đối với toxin và toxanpunin.
> Bộ phận dùng làm thuốc của đu đủ gồm rễ, lá, hoa, hạt và nhựa. Nhựa papain thô và tinh chế được sử dụng thay thế pepsin và pancreatin trong điều trị rối loạn tiêu hóa do thiếu men, giúp tiêu hóa tốt chất đạm trong thức ăn. Nhựa và hạt đu đủ dùng làm thuốc tẩy nhiều loại giun (trừ giun móc ankylostome) . Chất cacpain trong các bộ phận này có tác dụng làm chậm nhịp tim. Hạt đu đủ còn có tính kháng khuẩn mạnh, dùng ngoài để làm sạch vết thương bẩn, nhiễm trùng.
> Cần lưu ý tác dụng ngừa thai, gây sẩy thai của papain do hoạt tính của nó đối với progesteron của thai phụ.
> Công dụng cụ thể
> - Quả đu đủ xanh nghiền nát với nước, dùng bôi để chữa các vết tàn nhang ở mặt và tay, còn dùng chữa chai chân và bệnh eczema...
> - Rễ đu đủ sắc uống có tác dụng cầm máu trong bệnh băng huyết, sỏi thận...
> - Hoa đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với đường phèn dùng chữa bệnh ho, viêm cuống phổi, khàn tiếng hoặc mất tiếng ở người lớn. Với trẻ em, hái 5-10 hoa đực đem sao vàng, thêm đường phèn hấp hoặc chưng khi nồi cơm cạn nước, cho trẻ uống trong ngày.
> - Đu đủ chín là một món ăn giúp bồi bổ cơ thể và tiêu hóa tốt các chất thịt, lòng trắng trứng; Khi hầm các loại thịt, xương cứng, người ta thường cho quả đu đủ xanh vào để thức ăn mau nhừ...
>
>
>
> Lá Đu Đủ là thần dược trỉ bệnh ung thư và tiểu đường
> Chống ung thư bằng lá đu đủ
> Quản trị viên Y học phổ quát .
>
> MIAMI, Florida (AFP) - Chất chiết xuất từ lá đu đủ và nước trà của nó có những tính năng chống ung thư đáng kể đối với nhiều loại u bướu khác nhau, hỗ trợ một sự tin tưởng phổ biến trong một số các phong tục dân gian, theo một bản nghiên cứu mới công bố.
> Bác Sĩ Nam Dang, một nhà nghiên cứu tại đại học University of Florida, và các đồng nghiệp tại Nhật, trong một báo cáo được đăng tải trong số ra ngày 17 tháng 2 của Tạp Chí Dược Lý Dân Tộc (Journal of Ethnopharmacology) , đã dẫn chứng bằng tài liệu hiệu quả chống ung thư của đu đủ đối với các u bướu cổ tử cung, vú, gan, phổi và tụy tạng (pancreas).
>
> Các nhà nghiên cứu sử dụng một chất chiết xuất từ lá đu đủ khô, và các hiệu quả mạnh hơn khi các tế bào nhận được những liều lượng lớn hơn về trà bằng lá đu đủ.
>
> Ông Dang và các khoa học gia khác chứng tỏ rằng chiết xuất lá đu đủ thúc đẩy cơ thể sản xuất ra những phân tử truyền tin then chốt được gọi là các cytokines loại Th1, là các protein giúp điều hợp hệ thống miễn nhiễm.
>
> Ðiều này có thể đưa tới những phương cách trị liệu sử dụng hệ miễn nhiễm để chống những bệnh ung thư, các nhà nghiên cứu nói trong số tháng 2 của tờ tạp chí và được trường đại học công bố hôm Thứ Ba.
>
> Ðu đủ đã được sử dụng như một phương thuốc dân gian cho nhiều thứ bệnh khác nhau tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Á Châu.
>
> Ông Dang nói các kết quả phù hợp với những báo cáo từ những thổ dân ở Úc và tại Việt Nam quê hương của ông.
> Các nhà nghiên cứu nói chiết xuất đu đủ không có bất cứ hậu quả độc hại nào cho các tế bào lành mạnh, tránh được một phản ứng thông thường của nhiều cách điều trị ung thư.
>
> Các nhà nghiên cứu đã cho tiếp xúc 10 loại mẻ cấy tế bào ung thư khác nhau với bốn liều chiết xuất lá đu đủ và đo lường hiệu quả sau 24 giờ. Ðu đủ làm chậm sự phát triển các u bướu trong tất cả các mẻ cấy.
>
> Ông Dang và các đồng sự đã nộp đơn xin bằng sáng chế tiến trình chưng cất chiết xuất đu đủ thông qua trường Ðại Học Tokyo. Bước kế tiếp trong cuộc nghiên cứu là xác định các hợp chất đặc biệt trong chiết xuất đu đủ có tác dụng tích cực chống lại các tế bào ung thư. (n.n.)
>
> > Bạn biết gì về cây đu đủ?
> Ðu đủ còn có tên là Lô hong phlê (Campuchia), Mắc hung (Lào), Phiên mộc. Tên khoa học là Caricapapaya L., thuộc họ đu đủ.
> Là cây trồng phổ biến ở nước ta. Thân thẳng, cao từ 3-7m đôi khi có phân nhánh. Vỏ mang nhiều sẹo của cuống lá. Lá mọc so le ở ngọn cây, phiến lá rộng, to chia làm 6-9 thùy, thùy hình trứng nhọn mép có răng cưa không đều. Cuống lá rỗng và dài 30-50cm. Hoa trắng nhạt hay xanh nhạt. Hoa đực mọc ở kẽ lá thành chùy có cuống rất dài. Hoa cái có tràng dài hơn tràng của hoa đực, mọc thành chùy ở kẽ lá. Quả thịt hình trứng to dài 20-30cm, đường kính 15-20cm. Thịt quả dày, lúc đầu có màu xanh lục, sau ngả màu vàng cam. Trong ruột quả có nhiều hạt to đen bằng hạt tiêu, xung quanh có lớp nhầy.
> Giống đu đủ CO5 (Ấn Ðộ) có hàm lượng 14-15g pagain khô/1 quả, trong khi trước đây chỉ có 3-4g/quả, có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ. Tại nước ta được trồng ở khắp nơi nhưng chưa đi vào quy mô công nghệ. Sau khi trồng 8-10 tháng đã có thể bắt đầu thu hoạch, nhưng năng suất cao nhất là từ năm thứ 3 trở đi.
> Trước hết đu đủ là một loại thực phẩm thông dụng:
> Ðu đủ chín có vị thơm ngon, cung cấp nhiều beta caroten (là một tiền chất của vitamin A), vào cơ thể sẽ được chuyển hóa thành vitamin A. Ðây là một loại vi chất dinh dưỡng có vai trò là chất chống oxy hóa mạnh, chống khô mắt, khô da và có tác dụng nhuận tràng, nồng độ đạt 2.100 mcg beta caroten/100g ăn được. Tuy nhiên nhu cầu beta caroten cũng cần vừa phải, nếu ăn quá nhiều, liên tục sẽ dẫn đến thừa và gây vàng da cho trẻ. Thậm chí cả trẻ nhỏ đang bú mẹ, nếu mẹ thừa beta caroten sẽ bài tiết qua sữa sang con và gây vàng da cho trẻ. Rất may là hiện tượng vàng da này sẽ mất nếu giảm lượng beta caroten ăn vào.
> Ðu đủ xanh có nhiều men papain, tác dụng giống như pepsin của dạ dày, nhất là giống Trypsin của tụy trong việc tiêu hóa chất thịt. Ở nước ta, gỏi đu đủ trộn vừng lạc là món ăn rất phổ biến. Ngoài ra người ta còn dùng đu đủ xanh nấu với thịt để chóng nhừ hoặc nấu cháo cùng thông thảo, ý dĩ và móng giò cho các phụ nữ đang cho con bú.
> Ðu đủ còn có tác dụng như một vị thuốc:
> - Hoa đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với đường phèn dùng chữa ho, mất tiếng.
> - Nước sắc lá đu đủ dùng giặt vết máu trên vải, rửa vết thương, vết loét. Lá tươi dùng gói thịt gà để khi nấu chóng mềm. Trong lá, quả, hạt đu đủ còn có chất cacpain với tác dụng làm chậm nhịp tim, có người đã dùng làm thuốc chữa tim. Lá đu đủ thái nhỏ trộn với thóc dùng chữa bệnh biếng ăn cho bò, ngựa.
> - Nhựa đu đủ được coi là vị thuốc tẩy giun. Tác dụng trên giun đũa, giun kim và sán lợn nhưng không có tác dụng trên giun móc. Tuy nhiên cần lưu ý nếu cho lợn ăn lá đu đủ để tẩy giun, lợn thường bị xuống cân và khó vỗ trở lại. Nhựa đu đủ còn dùng ngoài chữa chai chân và hột cơm.
> - Rễ đu đủ được dân gian sắc làm thuốc cầm máu.
> Như vậy cây đu đủ rất có ích cho con người, có thể sử dụng được tất cả các phần, từ hoa, lá, rễ cho đến nhựa cây. Ðặc biệt đu đủ còn là nguồn cung cấp vitamin A tự nhiên rất tốt.?
> Dưới đây là một tài liệu khác để bạn nghiên cứu (Theo Gold Coast Bulletin 04/92) người viết không chịu trách nhiệm về bất cứ sự việc gì nếu bạn quyết định dùng thử).
> Năm 1978, ông già Stan Sheldon 70 tuổi_một tay cá ngựa chuyên nghiệp ở vùng Southport Queensiand (Úc Châu) mắc bệnh ung thư phổi rất nặng. Bác sĩ cho biết chỉ còn 05 tháng nữa là ông sẽ vĩnh biệt trần gian vì chứng ung thư đã lan truyền quá nhanh ở hai lá phổi, không cách nào chữa trị được. Nhờ một thổ dân ở Gold Coast mách nước, ông lấy lá đu đủ tách lá ra khỏi cọng, rồi tước cọng ra từng sợi nhỏ, sau đó đun sôi cả lá & cọng trong vòng 02 tiếng đồng hồ, xong chắt nước ra uống mỗi ngày 03 lần, mỗi lần 200ml. Sau 02 tháng uống lá đu đủ theo công thức này, ông Sheldon đến bác sĩ khám lại & các bác sĩ chuyên khoa rất ngạc nhiên nhận thấy rằng những dấu hiệu của ác tính đã hoàn toàn biến mất.
> Sau đó, tin này được phổ biến trên tờ Gold Coast Bulletin vào tháng 05-1978 đã giúp cho bà June Bennett 63 tuổi cư ngụ tại Postville Beach Queensland cũng thoát được chứng bệnh hiểm nghèo này. Vào tha'ng 07 cùng năm bà được bác sĩ chẩn đoán đã bị ung thư phổi & đã được đưa tới bệnh viện Prince Charies để điều trị. Các bác sĩ cho biết rằng bà chỉ còn 02 tháng nữa để sống. Chồng bà là ông Merv đọc được cách chữa trị ung thư của ông Sheldon & la`m theo như vậy với hy vọng còn nước còn tát, may ra cứu sống được vợ mình. Bà June uống liên tiếp nước lá đu đủ trong 03 tháng rồii ngưng uống 03 tháng & sau đó lại tiếp tục uống 03 tháng nữa. Lần này, bà đến bệnh viện Prince Charles để chụp hình phổi nhưng các bác sĩ Vẫn tin rằng chứng ung thư vẫn còn &
> đang giết chết dần bà, mặc dầu bà đã sống thêm được 07 tháng theo dự báo cái chết mà họ đã dành cho bà.
> Ba năm sau, bà June vẫn khoẻ mạnh như thường cho tới khi một chứng ung thư xương phát trển trong cơ thể của bà. Lại một lần nữa, bác sĩ lại cho rằng bà chỉ còn từ 02 tuần đến 02 tháng để sống. Bà trở về nhà, lại bắt đầu uống lá đu đủ để kéo dài sự sống cho tới mùa Giáng sinh với hy vọng thấy được mặt đứa cháu đầu tiên chào đời. Hy vọng của bà đã được toại nguyện, bà đã được lên chức "Bà".
> Trong cuộc tiếp xúc với ký giả Frank Hampson của tờ Gold Coast Bulletin, bà June Bennett cho biết rằng: "Sự hiệu nghiệm của loại thuốc lá đu đủ là điều căn bản, tuy nhiên, đức tin của con người cũng là một yếu tố góp phần trong việc trị bệnh.
> Các nhà nghiên cứu bệnh ung thư tại Hoa Kỳ đã nỗ lực cung cấp những thông tin khoa học cho nhu cầu chế biến lá đu đủ trở thành một dược phẩm hoàn hảo cho nhân loại. Bác sĩ Jerry Me Laughlin thuộc viện đại học Purdue University đã cách ly ra một hợp chất hoá học lấy trong cây đu đủ _ hợp chất này được xác định mạnh gấp một triệu lần hơn loại dược phẩm trị ung thư mạnh nhất đã có hiện nay.
> Ở Việt Nam, đu đủ là một loại cây rất là phổ biến. Bông đu đủ đực là món ăn hàng ngày của đồng bào Thổ miền Bắc. Ở nông thôn, khi bị cảm nắng, người ta dùng bông đu đủ đực cùng những loại lá cây khác để xông. Những năm mất mùa liên tục có nhiều vùng nông thôn miền Trung phải ăn cả rễ & thân cây đu đủ thay sắn khoai để đỡ đói lòng. Như vậy, nếu bạn hay người thân chẳng may bị mắc bệnh ung thư hiểm nghèo có thể dùng thử nước lá đu đủ theo các chỉ dẫn của ông Sheldon biết đâu sẽ có kết quả không ngờ…….
> Chính bác sĩ khoa ung thư Rob Hitchins, Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Úc Ðại Lợi đã tuyên bố trên báo chí rằng: "Sự việc lá đu đủ trị được bệnh ung thư đã không làm tôi ngạc nhiên tí nào."
> Những chứng bệnh ung thư mà tác giả được biết sau khi uống nước lá đu đủ xong đều có kết quả là:
>
> Tiểu đường.
> Ung thư bao tử
> Ung thư bướu tử cung.
> Nếu trong gia đình bạn hoặc người thân có những ai mắc bệnh như trên thì nên hướng dẫn họ tìm lá đu đủ về nấu uống & sẽ thấy rất có kết quả
>
> CÁCH NẤU LÁ ÐU ÐỦ:
> ============ ======
> Nếu lá lớn lấy khoảng 05 lá [lá nhỏ thì khoảng 07 lá] & tách nhỏ riêng ra theo cọng & lá. Sau đó rửa sạch rồi cho vào siêu[dùng để "sắc" thuốc Bắc] xếp theo từng lớp & ép xuống càng sát càng tốt. Xong cho nước vào khoảng 01 liter nước. Thông thường nếu ta dùng siêu nấu thuốc bắc thì đổ nước đầy gần đến miệng của siêu.
> Kế đến cho lửa thật lớn đến khi nước đã sôi. Khoảng 15 phút sau cho lửa nhỏ lại & cứ tiếp tục để lửa nhỏ như thế trong vòng 02 tiếng đồng hồ với mục đích là để cho mủ tiết ra hoàn toàn từ cọng & lá của đu đủ.
> Sau đó ta có thể uống nóng hoặc nguội tùy theo sở thích của từng người theo như sự chỉ dẫn ở phần đầu của trang lá đu đủ & bệnh ung thư.
> ------------ --------- --------- --------- --------- --------- --------- --------- -----
> Bài thuốc từ đu đủ
> Nếu bạn bị chứng ít ngủ, hay hồi hộp, hãy lấy đu đủ chín, chuối, củ cà rốt mỗi thứ 100 g; xay trong nước dừa non nạo. Thêm mật ong cho đủ ngọt, uống cách ngày.
> Trong 100 g đu đủ có 74-80 mg vitamin C và 500-1.250 IU caroten. Đu đủ còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men và khoáng chất như kali, canxi, magiê, sắt và kẽm. Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét. Do có nhiều sinh tố C và caroten nên đu đủ có tác dụng chống oxy hóa, tăng sức đề kháng cho cơ thể.
> Người ta còn dùng nhiều bộ phận của cây đu đủ để làm thức ăn và làm thuốc. Đu đủ xanh hầm với mọi loại thịt động vật đều làm cho thịt mềm. Ở nước ta, bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ thường ăn chân giò hầm với đu đủ xanh để có nhiều sữa.
> Dân gian dùng hạt đu đủ đực chữa hen phế quản bằng cách chưng hoặc hấp cơm cho trẻ uống. Có công trình nghiên cứu còn cho rằng hạt đu đủ có thể chữa bệnh tim...
> Ở Ấn Độ, Xrilanca và Mailaysia, người ta dùng lá, hạt và quả đu đủ xanh để phá thai. Các công trình nghiên cứu cho thấy tác dụng ngừa thai có được là do chất nhựa papain, có nhiều trong quả xanh, lá, hạt đu đủ. Quả đu đủ đã chín ít nhựa thì không còn tác dụng đó nữa. Gần đây, một số nhà khoa học cho rằng, tác dụng trên là do nhựa đu đủ đã phá hủy progesterol là trợ thai tố. Khi vào cơ thể, tác dụng của nhựa sẽ tăng mạnh 25 lần so với khi ở ngoài.

> Một số bài thuốc:
> - Chữa gai cột sống: Hạt đu đủ đem xát cho sạch phần nhớt bao quanh, giã nát trong túi vải rồi đắp lên vùng đau. Mỗi lần chỉ đắp tối đa 30 phút và theo dõi để tránh bị bỏng. Ngày làm một lần, liên tục trong 20-30 ngày.
> - Trị giun kim: Ăn đu đủ chín vào buổi sáng lúc đói, liên tục 3-5 hôm.
> - Viêm dạ dày mãn tính: Đu đủ, táo tây, mía mỗi thứ 30 g sắc uống.
> - Ho do phế hư: Đu đủ 100 g, đường phèn 20 g hầm ăn.
> - Tỳ vị hư nhược (ăn không tiêu, táo bón): Đu đủ 30 g, khoai mài 15 g, sơn tra 6 g, nấu cháo.
> - Đau lưng mỏi gối: Đu đủ 30 g, ngưu tất 15 g, kỷ tử 10 g, cam thảo 3 g sắc uống.
>
> Những điều chưa biết về quả đu đủ
> Quả đu đủ vốn ngọt ngào, căng mọng và thật sexy, quyến rũ. Đu đủ được coi là loại quả của thiên thần. Hơn thế, đu đủ giúp cải thiện sức khỏe hệ tiêu hóa, làm sạch đường ruột, tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ phổi và khớp và cũng là “vũ khí” chống ung thư hiệu quả.
> Những nghiên cứu mới nhất cho thấy nó có thể làm ngừng sự tăng trưởng của các tế bào ung thư vú, di căn và bình thường hóa vòng đời của tế bào
> Làm ngừng sự phát triển của ung thư vú
> Các nhà khoa học đã nghiên cứu 14 thực phẩm thực vật được ăn phổ biến ở Mexico để xác định khả năng làm ngừng sự phát triển của các tế bào ung thư vú. Những loại quả được nghiên cứu gồm có quả bơ, ổi, xoài, dứa, nho, cà chua và đu đủ… Đây đều là những thực phẩm rất giàu beta-carotene, phenol, axit gallic và các chất chống ôxy hóa. Họ phát hiện thấy chỉ duy nhất có đu đủ là có thể làm ngừng sự phát triển của tế bào ung thư vú. Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí quốc tế Journal Food Science & Nitrition vào tháng 5 năm 2009.
> Nguồn lycopene chống ung thư dồi dào
>
> Màu cam rực rỡ của đu đủ cho thấy sự hiện diện của chất chống ung thư cực mạnh carotenoids. Không chỉ beta-carotene, lycopene cũng được tìm thấy với lượng rất phong phú. Các nhà khoa học ở trường ĐH Illinois (Mỹ) cho rằng hoạt động của các chất chống ôxy hóa này có tác dụng chống ung thư. Các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa việc ăn nhiều lycopene và nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt. Họ chỉ ra rằng nạp càng nhiều lycopene màu cam thì thì nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt càng thấp.

> Nghiên cứu tại Australia trên 130 bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt cho thấy những nam giới ăn nhiều hoa quả và rau xanh giàu chất lycopene nhất như đu đủ sẽ giảm 82% nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt. Trong nghiên cứu này, trà xanh cũng được đưa vào như một chất kháng ung thư mạnh. Khi những thực phẩm giàu chất lycopene được kết hợp với trà xanh, hiệu quả sẽ tăng lên.

> Phục hồi sự tái tạo của tế bào để loại trừ ung thư

> Hợp chất organo-sulfur được gọi là isothiocyanates tìm thấy rất nhiều trong đu đủ. Thí nghiệm trên động vật cho thấy isothiocyanates bảo vệ cơ thể chống lại bệnh ung thư vú, ung thư phổi, ung thư ruột kết và tiền liệt tuyến cũng như bệnh máu trắng. Và thực tế là chúng có thể phòng ung thư ở người bởi isothiocyanates có khả năng ngặn chặn sự lan truyền và phát triển của tế bào ung thư.

> Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã làm rõ được cơ chế hoạt động của 1 loại isothiocyanate tìm thấy trong đu đủ, có tên BITC, là cơ sở cho mối liên hệ giữa sự điều chỉnh của sự tái tạo và chết đi của tế bào. Khi tế bào ung thư chết đi, chúng sẽ không còn là vấn đề nữa.
> Đồng hóa các protein làm nhiệm vụ bảo vệ khối u ác tính
>
> Quả và một số bộ phận trên cây đu đủ như lá, có chứa papain và chymopapain, những enzym bảo vệ mạnh mẽ mà có thể tạo ra những phản ứng dễ dàng trong cơ thể. Chúng cải thiện hệ tiêu hóa bằng cách giúp bẻ gãy các protein trong thực phầm thành axit amino mà có thể được kết hợp để tạo ra các protein mới trong cơ thể.

> Enzym proteolytic bảo vệ cơ thể khỏi sự viêm nhiễm và giúp làm lành vết thương do bỏng. Chúng cũng hỗ trợ rất tốt cho quá trình liền sẹo thông qua hệ tiêu hóa, cho cả các vết thương trên bề mặt và dưới da.

> Nghiên cứu cũng cho thấy sức khỏe thể chất và tinh thần của con người phụ thuộc vào khả năng sản xuất các loại protein mà cơ thể cần. Tuy nhiên, khi có tuổi, cơ thể sẽ ít hấp thụ những enzym này từ thực phẩm và kết quả là lượng axi amino bị thiếu. Do lượng protein khó tiêu hóa nhiều lên sẽ dẫn tới sự tăng trưởng không mong muốn của các vi khuẩn trong đường ruột và càng khiến lượng axit amino cần thiết cho cơ thể bị thiếu.

> Ăn đủ đủ sau bữa ăn sẽ giúp cải thiện hệ tiêu hóa, giúp phòng đầy bụng, trướng bụng và khó tiêu. Nó cũng rất hữu ích cho các trường hợp dùng kháng sinh vì nó cung cấp các vi khuẩn có lợi vốn đã bị tiêu diệt trong quá trình chống lại các vi khuẩn có hại. Khi hệ tiêu hóa sản xuất đủ các vi khuẩn thân thiện, hệ miễn dịch sẽ được tăng cường và bảo vệ cơ thể chống lại cảm cúm và ung thư tốt hơn.
> Là enzym proteolytic, papain có thể hủy diệt những ký sinh đường ruột. Để tẩy sạch các ký sinh trùng đường ruột, hãy uống một cốc nước đu đủ cùng với nước dưa chuột ép/nước đỗ xanh liên tục sau mỗi tiếng, kéo dài 12 tiếng liên tục.
>
> Đu đủ cũng chứa fibrin, một hợp chất hữu ích khác không dễ tìm trong nhiều loài thực vật. Fibrin giúp giảm nguy cơ máu vón cục và cải thiện chất lượng tế bào máu, giúp thông mạch. Fibrin cũng rất quan trọng trong vai trò giảm thiểu nguy cơ tắc nghẽn mạch máu ở chân. Do enzym proteolytic có chứa fibrin nêng những người ngồi bàn giấy cả ngày có thể bổ sung enzym proteolytic để bảo vệ hệ mạch.
> Enzym proteolytic còn có thể tiêu hóa và hủy diệt các tấm chắn bảo vệ các virus, các khối u ác tính, dị ứng, các loại men và một số khuẩn khác. Khi tấm chắn này bị phá hủy, các khối u và các vi sinh hoàn toàn có thể bị hệ miễn dịch tiêu diệt.
>
> Nghiên cứu mới nhất về đu đủ

> Chiết xuất từ đu đủ khô có thể làm chậm lại sự tăng trưởng của các tế bào ung thư trong phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu Mỹ cho biết.
>
> Hiện chưa rõ liệu nó có cùng tác dụng trên tế bào ung thư ở người nhưng nhà nghiên cứu TS. Nam Dang, ĐH Florida và các cộng sự người Nhật cho biết chiết xuất đu đủ có ảnh hưởng đến sự điều chỉnh hệ miễn dịch và không gây ra các ảnh hưởng có hại cho các tế bào bình thường.
>
> Những phát hiện này đã phần nào phản ánh việc sử dụng đu đủ trong điều trị ung thư của dân bản địa ở Australia và Việt Nam, TS Dang nói. Nước lá đu đủ được cho là đã trị được ung thư ở nhiều trường hợp sống tại Gold Coast (Australia).
>
> “Dựa trên những gì tôi tìm hiểu từ các tài liệu y khoa, hiện chưa có bằng chứng nào cho thấy chiết xuất này gây độc và có vẻ như có thể uống lâu dài cho đến khi thấy có hiệu quả”, TS Dang cho biết.
>
> Các nhà nghiên cứu nhận thấy tác dụng cực mạnh của chiết xuất lá đu đủ (tới 1 triệu lần so với thuốc chống ung thư) có thể làm chậm sự phát triển của 10 loại tế bào ung thư, bao gồm ung thư tử cung, ung thư vú, ung thư gan, ung thư phổi và tuyến tụy.