Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai LÍNH TRẬN LÀM THƠ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

LÍNH TRẬN LÀM THƠ

In PDF.

Tạp Ghi Văn Nghệ Nhân ngày Quân Lực VNCH 19/06


Cuộc chiến tranh Việt Nam đã qua hơn 35 năm. Một thời gian quá dài để nhiều người có thể quên. Những cô cậu trên dưới ba mươi ba tuổi, sinh ra trước hay sau ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm, có thể không có hình ảnh nào trong trí nhớ vì lúc đó còn quá nhỏ. Có người đã tìm về nhưng cũng có người lơ đi. Nhưng chúng tôi, những người lính, đã sống trong chiến tranh, đã đối diện và nhập cuộc, thì không thể nào quên được chặng đường mình đã trải qua, đã sống với đó.



Tôi thật sự cảm động khi tìm lại được, đọc lại được, những bài thơ của các bạn văn của tôi, có người tôi quen biết, cũng có người tôi chưa biết, nhưng đã đứng chung hàng ngũ với tôi, đó là những người lính trận, tham dự trong cuộc chiến tranh ấy, còn sống hoặc đã chết. Một thời, họ đã làm Thơ.



Nhóm Thư Quán đã ấn hành tập “Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến”, tôi đã đọc và thật bồi hồi xúc động khi tìm lại được những gương mặt bạn bè văn nghệ mà tôi (bây giờ) gần như đã quên đi.
*
Mở đầu tôi giới thiệu nhà thơ Chinh Yên. Tôi đã đọc thơ Chinh Yên ở tạp chí Tiền Phong, tạp chí dành cho Sĩ Quan QLVNCH, do cục Tâm Lý Chiến QLVNCH ấn hành, tôi rất thích. Nhưng hầu như đã ba mươi năm qua, Chinh Yên vắng mặt trên thi đàn hải ngoại, không biết bây giờ anh ở đâu? Còn ở trong nước hay ở hải ngoại mà anh im hơi lặng tiếng. Bây giờ tôi tìm lại được anh qua những vần thơ của ba mươi mấy năm về trước:

Ứng chiến Đọc Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm



Hiền sĩ đọc thơ bên lều cỏ
Tôi đọc thơ giữa chốn ba quân
Cách nhau mỗi ngày là mỗi lạ
Huống hồ trên dưới mấy trăm năm

Hiền sĩ có trăng treo ngoài ngõ
Để lâu lâu ngắm nghía đở buồn
Tôi có gì đâu ngoài súng nhỏ
Máng đầu giường chạm gió kêu khan

Hiền sĩ có cây già tựa gối
Có chim ngàn ở ẩn kêu vui
Tôi có gì đâu ngoài nón trận
Tránh đạn bom nhờ chút hên xui


*
Rồi với Chu Trầm Nguyên Minh, ngày trước thơ anh xuất hiện ở Văn, Văn Học hay Bách Khoa. Nhưng sau ba mươi tháng tư bảy lăm, thơ anh cũng im tiếng. Như vậy, từ hơn ba mươi năm rồi anh không làm bài thơ nào. Anh như đã bỏ làm thơ. Nhưng đời thơ anh, đã cho chúng ta những bài thơ rất hay về người lính trận:



Lục Bát Viết ở KBC 4311



Khi Trời Mưa Ở Đồng Đế
Mưa rơi lốp đốp chân người
Tôi tay súng những nụ cười dã man
Núi cao đá dựng bàng hoàng
Nằm trong tiếng thở nghe tròn cuộc chơi

Phiên Gác Đêm
Súng kê giấc ngủ mơ hồ
Đêm nghe tiếng nhảy ngựa thồ đổi phiên
Xin cho em ý ngoan hiền
Biển sương rơi đọng trên miền dung nhan
Anh nhìn anh những phân vân
Đời trai giờ chỉ có ngần ấy sao


*
Trần Như Liên Phượng hay Hoàng Yên Trang (cùng một người) . Tôi đã đọc anh ở một số tờ báo nào đó, có thể là tờ Văn hay Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, thơ anh đang hồi nở rộ thì tôi nghe tin anh đã hy sinh ở chiến trường. Tôi nghe như mình bị hụt hẩng đi. Lúc đó tôi chưa vào quân đội. Cái chết của Trần Như Liên Phượng khi anh mới lên trung úy, khoảng đầu năm1967, 1968 gì đó. Bây giờ gần bốn chục năm. Đọc lại thơ anh, tôi thấy như anh có những điều tâm sự:



Buổi cà phê cuối cùng
Thôi, rời trường Thủ Đức
Ta lên đường, lên đường
Tiếng ca buồn ở lại

Ôi chặng đời họp mặt
Những vết hằn quê hương
An-pha đồng chĩu nặng
Trong lòng đầy yêu thương

Bốn đưa nhìn bàn ăn
Đĩa thịt bò kỷ niệm
Những bãi nắng khô cằn
Bước chân buồn xa lạ

Những chúa nhật hết tiền
Giấy phép còn nằm đó
Trên lối đến giáo đường
Những tiếng thầm tuổi trẻ

Đó những người ở lại
Đứng ngó khắp hồn mình
Một lần thôi cũng đủ
Và hết còn chi hơn



Và người lính tôi viết sau đây là Kim Tuấn, anh chỉ là binh sĩ đóng ở Pleiku. Kim Tuấn đã có những bài thơ nổi tiếng đã được phổ nhạc như Anh Cho em Mùa Xuân, nhạc Nguyễn Hiền, hay Những Bước Chân Âm Thầm, nhạc Y Vân. Anh còn có những bài thơ về lính khá xuất sắc. Kim Tuấn sau ba mươi tháng tư bảy lăm sống một cuộc sống rất nghèo nàn ở Khánh Hội, Sài Gòn. Dù thơ anh phổ nhạc vẫn được hát trong những ngày Xuân về Tết đến, nhưng đời sống anh rất ư là cơ cực. Anh mất năm 2005. Báo và các cơ quan truyền thông trong nước không đăng tin, chỉ có bạn bè thông báo ra nước ngoài và được đăng trên báo hải ngoại. Buồn thay cho một kiếp làm thơ.



Đây là bài thơ của Kim Tuấn làm trước bảy lăm khi anh đóng quân tại cao nguyên



Trên Vùng Bản Hét


Bản Hét ta chào mi đấy nhé
Chiều mưa che khuất núi đồi xa
Chiều mưa ta đứng trên đầu gió
Thương mình hơn những bóng mây qua
Bản Hét thương đời anh lính trẻ
Quanh năm chờ phép về thăm nhà
Quanh năm trấn thủ đời gian khổ
Hầm đất nhìn quanh ta với ta.

Bản Hét những chiều không pháo kích
Trời im nghe gió thổi qua mau
Rừng im nghe cánh chim xào xạc
Đồn im nghe súng bỗng dưng sầu
Bản Hét hành quân vùng Tam Biên
Núi cao như dựng với sông liền
Rừng sâu màu lá xanh da mặt
Cơm sấy ăn sao nhớ mẹ hiền
Mẹ hiền phương đó, con đầu núi
Bưng biền chưa hết trọn đời trai.


*


Người lính Cao Thoại Châu


Cao Thoại Châu là người lính VNCH. Anh tốt học đại học sư phạm ra trường đi dạy học, nhưng sau đó anh theo lệnh Tổng Động Viên đi sĩ quan Thủ Đức. Anh làm thơ và đã có thơ đăng rất nhiều các tạp chí Văn, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Văn Học, Thái Độ...tại Sài Gòn trước năm 1975. Tôi rất thích thơ Cao Thoại Châu, nhưng ba mươi mấy năm rồi… Bây giờ bắt gặp lại thơ anh, như mới đọc anh ngày hôm qua đây thôi, thơ anh vẫn còn rất mới:



Chín Cổng Quân Trường


Thứ hai này nhớ em buồn vỡ mắt
Ước làm chim bay qua cổng quân trường
Qua cánh đồng có lúa mạ xanh non
Những mái nhà đỏ tươi màu ngói mới
Muốn bay lên từ tối tăm hiện tại
Phải qua cổng nào em chọn cho anh



Thơ tình của Cao Thoại Châu chất ngất thương yêu với người yêu dấu. Anh là lính đóng trên miền cao nguyên, Pleiku hay Kontum gì đó, người lính đó luôn luôn yêu thương, nhung nhớ đến người con gái nữ sinh với tà áo dài trắng trong cổng trường trung học:



Thư Cho Na viết từ KBC 4100


Trong giấc ngủ thật ngoan của mắt người yêu dấu
Xin hãy vỗ về những tan hoang
Vỗ về mà thôi
Và đừng bao giờ hỏi
Đừng bao giờ nghĩ lầm
Những giọt lệ như là
Màu hồng đỗ từ thân thể ta

Anh thèm khát lời nói yêu em
Bằng cặp môi đã nhiêù lầm lỡ
Những buổi chiều anh nổi điên giận dữ
Không biết để làm gì
Bởi chính mình cũng không hay điều đó
Anh thèm hát một bài ca
Không biết để làm gì
Bởi chính mình cũng không cần nghe nữa
Em hiểu vì sao anh cần trong hôm nay
Giữa đám khổ đau lăn tăn trên da thịt
Những buồn phiền như đồ ăn tráng lòng
Và mỗi buổi sáng trong cơn ngái ngủ
Anh năm nghe đoàn tàu chạy qua
Tạt vào mặt những tiếng còi rát buốt


...



Đó là tất cả tâm tình của người làm thơ, người lính Việt Nam Cộng Hòa, người đã mang gươm đi cứu nước. Hơn ba mươi năm trước họ kiêu hùng xiết bao. Và thơ của các anh tuyệt vời biết là dường nào. Bây giờ, sau hơn ba mươi lăm năm, tôi mới được đọc lại những bài thơ của các anh, người còn kẻ mất, khiến tôi bồi hồi xúc động. Các anh thật đáng đại diện cho những người làm thơ Miền Nam trong thời chiến.



Nhớ lại, những ngày chiến tranh còn sôi bỏng, một vài tháng mới về được thành phố dưỡng quân đôi ba ngày, lại được tin một người bạn làm thơ hay viết văn hy sinh ở chiến trường nào đó, lòng tôi lại dậy lên nỗi xót xa thương cảm. Những Y Uyên, Tô Đình Sự, Trần Như Liên Phượng đã nằm xuống…Rồi có người bị thương ba bốn lần như Trần Hoài Thư, có người để lại chiến trường một bàn chân như Luân Hoán, Phan Xuân Sinh.



Những ngày tháng của năm bảy hai là những ngày tháng chiến trường sôi động nhất, quân ta và địch chạm nhau, đánh lớn ở mặt trận Quế Sơn. Tôi theo quân trung đoàn 6 BB hành quân tại Quế Sơn. Tại Hương An tôi gặp một người chuẩn uý còn rất trẻ, anh giới thiệu là Dzoãn Dân, mới...viết văn. Thì ra anh là tác giả nhiều truyện ngắn rất hay mà tôi đã đọc. Một tháng sau nghe tin Dzoãn Dân đã hy sinh tại mặt trận Quế Sơn.



Tất cả những người làm thơ miền Nam thời chiến, theo Trần Hoài Thư sưu tầm, có đến 263 tác giả. Tôi mới nói đến 5, 6 tác giả, coi như là một con số quá nhỏ của thơ văn miền Nam. Nếu có điều kiện, tôi sẽ tiếp tục lần lượt giới thiệu các tác giả khác.



Sau đây tôi mời bạn đọc đọc một bài thơ của người bạn tôi, người lính làm thơ Phạm Tuế (Phạm Nhã Uyên) nguyên là Trung Úy Biệt Động Quân, xuất thân Khóa 2 SVSQ/ Trường Đại Học CTCT Đà Lạt:



Viễn Du


Cỏ sớm mai xanh ngát núi rừng
Có sương mù lạnh chiều Neak-Lung
Những vườn tiêu trống không nhà cửa
Chín vỡ mùa xuân qua dững dưng

Trên bước quân hành như đã mỏi
Nửa hừøng đông sáng nằm tương tư
Ta nghe chim gỏ lời cách trở
Tình cũ, người thuyền quyên thuở xưa

Bỗng ngỡ năm xoay vòng trở lại
Một chút vàng son kỷ niệm như
Áo thơm, đem ủ hồn năm tháng
Sao chỉ nguôi hờ những xót xa

Vẫn chỉ một ngày trong cách biệt
Cuối đời kiêu bạt nỗi hăng say
Từ xa xăm chỉ như là khói
Và khói vây đời ta lẻ loi

Cũng tỉ cơ hồ mưa lớp lớp
Hương yêu, cơn trường mộng bây giờ
Cuốn theo tiếng loài chim gõ kiến
Ta gõ nhịp phiền mơ viễn du


*
Thơ của những người lính miền Nam trong cuộc chiến, trước ba mươi tháng tư bảy lăm, sẽ mãi mãi trường tồn trong tim những người dân Việt.Vì đó là văn học Việt Nam, văn hóa Việt Nam, tiếp nối Tự Lực Văn Đoàn…



TRẦN YÊN HÒA