Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai ĐÀ LẠT, NGÀY VỀ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

ĐÀ LẠT, NGÀY VỀ

In PDF.

Kim Thanh viết bằng Anh Ngữ
NT4 Nguyen Kien Tao dịch ra Việt Ngữ




Gió đời thổi mãi phai hương sắc
Hoa ở cành xưa cánh đã rơi
(Đỗ Mục)



    1. Giã từ Đà Lạt đêm 31/3/1975 theo trường Đại Học CTCT di tản về Sài Gòn, tôi chưa một lần trở lại. Ba mươi bốn năm qua, mà nỗi nhớ không buông rời. Để những chiều sương mờ vây phủ nơi đây, lái xe qua thung lũng ngợp gió có rặng thông già rung mình vẩy những hạt mưa nặng trĩu lá cành, tôi thấy hồn chơi vơi biết bao kỷ niệm của Đà Lạt ngày nào từng hàng, từng lũ kéo về. Thương hoài bước chân em qua đồi xưa, mái tóc đầy hương sõa bay theo gió, và vòng tay ôm bờ vai run rẩy dưới cơn mưa chiều lạnh giá. Nhớ hoài một thuở tình yêu vừa chớm, chưa vương sầu biệt ly, chưa thấy những vết chân chim trên đuôi mắt, chưa học nói lời dối gian, phản trắc, chưa một lần biết hỏi:                              
                               
Hiểu gì không ý nghĩa của trời thơ?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Và uyên ương bởi đâu không đoàn tụ?
Và tình yêu sao lại dở dang chi?
Và vì đâu, gió gọi giật lời đi?
(Hàn Mặc Tử)


Để những đêm trăng Portland, thức giấc, tôi lại mơ về ngọn đồi có tên 4648, đại bản doanh của trường Đại Học CTCT, bên cạnh trường nữ Bùi Thị Xuân, và con dốc thoai thoải lên giảng đường Spellman và Thụ Nhân của Viện Đại Học, nơi hàng tuần tôi đã đến dạy. Và thảm cỏ mượt xanh trên sân Cù chứng kiến buổi tình yêu lên ngôi và ngày môi em biết hôn lần đầu. Khu Chi Lăng, còn gọi là đồi 4650, cạnh Hồ Than Thở, nơi trú đóng của SVSQ các khóa và Khối Văn Hóa Vụ trường ĐH/CTCT, không xa trường Võ Bị bao nhiêu. Chợ Hòa Bình rực rỡ màu áo, tấp nập người qua lại. Những quán nhỏ phía dưới rạp hát Ngọc Lan, đối diện bờ Hồ, với ly kem dừa mát rợi cổ họng, đĩa gỏi đu đủ trộn với nước mắm cay, và những cuốn bò bía chấm tương đen ngọt. Con đường Phan Đình Phùng dài hun hút với tiếng gõ lốc cốc trong đêm lạnh của anh Tàu đẩy xe hủ tiếu mì khói bay nghi ngút. Những con phố vắng lặng, đìu hiu, có bậc cấp lên xuống. Tiệm ăn Pháp L’Eau Vive với món cá thập cẩm nấu vang trắng bouillabaisse bất hủ, mà em thích, ly rượu Bordeaux sóng sánh làm hồng đôi má em, và bản nhạc cổ điển vẳng lên từ phím dương cầm, trắng ngà như bàn tay em nhẹ lướt. Nhà thờ Con Gà cổ kính mỗi sáng Chúa nhật em và tôi đến xem lễ, cầu nguyện cho quê hương sớm thanh bình và tình ta được mãi bền lâu. Và thác Prenn, suối Cam Ly mà dòng nước chưa cuốn đi những lời thề đã lỡ. Tôi nhớ quá, nhớ hết, nhớ ray rứt về một Đà Lạt chưa hề gặp lại, bây giờ chỉ còn là kỷ niệm khói sương, muôn trùng khuất xa.
                                 
       Nhưng hai ngày 23, 24 tháng 5 vừa qua, tôi đã được trở về Đà Lạt. Từ một giấc mơ dịu dàng, nhân dịp Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Đại Học CTCT tổ chức cuộc họp mặt tại Orange County, Nam California, mà tôi được mời tham dự trong tư cách sĩ quan cơ hữu. Để được gặp lại, qua tất cả anh em và hình ảnh hiện tại, những ngày Đà Lạt vàng son chôn kín trong đáy huyệt lòng, một mùa xuân nào tả tơi, cùng với cái chết tức tưởi của quê hương Miền Nam. Ba mươi bốn năm, dài hơn gấp đôi thời gian lưu lạc của nàng Kiều, mới bây giờ là đây. Là đây, những bộ quân phục mùa hè, mùa đông, cầu vai gắn “lon” an-pha lấp lánh, được anh em cựu SVSQ trang trọng mặc lại trong bữa dạ tiệc khi rước và chào quân, quốc kỳ và mặc niệm các chiến sĩ, đồng bào, và nhất là gần hai trăm đồng môn, đã bỏ mình vì nước, gợi nhắc thời gian huấn luyện nhọc nhằn nhưng đầy hãnh diện. Là đây, những bàn tay siết chặt, những vai ôm thắm thiết, những câu nói đùa thân ái, những tiếng gọi nhau “mày, tao” rổn rảng giữa bạn bè cùng khóa, nghe dễ thương chi lạ, dù tất cả tóc đã bạc, chân đã chồn, gối đã mỏi, và ai cũng có cháu nội, cháu ngoại đầy đàn. Là đây, các “nàng dâu của gia đình Nguyễn Trãi” một thời kiều diễm đã hớp hồn những chàng trai kiêu dũng, lo xây mộng tang bồng, của đồi 4648, hôm nay cũng đến dự cùng với chồng, con, cháu, và qua đó nói lên nghĩa của tình yêu sắt son, trong vinh quang cũng như tủi nhục. Là đây, Nỗi mừng biết lấy chi cân? /  Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu (Kiều).


       2. Từ Portland, ngày 21/5, tôi đến Quận Cam trên cùng chuyến bay với cựu Trung tá Văn Hóa Vụ Trưởng Hoàng Minh Hòa, và hai cựu SVSQ Khóa I Nguyễn Trãi, Đào Mỹ, và Nguyễn Lương Tâm, tức nhà thơ Tâm Nguyên, đồng hương Nha Trang của tôi. NT1 Nguyễn Đức Luận đón tất cả chúng tôi tại phi trường.


       Thầy Hòa và SVSQ các khóa NT 1, 2, 3 rời Trường trước khi tôi đến phục vụ từ khóa 4, 1/1/1973, ngày Hiệp định Paris có hiệu lực. Qua đây, mới được biết nhau, và tôi rất quý mến họ, vì ai cũng sống có tình có nghĩa với nhau, xứng đáng là những môn đệ chân truyền của Thánh Tổ Nguyễn Trãi. Hội cựu SVSQ trường ĐH/CTCT Đà Lạt tại Oregon gồm bốn anh NT1, còn lại đều là NT2, trong số có Dương Xuân Kính, tức Paul Kính Dương, một người bạn đã giúp đỡ tôi rất nhiều khi tôi mới chân ướt chân ráo đến từ đảo, và cả sau này.


      Một người bạn, NT2 Trịnh Tùng, đưa tôi về nhà và mời ở lại trong thời gian đại hội. Cách đây mười ba năm, vợ chồng Tùng, đại diện Tổng Hội ĐH/CTCT, đã từ Anaheim lên Portland thăm tôi, cùng với anh em trong Hội ĐH/CTCT Oregon, nên ân tình còn rất nặng. Thời gian tàn nhẫn chưa ghi dấu phôi pha nào trên hai vợ chồng. Vẫn như xưa. Tối ấy, ngồi uống Cognac XO cùng với Tùng, tôi được nghe chị kể, lần đầu, chuyện tình của hai người hơn ba mươi năm về trước, hấp dẫn không thua tiểu thuyết Quỳnh Dao. Chuyện kể rằng, sau khi Tùng ra trường, đóng đồn tại Trà Vinh, chị lúc ấy mới mười tám, từ Vĩnh Long, cương quyết đòi xuống sống chung với anh, mặc lời can ngăn của cha mẹ. Chồng đâu vợ đó, chị nói, chồng con chết, con chết theo, không sao. Một đêm, đồn bị Việt Cộng tấn công. Chị chạy theo anh ra hầm cá nhân, kéo một thùng lựu đạn, lấy từng trái đưa cho anh ném, lại còn cầm carbine phụ bắn với anh. Chị không phải là người vợ lính VNCH duy nhất, mà tôi biết, đã cùng chiến đấu, theo nghĩa đen, khi đụng trận, mà còn nhiều “nữ chiến binh” bất đắc dĩ vô danh khác, có người đã gục ngã, không được những nhà viết quân sử nhắc đến. Tỷ như các chị vợ lính của một Tiểu đoàn Bộ binh (4/44) thuộc Sư đoàn 23, mà tôi được tăng phái công tác CTCT dài hạn, trong chiến dịch “bình định nông thôn”, vào cuối thập niên 60, tại quận Thiện Giáo, Phan Thiết. Khi đơn vị bị địch tấn công, và chồng bị thương, có chị giật lấy súng bắn trả dữ dội, thay cho anh. Sẵn đây, tôi đề nghị, nhân Ngày Quân Lực 19/6 mỗi năm, khi vinh danh các chiến sĩ VNCH, chúng ta đừng quên những người vợ can trường của họ. Ấy là chưa kể những quả phụ và chinh phụ, và sau 30/4/1975, những vợ tù cải tạo hay thương phế binh, và những nữ anh hùng không tên tuổi khác, đã âm thầm đóng góp cách này cách nọ vào công cuộc bảo vệ từng tấc đất của Miền Nam trước lũ xâm lược Cộng sản bạo tàn phương Bắc.


       Sáng hôm sau, thứ sáu, Tùng đi làm sớm, NT4 Trần Thanh Sơn đến chở tôi ra Bolsa, uống cà-phê, ăn hủ tiếu, hàn huyên tâm sự. Sơn thuộc toán SVSQ khóa 4, do tôi hướng dẫn, công tác tại Nghĩa Hành, một quận rất mất an ninh của Quảng Ngãi, đầu năm 1973, trong chiến dịch “giành dân lấn đất” sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Lúc ấy, Sơn được giao nhiệm vụ hỏa đầu quân. Chợ Nghĩa Hành chỉ có hai đặc sản: cá chuồn và ớt hiểm, cay xé óc. Sơn có biệt tài nấu cá chuồn bảy món, trong đó có món “luộc chấm nước mắm ớt” mà tôi không tài nào nuốt vô, dù đói lắm. Bây giờ, tại Irvine, Sơn gần như đang tu tại gia, nghiên cứu phương pháp dưỡng sinh bằng gạo lức (lứt) muối mè, thao thao bất tuyệt về những lợi ích của nó trong việc chữa trị bách bệnh, quảng bá bằng một CD phát không cho thiên hạ.


       Ăn sáng xong, tôi nhờ Sơn đưa đến tòa soạn nguyệt san Khởi Hành thăm người bạn chủ báo, Viên Linh, một nhà văn, nhà thơ gốc Hà Nội 54, sống chết với văn chương, văn học Miền Nam, và nổi tiếng từ trong nước, hai lần đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc (nhưng không được các nhà viết văn học sử miền Nam tại hải ngoại nhắc đến dù chỉ một dòng, vì sao?). Viên Linh chống Cộng triệt để, nhưng không ồn ào, quá khích, một kẻ sĩ rất hào hùng đã khước từ lời yêu cầu của một tờ báo Việt Cộng xin được đăng lại những bài cũ của anh –một vinh dự to lớn mà nhiều văn thi sĩ hải ngoại, thuộc loại thùng rỗng kêu to, thèm thuồng, về bên đó xin xỏ mà không được. Anh từ chối, bởi không muốn thấy, như anh trả lời công khai trên Khởi Hành, bài mình được đăng, trong các tờ báo quốc nội ngày nào còn có tiêu đề “vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, in hình Hồ Chí Minh và lá cờ máu. Mặc dù rất bận cho số báo tới, Viên Linh cũng để thì giờ mời tôi đi ăn trưa, bàn chuyện văn chương, và dạo loanh quanh phố phường cho đến xế chiều.
      
        Chiều thứ bảy 23/5, mỗi khóa Nguyễn Trãi tổ chức Đêm Tâm Giao riêng. Tôi được mời sinh hoạt với anh em cựu SVSQ khóa 4, có Nguyễn Gia Hưng, Tổng Hội Phó Tổng Hội Cựu SVSQ/ĐH/CTCT, đến từ Yukon, Canada. Hơn một năm trước, Hưng đã phổ biến trong Tổng Hội về buổi hội thảo chống Nghị quyết 36, tại Portland, ngày 15/12/2007, do Ủy Ban Yểm Trợ Pháp Lý cho Oregon Thời Báo và Người Lính Già tổ chức, với sự hiện diện của cựu Đại tá Chỉ huy trưởng Nguyễn Quốc Quỳnh và một số đông anh em cựu SVSQ các khóa. Trong Đêm Tâm Giao, Hưng cao hứng kể lại những kỷ niệm, có tôi, đặc biệt thời gian toán SVSQ khóa 4 công tác tại Chi khu Nghĩa Hành, kể cả việc tôi, vì muốn bảo vệ các SVSQ, đã đấu khẩu với Sĩ quan Ban 5 Quận và từ chối không dẫn toán xuống công tác đêm tại những thôn ấp xa, nổi tiếng mất an ninh, mà không có lính Chi khu đi theo yểm trợ.        
       Còn những kỷ niệm khác. Vĩnh Thạc, một cây tiếu lâm, nhắc đến các buổi thi vấn đáp môn Xã Hội Học với tôi: “Tụi tui dặn nhau, bốc trúng láù thăm nào, hỏi gì mặc kệ, cứ đọc câu mình đã dọn sẵn, ổng không để ý đâu. Một hôm, thằng Z. xui thế nào bị ổng nghi, bắt đưa cho ổng xem lá thăm, thấy khác với câu nó đã đọc, ổng bèn hỏi, bộ anh không biết đọc tiếng Việt hả?” Điều đó, thực tình tôi không nhớ, nhưng đã giòn dã cười theo với mọi người. Một anh khác kể chuyện cô bạn gái trẻ đẹp của anh một chiều cuối tuần đến cổng Trường nhằm lúc tôi trực, trời nóng, chỉ mặc áo thun quần trận, và dĩ nhiên không mang lon, tưởng tôi là một SVSQ, nói với giọng Huế đài các: “Anh kia ơi, làm ơn gọi anh X..., khóa 4, đại đội..., báo là có em gái đến rồi, được không anh?”, mà tôi vẫn điện thoại vào trong, tỉnh bơ, nét mặt không thay đổi. Khi X ra thấy tôi, lật đật đứng nghiêm chào, cô bạn hết hồn, xin lỗi lia lịa: “Thôi chết rồi, em lộn, tại vì Đại úy không mang lon. Lỗi tại em, Đại úy đừng cúp phép của ảnh!”


       Tại vì lúc ấy thấy anh còn trẻ mà, một anh khác nịnh tôi, trông già hơn tụi này một chút thôi. Dĩ nhiên. Nay, sau ba mươi sáu năm, cả thầy lẫn trò đều đã trên “sáu bó”, đa số tóc thưa, đầu bạc, lưng bắt đầu còng, mắt hết vẻ tinh anh. Có anh khóa 1,2,3 lần đầu gặp tôi, đã hỏi: “Anh thuộc khóa mấy?” Tôi lấy thế làm vui. Vì trong những ngày Đại hội và nhất là Đêm Tâm Giao, tất cả đã biểu lộ tấm thân tình đầy ắp dành cho nhau. Và cho tôi, người đã gắn bó với khóa 4 từ buổi đầu công tác tại Quảng Ngãi, cùng đi trên những con đường làng nắng chói chang, thoang thoảng hương cau và mùi rơm rạ của quận Nghĩa Hành, qua suốt hai năm kinh sử miệt mài tại đồi Chi Lăng, cho đến một đêm mù sương tất cả phải bỏ Trường ra đi, đến buổi lễ mãn khóa, gắn lon Thiếu úy kiểu dã chiến tại Tiểu đoàn 30 CTCT, Biên Hòa, đến cảnh tan hàng trong giây phút hấp hối của đất nước. Chiến tranh đã tàn, nhọc nhằn đã hết, nước mắt đã khô, giờ chỉ là hạnh phúc được còn có nhau, được sống với kỷ niệm. Mà kỷ niệm nào của SVSQ cũng đẹp, cũng vàng son.


        3. Suốt Đêm Tâm Giao, tuy bên ngoài cười đùa với anh em, nhưng trong lòng lúc nào tôi cũng nghĩ đến Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, vị chỉ huy trưởng cuối cùng vô vàn thương mến, không riêng của các cựu SVSQ, mà của cá nhân tôi nữa. Đại hội lần này, Đại tá Quỳnh không đến dự được vì lý do sức khỏe. Một thiếu vắng lớn, cho cả Trường. Ngoài những ân tình riêng, tôi luôn kính phục ông, như một thần tượng, bởi tài lãnh đạo chỉ huy, lòng nhân ái bao dung, tinh thần trách nhiệm cao độ, và phẩm cách tuyệt vời của một sĩ quan cao cấp VNCH trong lúc còn đầy quyền uy cũng như khi bại trận bị giam hãm sau vòng kẽm gai nhà tù Cộng sản. Tôi luôn thương mến ông, như một người thầy, một người anh, một người chỉ huy trượng phu đã không bỏ lại một thuộc cấp bị nạn nào bên đường. Để giúp đỡ đàn em bị kiện, ông đã bay đến Portland, dù tuổi già sức yếu, trong tư thế một cựu chỉ huy trưởng cao cả, độ lượng, không viết bài lên lớp, phê phán, dạy dỗ cấp dưới phải chống Cộng thế này thế nọ. Ơn nghĩa tuyệt diệu này tôi sẽ khắc ghi vào tim và nói cho con cháu tôi mai sau biết.


        Tôi còn nhớ như in những ngày di tản từ đêm 31/3/1975 lúc trường ĐH/CTCT rời bỏ Đà Lạt, cùng một lượt với trường Võ Bị và Tiểu khu Tuyên Đức, cho đến khi dừng quân tại Bình Tuy, sau sáu ngày đêm với bao nhiêu vất vả, trở ngại không lường trước, khiến nhiều lúc Đại tá Quỳnh đã phải xuống xe, lội bộ theo đoàn quân, đói khát cùng với mọi người, giữa trời nóng như thiêu. Còn những SVSQ và sĩ quan trường Võ Bị, trong số có Nguyễn Kim Trọng, em tôi, giáo sư Anh ngữ, nhờ có phương tiện di chuyển dồi dào hơn đã đến trước và được C130 bốc về Sài Gòn. Tại Bình Tuy, tôi bất ngờ gặp ba mẹ và các em tôi từ Nha Trang theo đoàn người dài hàng chục cây số chạy vào Phan Rang trên đủ mọi loại xe. Bội Trân, em gái tôi, bấy giờ  là tiếp viên hàng không Air Vietnam, được Trọng cho biết ba mẹ đang ở Hàm Tân, đã hoán đổi với một đồng nghiệp chuyến bay đi Hồng Kông để từ Sài Gòn ra Bình Tuy đón cầu âu gia đình nếu có mặt sẵn tại phi trường, nhưng em kể, “em không thể rời máy bay xuống tìm ba mẹ hay anh được”, trong đám người gồm dân và quân hàng hàng lớp lớp dồn về chi khu.


       Không còn phi cơ để vào Sài Gòn, mà đường bộ qua ngõ Phan Thiết thì bị Tiểu khu Bình Thuận pháo kích, ngăn chặn. Trong giờ phút gần như tuyệt vọng, Đại Tá Quỳnh đã lấy một quyết định vô cùng sáng suốt và khá táo bạo: mỗi SVSQ và sĩ quan cơ hữu dốc hết tiền túi thuê ghe đánh cá chở toàn bộ Trường vào Vũng Tàu, và tất cả phải di chuyển về Phan Rí Cửa, là điểm xuất phát của đoàn ghe. Vì còn ba mẹ và gia đình, tôi xin tách ra khỏi trường, ở lại Bình Tuy, và cả nhà cũng thuê riêng một chiếc ghe nhỏ, về Vũng Tàu một ngày sau đó.


      Rồi sáng ngày 30/4, tại Sài Gòn. Đại tá Quỳnh vẫn ở với Trường, lúc này trú đóng trong doanh trại Tiểu đoàn 50 CTCT, cho đến phút cuối, dù ông có đủ phương tiện ra đi. NT4 Trần Thanh Sơn, trong bài hồi ký “Tháng tư, bỏ lại” đăng trong đặc san Ức Trai số 30/4/2002, kể lại giờ phút Trường tan hàng: “Sau lệnh buông súng đầu hàng của ông Dương Văn Minh, Đại tá Chỉ huy trưởng qua vẻ mặt xúc động nhưng vẵn điềm tĩnh, chậm rãi ban khẩu lệnh đau đớn cuối cùng trong cuộc đời binh nghiệp 26 năm dài của ông với ban tham mưu: ‘Phát hết lương khô và cho anh em tan hàng!’ Chỉ mấy tiếng đó thôi, tuy ngắn ngủi, khô khan của ông cũng đủ làm cho không khí đang tuyệt đối yên lặng - không dưng như bật òa vỡ ra, tan tác”.


        Hai ngày sau, tôi đi tìm nhà Đại tá Quỳnh để đến thăm. Về chuyện này, NT4 Nguyễn Gia Hưng viết cũng trên Ức Trai: “(...) Sau ngày đứt phim vào đầu tháng 5/1975 tình cờ tôi gặp lại anh Kim Thanh tại chợ Tân Bình đang cùng NT4 Phan Văn Dự lần mò đi tìm nhà Đại Tá Chỉ Huy Trưởng. Anh rủ tôi nhập bọn. Tìm đến đúng căn nhà, theo địa chỉ, may mắn gặp Bố Quỳnh từ nhà trong bước ra gặp chúng tôi, gương mặt Bố thoáng ngạc nhiên nhưng vẫn giữ thái độ niềm nở, lịch sự cố hữu. Vừa gặp Bố, anh Kim Thanh nói ngay, ‘chào Đại tá, hôm nay tụi tôi nhớ Đại tá nên ghé thăm. Đại tá vẫn khỏe chứ?’ Đại tá CHT nghe thế liền nở nụ cười, chìa tay ra bắt từng người mời vào nhà và mời ngồi, rồi quay vào trong bếp rót nước cho uống. Anh Kim Thanh hỏi: ‘Tại sao Đại tá không tìm đường đi trước?’ Bố Quỳnh đáp: ‘Tôi phải ở lại vì đó là trách nhiệm của người chỉ huy... Riêng anh em cùng trường tôi mong dù hoàn cảnh nào anh em chúng ta cũng giữ vững lý tưởng của mình.’ Anh Kim Thanh, một Sĩ quan cơ hữu của trường, sau ngày mất nước vẫn ở lại, vẫn còn nghĩ đến và tìm đến nhà thăm hỏi CHT, nên tôi rất mến phục anh.” Hưng kể đúng hết, chỉ thiếu câu này của tôi nói với ông khi từ giã: “Dù ngày mai ra sao tôi sẽ không bao giờ quên Đại tá và những gì Đại tá đã làm cho tất cả chúng tôi.”


       Chia tay nhau lần ấy, tôi tưởng sẽ thiên thu cách biệt. Nào ngờ, năm năm sau, số phận dun dủi cho tôi gặp lại ông, trong trại tù Vĩnh Phú –chuyện như giấc chiêm bao mà tôi đã kể trong bài “Đá nát vàng phai” (đăng trên Ức Trai, Khởi Hành và Oregon Thời Báo).


       4. Sáng Chúa Nhật 24/5, Tổng Hội họp tại Phòng Sinh hoạt nhật báo Viễn Đông, cạnh Khu Phước Lộc Thọ để bầu Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 15. Trong buổi họp, tôi xin được vài phút phát biểu. Trước hết, cám ơn toàn thể các cựu SVSQ/ĐH/CTCT đã hưởng ứng lời kêu gọi của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng yểm trợ tôi về tinh thần cũng như vật chất trong vụ kiện vừa qua. Sau đó, tôi nói: “Trước khi tôi đi Cali, một số đồng hương tại Cộng đồng Oregon nhờ tôi chuyển lời nhắn này đến anh em cựu SVSQ trường ĐH/CTCT. Chiến tranh bằng súng đạn đã chấm dứt, nhưng Việt Cộng ngoan cố vẫn tiếp tục đeo đuổi cuộc chiến, tại đây, dưới nhiều  hình thức mới, mà Nghị quyết 36 là một. Trong cuộc chiến mới, rất cam go, chống kẻ thù gian manh, giấu mặt, ẩn danh, lẩn trốn trong hang ổ như loài chuột chũi, vai trò và sự đóng góp của anh em chúng ta, những sinh viên ưu tú của đồi 4648 xưa kia, trở thành vô cùng quan trọng. Hơn bao giờ hết đồng bào tỵ nạn trên thế giới cần đến tiếng nói và hành động của những cán bộ CTCT và đặc biệt các cựu SVSQ/ĐH/CTCT chúng ta. Đừng làm ngơ, phủi tay, an phận. Đã xa rồi cái thời mà các sĩ quan xuất thân trường chúng ta phải đảm trách nhiệm vụ tác chiến, không có dịp thi thố được sở học. Hãy đối diện thực tế hôm nay. Hãy dấn thân cho cộng đồng, vì cộng đồng, với cộng đồng. Hãy biến thành những con phượng hoàng sống lại từ đống tro tàn của chính mình, rực rỡ hơn, hiên ngang hơn. SVSQ trường ĐH/CTCT và sĩ quan CTCT chúng ta có bốn chữ làm kim chỉ nam chiến đấu: Trí, Nhân, Dũng, Thành. Chúng ta có Trí thông minh, có tâm Nhân hậu, có lòng Trung thành với tổ quốc, đồng đội, đồng bào. Chúng ta chỉ cần một chữ Dũng. Một chút Dũng cảm của những người trai thời tao loạn mới, với Nghị quyết 36 và Việt Cộng nằm vùng. Một chút Dũng cảm của những người trai đứng giữa đất trời. Và chúng ta sẽ thắng.”


       Không biết lời nhắn gửi ấy có thấm lòng anh em. Tôi hy vọng đó không phải là những hạt mưa bụi. Dù sao, tôi đã thành khẩn trút hết tâm tư –điều mà tôi nghĩ đã làm cho chuyến đi của tôi mang thêm ý nghĩa, không phù phiếm, và lòng tôi vô cùng sung sướng.


       Buổi chiều, dạ tiệc để chào mừng tân Ban Chấp Hành Tổng Hội và tân Tổng Hội trưởng Nguyễn Mạnh Vỹ, và để chia tay tất cả thành viên. Tại nhà hàng Seafood Kingdom, anh em các khóa và gia đình tề tụ, đông đảo, khoảng năm trăm người, giữa tiếng đàn trống, tiếng cười đùa, gọi nhau đon đả, và đèn flash lóe sáng từ máy ảnh và máy quay phim của các phóng viên truyền hình Nam California. Tôi mời Viên Linh đến, như một thân hữu. Tại đây, tôi được gặp lại những sĩ quan cùng Trường thất lạc từ tháng 4, 1975, như cựu Đại úy Trần Tiến Dược, Chánh văn phòng Chỉ Huy Trưởng, những “quý nương” như nữ sĩ Bích Huyền, quả phụ của Trung tá Nguyễn Quang Hưng, Tham mưu trưởng ĐH/CTCT, mà tôi chứng kiến cái chết thảm trong trại tù Vĩnh Phú, đã đến với cô con gái rất xinh đẹp. Như nữ nghệ sĩ Kim Tuyến, vợ NT1 Nguyễn Hồng Vân, người đã từng với Hùng Cường tích cực tham gia buổi văn nghệ chống Cộng do Hội SVSQ/ĐH/CTCT San José tổ chức hai mươi năm trước. Sau nghi lễ chào quốc kỳ và mặc niệm các người đã khuất, Tổng Hội khai mạc dạ tiệc với phần giới thiệu quan khách và SVSQ các khóa đến từ xa, lễ bàn giao Tổng Hội cho Ban Chấp Hành mới, chụp hình lưu niệm, và chương trình văn nghệ đặc sắc với sự góp mặt của các nghệ sĩ cây nhà lá vườn, và đặc biệt của hai nữ ca sĩ, Lệ Thu và Xuân Sơn. Ngồi bên tôi, Viên Linh tỏ ra vui lắm, vì lần đầu được biết và tiếp xúc với các cựu SVSQ trường ĐH/CTCT/ĐL mà anh đã nghe danh từ lâu.


        5. Rồi cuối cùng tiệc tan, mà ân tình không cạn, chuyện cũ chuyện mới chưa dứt. Từ giã anh em, lòng thêm lưu luyến. Hai đêm cuối tại Quận Cam, tôi muốn đến ở nhà cô em họ, con của ông cậu ruột, Thalia, cựu nữ sinh trường Oiseaux, nên cũng biết nhiều về Đà Lạt. Viên Linh chở tôi về. Tôi ngước lên nhìn bầu trời, thấy những vì sao như nháy mắt, mỉm cười.


       Thalia rót rượu cho tôi, và hai anh em bắt đầu kể cho nhau những kỷ niệm Đà Lạt. Có yêu thương, gắn bó. Có chia lìa, tan tác. Có nuối tiếc, ngậm ngùi. Đà Lạt của một thời để yêu và một thời để chết. Le temps d’aimer et le temps de mourir, Thalia nhắc. Đà Lạt, đêm nay, chúng tôi đã trở về thăm trên những lối mòn của ký ức, trên từng nhịp đập của con tim, trên những bước chân lạc loài của đời lữ thứ, trên từng kỷ niệm dấu yêu chưa mờ phai. Đà Lạt yêu kiều, đầy thơ, đầy mộng, đầy tiếng ái ân, ngọt ngào như hơi thở, ngất ngây như nỗi nhớ, nay còn gì đâu trong tay bọn bạo tàn sau hơn một phần tư thế kỷ. Em đã một lần, Thalia nói, trở lại thăm Đà Lạt, và không có nỗi thất vọng nào hơn. Thà như anh, không bao giờ trở về, để mãi mãi thấy Đà Lạt vẫn đẹp như một mỹ nhân không muốn cho đời thấy tóc xanh đổi màu. Hay, tôi nói thêm, vẫn đẹp như một mối tình dang dở.



Portland, 22/6/2009
Kim Thanh