Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Chuyện tù cải tạo Hồi Ký tù cải tạo của Đại Tá Nguyễn Huy Hùng K1 Võ Bị- (Phần 2)

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Hồi Ký tù cải tạo của Đại Tá Nguyễn Huy Hùng K1 Võ Bị- (Phần 2)

In PDF.
 
Chương 11
 
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ TÌNH NGƯỜI

Nhân số Tù chia vào mỗi Ðội, gồm khoảng trung bình từ 40 đến 50 người, tùy theo loại công tác. Các Ðội được đánh số cho dễ gọi, và quy định đảm nhận những công tác chuyên biệt khác nhau : Lâm sản, Mộc, Ðan lát, Xây dựng, Rau xanh, Nông nghiệp, Anh nuôi.
 
Ðội Lâm Sản, được coi là Ðội của những “Tù tự giác” (không cần người theo sát canh giữ), đi vào rừng một mình đốn cây, chặt “chổm”, chặt giang, lấy măng. “Chổm” và giang, phải chặt dài tối thiểu là 4 mét, bó thành từng bó 20 cây, rồi kết chung với các thân cây thành bè, thả trôi theo dòng nước về tới đập nhỏ ở bià rừng, cách trại chừng 5 cây số.
 
Cây đốn xuống, lớn thì giao cho Ðội Mộc cưa xẻ thành ván ngay tại trong rừng, chuyển về sau. Các cây nhỏ thì cắt lấy thân đem về làm cột, kèo, dui nhà, còn cành lớn làm củi đun cho các bếp của trại giam Tù và bếp riêng bên khu Cán bộ.
 
“Chổm” được dùng làm rất nhiều việc. Hoặc để nguyên cây dài 4 mét, mổ dọc thân banh bẹt ra, đập dẹp, rồi ghép lại đan những tấm phên thật lớn, để dựng quanh nhà làm vách, và làm sàn nằm trong các Láng. Hoặc cắt thành các đoạn ngắn cỡ 1 mét, bổ dọc đập dẹp kết thành những mảng tranh dài 2 mét lợp mái nhà. Hoặc để nguyên cây, chôn sâu xuống đất, kết sát bên nhau làm hàng rào quây chung quanh trại. Hoặc làm cáng (“ki”) khiêng đất, tranh, gạch, và các vật liệu linh tinh khác.
 
Giang là loại tre thân nhỏ, đốt dài, gần như đặc ruột, sợi mộc dẻo dai, được cắt thành từng khúc ngắn hay dài, tùy theo công dụng. Có thể chẻ nhỏ chuốt nhẵn thành các loại nan để đan thúng, nia, rổ, rá, xọt, bồ. Hoặc tước mỏng để làm lạt (dây) cột, bện thừng, trão…
 
Măng được coi là một loại thực phẩm có “giá trị kinh tế cao”, có thể dùng “biến chế” được ít nhất là bốn món ăn khác nhau. Hoặc xấy khô để dành dùng trong những dịp Lễ Tết, khẩu phần được gia tăng, nấu với xương làm món măng ninh. Hoặc muối chua để dành nấu canh dần. Hoặc để tươi xào hay kho mặn dùng thay rau, trong mùa mưa măng đâm trồi đầy rừng.
 
Măng để tươi ăn ngay rất đắng. Nhưng “bước đầu” trại mới thành lập, trại viên chưa sản xuất được loại rau nào để ăn, nên măng được coi là món chính duy nhất, trong 2 bữa ăn hàng ngày. Hơn nữa, mỗi bữa ăn mỗi người chỉ được chia có vài bốn mẩu bằng ngón chân cái, nên vẫn thấy ngon và thèm. Theo phân tích khoa học ai cũng biết, măng chẳng có giá trị dinh dưỡng nào cho cơ thể con người, ngoài việc cung cấp chất sơ, giúp cho việc đẩy phân trong ruột dễ dàng không táo bón.
 
Trách nhiệm của Ðội Nông Nghiệp là, quanh năm suốt tháng, nắng cũng như mưa, tùy theo vụ từng mùa, hoặc đi phá rừng cuốc đất trồng sắn (khoai mì), khoai lang, ngô (bắp), luá. Hoặc thực hiện những tạp vụ khác tùy nhu cầu kiếm tiền, để trại nộp cho Nhà Nước hàng năm theo quy định. Chẳng hạn, Hợp Tác Xã nào đó trong địa phương cần một số nhân công, để phụ “tịnh kho” (dọn dẹp quét tước sạch sẽ nhà kho), hay gặt luá, đập luá, phơi thóc, lẩy hột bắp…, Trại giam sẽ tùy theo nhu cầu, chỉ định một hoặc nhiều Ðội Nông Nghiệp đi làm thuê tính công để lấy tiền. Nhưng cơ quan chủ thuê không bao giờ trả bằng tiền, mà bằng nông phẩm (lúa, khoai, ngô…) trị giá tương đương.
 
Tôi được “biên chế” vào một trong các Ðội Nông Nghiệp của K1. Nhưng Ðội chúng tôi chẳng bao giờ được giao đất để canh tác. Thường xuyên được tăng phái đi làm thuê cho các Ðội chuyên nghiệp khác, như đào đất đắp nền nhà, đi vác “chổm”, giang, cây và củi từ đập nước bên bià rừng về trại, đi lấy cát, hoặc làm thuê cho Hợp Tác Xã địa phương lấy tiền công nộp cho Trại.
Trong những buổi đi vác “chổm” hoặc giang, Quản giáo buộc mỗi người phải vác 1 bó 20 cây, nặng chừng 200 đến 300 kílô. Các bó “chổm” dài lượt thượt, vác trên vai di chuyển trên đường đất nhỏ vòng vèo, lên dốc xuống dốc quanh theo triền núi, thật vất vả. Chỉ dăm ba anh khoẻ làm được. Còn phần lớn chịu thua không vác nổi, ngã tới ngã lui, không xê dịch nổi bước nào, đành liều ngồi ì ra chịu trận xỉ vả của Quản giáo.
 
Cuối cùng, Quản giáo cũng phải nhân nhượng, bằng lòng cho 2 người khiêng chung một bó. Mỗi người ở một đầu, khiêng bó “chổm” trên vai, theo nhau kẻ trước người sau, bước chân lẹ như chạy cho đỡ nặng. Anh nào khoẻ hơn thì hy sinh khiêng phần gốc, nhường cho anh bạn làm chung yếu hơn khiêng phần ngọn. Ai khiêng phần ngọn đi trước, người khiêng phần gốc đi phiá sau.
Ðể chia đều sức nặng của bó “chổm” cho 2 người, phải rút một cây “chổm” ở phiá gốc thòi ra khỏi bó chừng 1 mét như chiếc đòn, cho người đi sau để trên vai khiêng. Cứ đi được chừng 300 mét lại phải ngừng, quăng bó “chổm” xuống đất ngồi nghỉ. Ðau vai, mỏi cột xương sống lưng, mệt đừ thở hổn hển muốn đứt hơi.
 
Nếu một mình vác nổi 1 bó, mỗi buổi lao động chỉ phải đi về có 1 lần. Còn 2 người khiêng chung, phải đi 2 lần để “bảo đảm đủ chỉ tiêu” quy định, mỗi buổi lao động mỗi người phải đem về trại 1 bó. Ngày làm 2 buổi, những người khiêng chung phải đi về tới 4 lần trong 1 ngày. Ai xong sớm được về trại nghỉ ngơi thoải mái. Còn những người yếu chậm chạp, bao giờ “hoàn tất đủ chỉ tiêu” mới được nghỉ. Có người phải làm suốt luôn 2 buổi, không nghỉ trưa, mới đủ thì giờ để “đạt chỉ tiêu” do Quản giáo quy định. Nhưng cũng có người mạnh, vác nộp luôn 2 bó trong giờ lao động buổi sáng, để nghỉ cả buổi chiều.
 
Gần đập nước có một xóm nhỏ, khoảng mươi lăm căn nhà dân địa phương cư ngụ. Mỗi nhà cách nhau bằng những hàng rào cây gai, và mảnh vườn nho nhỏ. Xóm nhà ở dọc dài ngay hai bên đường đi lên đập. Không thấy bóng trai tráng nam nữ nào cả. Chỉ có mấy ông bà già, và dăm bẩy đứa trẻ nít cả trai lẫn gái ở chuồng lồng lộng, lem luốc, chơi đùa giữa sân, giành nhau mấy mẩu sắn hay khoai gì đó, la hét chửi nhau ỏm tỏi.
 
Khi anh em Tù đi ngang, một bà già tiến ra sát bờ rào, xua chó sủa đuổi người lạ, và lớn tiếng chửi : “-Tiên sư cha chúng bay, loài qủy uống máu, ăn gan người. Sao chúng bay không chết bầm chết dập đi, mà còn vác mặt đến đây ăn hại cơm của nhân dân?”
 
Mọi người ngỡ ngàng, không biết Nhà nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tuyên truyền huớng dẫn quần chúng miền Bắc như thế nào về Quân lực Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam, mà lòng hận thù của dân chúng đối với anh em Tù ghê gớm đến như vậy. Thật khó hiểu, nó ngược hẳn với những gì mà Cán bộ đại diện Ðảng và Nhà Nước Cộng sản Việt Nam đã nói với anh em, qua các bài học tập cải tạo tư tưởng tại miền Nam trước khi ra Bắc.
 
Không riêng gì dân chúng, ngay cả Cán bộ Bộ đội miền Bắc, chưa bao giờ có dịp thấy thực trạng của miền Nam Việt Nam, cũng có những suy nghĩ sai lầm tai hại như vậy. Các Cụ ta ngày xưa đã từng khuyên :“ Phượng hoàng đậu chốn cheo leo, sa cơ thất thế phải theo đàn gà”, anh em đành nhẫn nhục chịu đựng chớ biết làm sao bây giờ. Không được phép giao tiếp với dân chúng, làm sao giải thích cho họ hiểu được. Thật khổ tâm vô cùng.
 
Ngoài công tác đi vác “chổm”, mỗi ngày Ðội chúng tôi còn phải cử một toán 5 người, đem xe “cải tiến” đi xuống tận vùng bờ sông Âu Lâu để chở cát về cho đội xây dựng, xây Nhà Vệ Sinh công cộng cho cả trại xử dụng. Ðường đi xa gần hai chục cây số, dọc ven sườn núi vòng vèo, khe dốc thẳng đứng sâu thăm thẳm hàng trăm mét.
 
Tôi được “Tự quản đội” tức là Ðội trưởng, đề nghị Quản giáo chỉ định vào toán đi lấy cát, bằng “Xe cải tiến”. Ðây là loại xe khung gỗ, thân dài 1 mét, ngang 90 phân, cao 50 phân, để trên 2 bánh xe niềng sắt với vòng lốp cao su tròn đặc. Xe có 2 càng dài khoảng hơn 1 mét ở phiá trước, để người kéo thay vì dùng súc vật. Ðể dễ hiểu hơn, “xe cải tiến” là một loại xe bò nhỏ để chở vật liệu do người kéo.
 
Mỗi chuyến đi phải lấy một mét khối cát. Vì thế phải dùng những tấm ván dầy và cót quây chung quanh thành xe cho cao lên, mới chứa đủ dung lượng một mét khối cát.
 
Toán “chuyển vận xe cải tiến” gồm 5 người, phân chia như sau :
 
-1 người cầm càng xe để lái hướng đi cho xe,
-2 người đi trước xe chừng 5 mét để cầm dây kéo,
-2 người đi sau đẩy phụ cho xe tiến tới. Lần đi nào, Tôi cũng bị anh em trong toán giao cho cằm càng lái xe.
 
Việc đi lấy cát thật vất vả, nhưng cũng có nhiều kỷ niệm vui vui khó quên.
 
Mỗi chuyến đi lấy cát, ngoài cán bộ Quản giáo còn có 2 bộ đội cảnh vệ mang súng dài đi theo canh chừng 5 người Tù. Trưởng Phân trại K1 giải thích rằng : “-Cần có bộ đội cảnh vệ đi theo để bảo đảm an ninh, cho các anh không bị dân chúng hành hung, chớ không phải để canh gác vì sợ các anh trốn. Ở đất miền Bắc Xã hội chủ nghĩa này, dầy đặc “thiên la địa võng” làm sao trốn thoát mà phải lo.”
 
Lượt đi toàn là xuống dốc, xe tự động lao tới vùn vụt, người lái xe phải quay ngược cho xe trước càng sau, để chạy theo xe. Nếu không, lực trôi nhanh của xe có thể làm cho người cầm càng, chạy không kịp vấp chân ngã chúi xuống đường, hậu quả sẽ rất nguy hiểm đến tính mệnh. Những người đẩy và phụ kéo xe như đã phân chia, cũng phải tập trung đi phiá sau, để cầm dây níu cho tốc độ xe lao xuống dốc giảm đi.
 
Lượt về thì ngược lại, xe đầy 1 mét khối cát ướt nặng nề, đường lên dốc liên tục, xe luôn luôn trì kéo trôi lui chớ không chịu tự động lăn tới như lúc xuống dốc. Người lái phải gập mình về trước, đè cho càng xe chúi sát đất. Hai người đi trước khoảng 5 mét quàng dây kéo trên vai, cúi rạp người gò lưng kéo. Hai người đẩy phiá sau bám chặt một tay vào thành xe, ngả người về trước đẩy cho xe tiến lên, tay kia cầm 1 thanh gỗ để sẵn sàng chặn bánh xe lại khi cần thiết.
 
Thật là trần ai vất vả, tinh thần mọi người lúc nào cũng bị căng thẳng. Mặt đường lồi lõm đầy lỗ ổ gà. Nếu sơ xuất, xe có thể bị lật hoặc trôi tuốt xuống khe. Người có thể bị trọng thương vì xe cán qua hoặc đổ đè lên. Ðã có một toán thuộc Ðội khác, sơ ý không kiểm soát nổi, xe đầy cát bị trôi tuột xuống khe bên triền núi cao cả hơn trăm mét. Xe gẫy bể tan nát dưới khe sâu. May mà không ai bị lôi theo xuống khe, hoặc bị xe cán gây thương tích. Thật nguy hiểm không sao lường trước được. Quanh năm ngày tháng, cái chết lúc nào cũng sẵn sàng lởn vởn bên cuộc sống của Tù.
 
Gần mấy căn nhà dân chúng ở bên đường xuống bờ sông lấy cát, có 1 túp lều bán quà bánh bầy biệân thô sơ. Trên chiếc bàn nhỏ để ít keo thủy tinh kẹo bột, kẹo lạc, bánh bỏng ngô, bánh khảo, thuốc lá, thuốc lào, bình nước chà tươi… Quản giáo đi theo chúng tôi (Trung úy Khảm) tỏ ra dễ dãi, cho phép anh em mua kẹo, bánh, ăn để “bồi dưỡng”. Nhưng ông ta luôn mồm nhắc nhở, phải ăn hết trước khi về tới trại, và không được kể cho anh em trong trại biết. (Ông Khảm đã thố lộ cho anh em biết, trước 30-4-1975 ông ấy đã từng vào Nam chiến đấu tại vùng Khánh Hoà, và có người anh bà con làm Thiếu tá trong Quân đội thuộc chế độ miền Nam cũ tại Nha Trang.)
Nhà Vệ Sinh mới được xây bằng gạch mái lợp tôn, ngay bên mặt đường lớn bên ngoài cổng trại, trông như một quán nhà trọ có nhiều phòng. Dân chúng đi ngang qua, ai có nhu cầu cũng có thể ghé vào giải quyết.
 
Kiến trúc Nhà Vệ sinh giống như kiểu nhà sàn, có các bậc thang gạch đi lên cao chừng 1 mét rưỡi, có mái tôn che mưa nắng, và 1 dẫy 10 lỗ cầu ngồi, phân cách nhau bởi những mảng tường lửng cao 1 mét, có cửa gỗ che phiá trước mỗi ngăn. Nền nhà láng xi măng, hơi nghiêng nghiêng cho nước tiểu tự động chẩy xuống một hồ chứa. Phân đặc nằm lại thành từng đống giữa nền.
 
Dọc bên hông Nhà Vệ Sinh, có lối đi lát gạch vòng xuống phiá sau, để Tổ Phân thuộc các Ðội Rau Xanh, hàng ngày đến xúc phân, múc nước tiểu đem ra khu sản xuất rau xanh dùng. Anh em được hướng dẫn tùy theo hiện trạng lớn nhỏ của mỗi luống rau, hòa phân hoặc nước tiểu với lượng nước suối cần thiết cho hợp với nhu cầu bón tưới. Nhờ vậy, rau trồng tăng trưởng nhanh, xanh tốt, và mức “thâu hoạch” rất cao.
 
Việc xây dựng Nhà Vệ Sinh thuộc loại “ưu tiên hàng đầu” trong “dự án chung”. Vì hiện tại, trại chỉ có một hố vệ sinh duy nhất, với 2 chỗ ngồi, đào bên sườn đồi gần sát bờ suối, phiá trong cổng trại. Mỗi buổi sáng, anh em Tù phải xếp hàng nối đuôi nhau, chờ cả tiếng đồng hồ mới tới lượt vào giải quyết việc thải vàng ra khỏi cơ thể. Chẳng may, anh nào bị đau bụng tiêu chẩy, nín không được đành ngồi đại ngay bên đường mòn xả ra, hôi thối nồng nặc. Anh em khác khó tánh có nặng lời, cũng đành tỉnh khô, cắn răng, gục mặt chịu trận. Về sau “rút kinh nghiệm”, nhiều người tập thói quen, nhịn không đi đại tiện vào buổi sáng ở trong trại. Chờ khi ra ngoài lao động, mới xin anh bộ đội cảnh vệ cho đi giải quyết bên bờ bụi gần nơi lao động, vừa sáng sủa thoáng mát, lại không bị nạn muỗi đêm bu đốt hút máu.
 
Ðội Xây Dựng, chuyên pha cây, đục đục đẽo đẽo làm cột, kèo, dui, mè, để dựng nhà. Còn lợp mái, dựng vách, làm sàn nằm, là những việc phụ không cần chuyên nghiệp, có anh em Ðội Nông Nghiệp chúng tôi tăng phái phụ lực. Dĩ nhiên việc xây cất các kiến trúc bằng gạch, láng xi măng, dựng khung sườn nhà, ráp cửa… là phần vụ chuyên môn, đều do anh em Ðội Xây Dựng thực hiện.
 
Có một chuyện lạ không ai ngờ, số anh em vốn thuộc gốc Công binh được “biên chế” vào Ðội xây dựng, không ai chịu làm Ðội trưởng. Trại đã phải chỉ định một anh thuộc ngành Hành chánh Tài chánh (Ðại tá Bùi hữu Ðặng) làm Ðội trưởng Ðội Xây Dựng. Thế mà công tác xây dựng vẫn được tiến hành xuông sẻ, đáp ứng đúng “yêu cầu” của Trại và Liên trại đề ra.
 
 
CỰU ĐẠI TÁ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA
 
Ðội Ðan Lát, chuyên pha “chổm”, đập dập để làm tranh lợp mái nhà, đan phên làm vách, sàn nằm, làm “ki”, và pha giang để chẻ lạt cột, bện thừng, đan rổ, rá, thúng, nia, bồ… Nhưng “trước mắt” có nhiều “yêu cầu khẩn trương” làm không kịp, Ðội Nông Nghiệp chúng tôi được tăng cường tiếp tay làm những công việc này. Nhờ thế mọi người học được nhiều nghề một lúc, bảo đảm sau này khi được tha ra, có thể tự lực lao động mà sống, không ăn bám vào xã hội như trước đây. “Ðáp ứng đúng yêu cầu Chính sách Nhà nước” đã đề ra cho các Cải tạo viên.
 
Ðội Rau Xanh, phá bụi cây dại và cỏ hoang ở 2 bên rià suối, giữa khu cán bộ ở và trại giam Tù, để cuốc xới đất làm các luống trồng rau cung cấp cho trại. Vì “bước đầu” mới khởi công, “trước mắt” chưa có rau để thâu hoạch, nên hàng ngày Ðội chúng tôi phải tăng phái một Tổ đi theo Quản giáo Ðội Anh Nuôi (hoả đầu vụ), đến các Hợp Tác Xã quanh vùng mua rau cung cấp cho nhà bếp. Toàn là rau muống bè thân dài thòng dai ngắc, hoặc ít trái bí ngô, bầu già đem về nấu ăn cả vỏ. Ðội Anh Nuôi, được coi là bận bịu phải thức khuya dậy sớm, lo nấu thực phẩm, đun nước chín cung cấp đúng giờ giấc quy định cho cả trại.Nhưng thực ra không vất vả nặng nhọc, bằng công việc của các Ðội Lâm Sản, Nông Nghiệp, Xây Dựng, Rau Xanh. Suốt bốn mùa, mưa cũng như nắng, mọi người phải đầu đội Trời chân đạp Ðất, lặn lội nơi rừng rậm âm u, bì bõm nơi đồng ruộng sình lầy, lạnh cóng, nóng nực. Ngoài ra, vào những dịp Lễ Tết, khẩu phần ăn được tăng cường, Ðội Anh Nuôi làm không kịp, lại được anh em Ðội Nông Nghiệp chúng tôi đến tăng cường phụ giúp, giải quyết cho kịp thời gian tính.
 
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi 2 tháng trời, cả trại phải cố gắng “thi đua lao động” chào mừng ngày Lễ Ðộc Lập 2 tháng 9, và đón Phái đoàn Trung ương đến “tham quan định giá thành quả lao động cải tạo” của trại viên. Mọi người đã phải “khắc phục” “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, để hoàn tất mọi “đề án” được Phân trại chấp thuận, dựa theo “đề xuất” của “Ban Thường Trực Thi đua” phối hợp cùng các “Tự Quản Ðội”, trình bầy trong ngày Ðại hội phát động phong trào thi đua mùa Thu 1977.

Các công trình hoàn tất trong “Ðợt Thi Ðua” mừng ngày Ðộc Lập 2 tháng 9 lần thứ 30 này gồm :

1.- Chiếc Cổng Trại đồ sộ kiểu cách mỹ thuật;
2.- Dẫy Nhà Vệ Sinh rộng rãi sạch sẽ bằng gạch mái lợp tôn;
3.- Mấy dẫy nhà “chổm” mới cho Tù ở rộng rãi hơn;
4.- Vòng hàng rào 2 lớp “chổm” nguyên cây bao quanh trại;
5.- Khu vườn rau xanh mướt nằm dài 2 bên khe suối.

Trại nhận xét, “thành quả lao động cải tạo bước đầu” rất “khả quan”. Ðể cả Cán bộ lẫn anh em Tù “hân hoan”ø ăn mừng ngày Lễ Ðộc Lập lần thứ 30, của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay đã đổi tên là Cộng Hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam từ cuối năm 1975, được linh đình. Ban Chỉ huy Phân trại K1, đã cho Quản giáo Ðội chúng tôi (Trung úy Khảm) dẫn mấy anh Ðội Lâm Sản, đến các Hợp Tác Xã tìm mua thịt tươi.

Con ngựa mua được, già gầy ốm trơ xương, què một chân không còn khả năng lao động, của 1 Hợp Tác Xã cách xa trại chúng tôi chừng vài chục cây số đường rừng. Ông Khảm cho biết : “-Tiền Nhà Nước tăng cường cho Tù trong dịp này không nhiều lắm. Mặc dầu quen biết lâu năm với các cơ sở địa phương, ông ta vẫn phải tốn công tới lui thương lượng nhiều lần, họ mới bằng lòng để cho với giá phải chăng.”

Làm thịt ngựa, phải dùng búa tạ đập đầu ngựa cho gục xuống mê man, rồi mới thọc huyết bằng ống nứa vạt nhọn tréo một bên. Mấy anh bạn Tù thuộc Ðội Anh Nuôi, người cũng lực lưỡng lắm mà làm không được. Lại phải nhờ đến Quản giáo Ðội chúng tôi ra tay tế độ.

Hôm đó, cả trại được nghỉ lao động, nên có dịp xem làm thịt ngựa. Thật là một cảnh thương tâm hãi hùng, Tôi chưa bao giờ được chứng kiến.

Một sợi thừng to, chắc, một đầu cột vòng cổ con ngựa, một đầu buộc vào cây cột cao 1 mét, níu cho đầu nó cúi thấp xuống. Một bạn Tù lực lưỡng đứng phiá trước con ngựa, cầm chiếc búa tạ sẵn sàng dơ cao lên đập mạnh xuống đỉnh đầu nó, để hạ cho nó ngất đi.

Hai mắt con ngựa mở trừng trừng ứa lệ, làm như khóc van xin đừng giết nó. Khi chiếc búa giáng xuống thì nó lắc đầu né, nên đập hụt. Ðập lần thứ hai, chắc vì xúc động, nhát búa giáng xuống không đủ mạnh. Con ngựa chỉ chúi xuống, rồi lại cố gắng vùng đứng dậy, tìm cách giật cho đứt thừng để chạy trốn.

Quản giáo Ðội chúng tôi đứng hướng dẫn và quan sát, lên tiếng chê : “-Ðàn ông gì mà nhát gan dở quá vậy, để tôi ra tay cho xem, mà rút kinh nghiệm về sau.” Ông ta sắn tay áo lên, đến trước con ngựa, vung tay búa lên giáng mạnh xuống, chỉ một nhát là giải quyết xong ngay. Thảo nào, các Cụ thường nói “trăm hay không bằng tay quen” là thế.

Ngựa ngất xỉu nằm sõng soài trên mặt đất. Lẹ tay ông Khảm buông búa ra, nhặt ngay ống nứa đã vạt nhọn để kề bên, thọc từ ức cổ con ngựa đâm sâu xuống ngực nó. Máu từ đoạn nứa tuôn ra như xối vào chiếc chậu nhôm to tướng. Một chậu không đủ chứa, phải tăng cường thêm 2, 3 chậu khác mới hết.

Thọc huyết xong, người ta lấy rơm rạ phủ một lớp thật dầy che kín hết con ngựa, rồi bật lửa thui nó. Cho đến khi da quanh mình nó đã xém vàng mới ngưng, để mổ banh bụng nó ra, moi lấy bộ lòng, lột da, xẻ thịt.

Một đùi sau, hai dải thịt bắp thăn lưng, tim, gan, và bộ óc dành cho Cán bộ Liên trại và K1. Phần còn lại, kể cả da lẫn xương, ruột, và huyết, là phần của anh em Tù K1 tổng số khoảng hơn 350 người, nấu nướng chia nhau ăn 2 bữa, để mừng ngày Cách mạng tháng 8 thành công từ 30 năm về trước.

TÌNH NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

Muỗi, vắt, họp bầy đeo khắp thân,
Ðầm lầy, khe úng, đỉa bâu chân.
Tù, đua lao động nâng thành tích,
Cán, thúc ghi công xét định phần.
Ðôi mẩu ngựa già xào muối hột,
Vài khoanh măng đắng nấu xương gân.
Ðồng bào đâu thấy lòng nham hiểm,
Thế giới nào hay dạ bất nhân!
 
K1, LT1, Việt Cường, Yên Bái. Tháng 9-1976
 
 
 
Chương 12
 
THIÊN LA ÐỊA VÕNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Công tác xây dựng Phân trại K1 vừa hoàn tất, một số Ðội được đưa qua tăng cường xây dựng Khu Nhà Khách cho Liên trại. Khu này gồm 1 dẫy nhà ở, 1 dẫy nhà ăn cho khoảng vài trăm người, 1 nhà bếp lớn, 1 Thư viện, và 1 dẫy nhà vệ sinh công cộng bằng gạch có mái che, ở sườn đồi gần ngay bên K Lò Gạch. Tất cả các dẫy nhà đều được lợp mái bằng tôn.Ðội chúng tôi được tăng cường làm vệ sinh chung quanh khu nhà Máy Phát Ðiện của Liên trại, bên kia đường đối diện Khu Nhà Khách.Sáng nào cũng vậy, đi trên đường đến nơi lao động, anh em thường gặp 1 người da trắng, mũi lõ, tóc quăn mầu bạch kim, mắt xanh, khoảng trên dưới 30 tuổi, cầm chiếc cần câu cá và 1 hộp mồi giun đi ngược chiều về phiá đập nước. Chúng tôi nhìn với vẻ ngạc nhiên, nhưng không ai dám xì xào gì cả.
Quản giáo Ðội chúng tôi lanh lợi tinh ý, chắc là đoán được suy nghĩ của chúng tôi, lên tiếng giải thích : « -Anh này là người Mỹ sinh ở Pu-éc-ta-ri-cô. Anh ta vốn là tù binh xin ở lại, và xin được làm Công dân Việt Nam, lấy tên là Nam. Anh ấy có vợ người Việt ở Hànội. Mỗi tháng được phép về thăm vợ 1 lần. Anh ấy nói và viết tiếng Việt rất giỏi. Anh ấy phụ trách máy phát điện của Ban Chỉ huy Liên trại. »

Kế ngay bên nhà máy phát điện, là dẫy nhà « chổm » 2 gian dành riêng cho anh Nam. Khoảng mươi mét, phiá sau nhà ở và nhà máy phát điện, có 1 nhà vệ riêng của anh Nam. Nhà vệ sinh là 1 căn lều khoảng 4 mét vuông, quây kín chung quanh bằng phên « chổm », bên trong có 1 bục gỗ cao, làm chỗ ngồi đại tiện xuống 1 thùng gỗ đựng phân ở phiá dưới, để hàng ngày anh Nam lấy đi bón cho khu vườn rau riêng của mình.

Anh em lao động tại đây, nếu có nhu cầu đi đại tiện, cũng được phép bộ đội cảnh vệ cho vào xử dụng. Vì anh Nam thường ngày đi lên phiá đập nước câu cá, nên không có gì trở ngại. Tôi cũng đã có dịp vào xử dụng nhà vệ sinh này.

Trên nền nhà vệ sinh, thấy có vài cuốn vở học sinh viết đầy chữ Việt, vứt bừa bãi lẫn lộn với đủ loại giấy vụn, sách báo, giẻ rách dính đầy dầu nhớt. Bià vở, các trang giấy thấy còn mới, và chữ viết mực chưa bị phai nhoè hay bạc mầu theo thời gian.

Tôi tò mò, nhặt mấy tờ giấy đầy chữ lên đọc, xem viết những gì trong đó. Liếc qua ít câu, Tôi sửng sốt ngạc nhiên bỏ ra ngoài ngay, và không bao giờ dám trở lại nữa, vì sợ Cán bộ thấy sẽ mang họa. Giấy viết toàn những lời hướng dẫn đường trốn trại, từ Việt Cường qua Nghĩa Lộ, Mường La để thoát sang Lào, hay xuôi theo sông Ðà ra biển thuộc Vịnh Bắc Kỳ.

Ðêm về nằm mung lung suy nghĩ, trằn trọc không sao ngủ được. Nhiều câu hỏi tiếp theo nhau hiện ra trong đầu. Ai viết ra và vứt tại đó vậy? Phải chăng anh Nam là người của CIA cài lại, để tìm hiểu đường đi nước bước nhằm giúp chúng tôi trốn trại? Hay chính Cán bộ Cộng sản gài bẫy, để tạo cơ hội thực hiện những chính sách cư xử với chúng tôi khe khắt hơn, mà không bị anh em oán thù là tàn bạo vô nhân đạo?…

Làm vệ sinh khu nhà máy phát điện xong, Ðội chúng tôi được đưa đi làm thuê, «tịnh kho» (dọn sạch sẽ kho) cho Hợp Tác Xã ở ngay giữa đoạn đường đi từ Ban Chỉ huy Liên trại đến K1 (nơi giam chúng tôi).

Công việc phải làm, thoạt nghe thấy rất đơn giản nhẹ nhàng. Chỉ vun gọn bắp và sắn khô còn vương vãi trong kho, xúc bỏ vào các bồ đựng, khiêng cất sang ngăn khác, rồi quét dọn sạch sẽ để chuẩn bị chỗ chứa lúa Thu Ðông sắp sửa gặt.

Khi bắt tay vào việc mới thấy là rất cực nhọc. Vì phải làm liên tục không ngơi tay, giữa bầu không khí bụi mù ngột ngạt, hôi mốc rất khó chịu. Mũi miệng phải bịt khăn kín mít, thế mà bụi vẫn chui qua vải vào đầy lỗ mũi, bám đầy trên mặt, quanh mắt làm cộm ngứa. Suốt từ đầu đến chân, quần áo phủ đầy bụi bặm mạng nhện.

Kho đóng cửa lâu ngày không mở, từ dưới gầm sàn gỗ giữ cho ngũ cốc không chạm nền đất, chuột, muỗi tuá ra vô số kể. Nhiều ổ chuột con chưa mọc lông, da bóng láng đỏ hỏn, chưa mở mắt, lúc nhúc chúi vào nhau coi thấy mà ghê sởn gai ốc đầy mình.

Chỉ có một điều mừng duy nhất, khiến ai cũng mong được đi làm thuê cho Hợp Tác Xã là, trong những ngày đi làm cho Hợp Tác Xã, mỗi buổi lao động tùy theo mùa, mỗi người được « bồi dưỡng » thêm 1 khúc sắn luộc to bằng cổ tay dài độ 30 phân, hoặc 1 trái bắp lớn, ngoài phần ăn do trại phát rất nghèo nàn.

Mỗi tháng, không phân biệt tháng 30 ngày hay 31 ngày, khẩu phần ăn cho Tù được quy định khoán là 12 kí lô gạo. Như vậy « bình quân » mỗi ngày, một người chỉ được ăn khoảng 350 gờ-ram, vì còn phải trừ đi phần hao hụt chuyển vận, tồn kho, bàn cân không chính xác.
Nhưng chẳng bao giờ được lãnh gạo. Thường xuyên quanh năm, gạo được thay thế bằng sắn khô, bắp khô, hoặc khoai lang khô, tính theo phân xuất một đổi một. Có nghiã là 1 kí lô sắn khô, hay 1 kí lô bắp (ngô) khô, được tính tương đương với 1 kí lô gạo. Trường hợp đang mùa sắn hay mùa bắp thì được ăn tươi, tính theo phân xuất 4 kí lô sắn tươi cả vỏ, hoặc 4 kí lô bắp tươi cả lõi và lá bao ngoài, quy bằng 1 kí lô gạo.

Nếu có gạo nấu cơm, phần của mỗi người được chia là : bữa sáng một phần ba ca cơm, bữa trưa bằng miệng ca, và bữa tối cũng bằng miệng ca. Sắn khô hay bắp khô nấu chín, chia ra mỗi người cũng được một lượng ao tương đương như vậy. Không biết Cách mạng Chuyên chính Vô sản, tính toán đo lường làm sao mà tài đến thế.

Bắp tươi luộc, phát mỗi bữa được 1 trái lớn, hoặc 2 trái nhỏ, đem tẽ hột ngồi đếm, bữa nào cũng như bữa nấy, được khoảng từ 800 đến 900 hột. Dĩ nhiên bữa sáng thì chỉ được bằng một phần ba bữa trưa hoặc bữa tối.

Thức ăn mỗi bữa, mỗi người được vài cọng rau muống dài chừng 10 phân nấu canh với muối, hoặc vài khoanh măng tươi kho muối, là căn bản hàng ngày. Chỉ những ngày Lễ lớn hàng năm như Lễ Ðộc Lập, 3 ngày Tết, phần ăn được tăng cường thì mới biết mùi thịt, cá, hoặc tương hột đậu nành muối mặn, và 25 phần trăm cơm, 75 phần trăm sắn.

Một hôm, có lẽ vào khoảng cuối tháng 10 năm 1976, Ðội chúng tôi đang làm tại Kho Hợp Tác Xã, ở giữa quãng đồng từ K1 (khu nhà ngói) sang BCH Liên Trại 1, thì nghe 3 tiếng súng nổ liên tiếp nhau. Cán bộ Quản giáo và bộ đội cảnh vệ, ra lệnh cho anh em ngưng lao động, tập họp điểm số “khẩn trương” trở về trại giam. Mọi người vội vã hồi hộp, chẳng ai biết chuyện gì đang xẩy ra. Tới trại mới thấy tất cả các Ðội, dù lao động xa hay lao động gần, cũng đều được lần lượt dẫn về hết. Mỗi Ðội phải ở trong láng riêng, không được đi lại lộn xộn giữa các láng. Mọi người hết đứng lại ngồi, đi quanh quanh trong láng, ngó nhìn ra sân, xì xầm bàn tán chẳng biết chuyện gì.

Mãi tới khi anh bạn Tù trực buồng xuống Bếp, lãnh thức ăn tối cho Ðội mang về, mới thì thầm cho biết, Ðội Lâm Sản có 4 người lạc trong rừng chưa thấy về. Các Ðội phải về trại, để tập trung Cán bộ đổ đi tìm từ chiều tới giờ chưa có kết quả.

Buổi chiều lúc gần mãn giờ lao động, các Ðội trưởng (gạch nối giữa Cán bộ và anh em Tù) được gọi lên họp với Ban chỉ huy K1. Họp xong trở về, Ðội trưởng của chúng tôi tập họp anh em, cho biết 4 anh trốn trại là : Võ Quế (Không quân), Ðỗ trọng Huề (Hành chánh Tài chánh), Thi (Pháo binh), Thành (Trung đoàn trưởng thuộc Sư đoàn 9 BB). Tôi không nhớ Họ của các anh Thành và Thi. Ðội trưởng cũng chuyển lệnh Trại nhắc nhở, những ai thường có tiếp xúc thân mật với các anh ấy, biết gì về hoàn cảnh của các anh ấy phải báo cáo lên Cán bộ. Nếu giấu diếm không khai, sau này điều tra ra, sẽ bị ghép tội tiếp tay cho người trốn trại.

Tôi giật mình suy nghĩ, trước ngày các anh ấy trốn, anh Võ Quế có đến gặp Tôi nhiều lần vào buổi tối, để xin thuốc kiết lỵ và hộp quẹt (diêm). Tôi hỏi cần để làm gì, anh Quế nói là lúc này phải đi Lâm sản, nhiều lúc lạnh quá muốn đốt lửa hút thuốc cho ấm mà không có quẹt, mấy anh cùng đi có nhưng hết cả rồi. Sở dĩ anh Quế đến xin Tôi là vì, suốt từ khi vào trại Long Giao, qua trại Suối Máu, ra đến K1 Liên trại này, anh Quế cùng 2 anh bạn gốc Pháo binh và Tôi, có cùng hoàn cảnh gia đình thiếu thốn, thường chia sẻ cho nhau những gì chúng tôi có, nên đã tự nhiên trở thành bạn tâm tình rất thương nhau. Ða số anh em trong Ðội của Tôi ai cũng biết. (Anh Quế là em ruột Tướng Võ Dinh bên Không quân.)

Trong khi thông báo lệnh của Trại, anh Ðội trưởng đã cố ý nhìn Tôi nhiều lần, như muốn nhắn nhủ cho riêng Tôi điều gì đó. Nhưng Tôi làm ngơ như không biết gì cả. Thông báo xong, anh em tản mát mỗi người lo việc riêng của mình. Anh Ðội trưởng cũng là một Ðại tá Không quân, đến gần Tôi hỏi nhỏ : -Mấy bữa trước thấy anh Quế, tối nào cũng xuống gặp anh tại chỗ nằm để làm gì vậy? Anh ấy có than van gì với anh không? Tôi trả lời : -Không, anh ấy đến xin thuốc lá hút như hồi còn nằm gần bên nhau chung một Ðội, chớ không nói gì cả.

Những ngày kế theo, Tôi đã giữ im lặng chẳng khai báo gì hết, và sẵn sàng ứng biến với Cán bộ nếu bị thẩm vấn. Tôi đã có kinh nghiệm, bị gọi làm việc với Cán bộ nhiều lần ở trong Nam rồi, nên không sợ.

Qua ngày hôm sau, mỗi Ðội đi lao động được tăng cường thêm 1 tay súng thứ 2. Bình thường chỉ có Quản Giáo đội và 1 bộ đội cảnh vệ mang súng thôi.

Ðội chúng tôi không ra Hợp Tác Xã lao động nữa, được giao cho công việc đào 4 hầm giam, bên sườn đồi dốc đứng, đối diện khu nhà ở của cán bộ K1. Kỳ hạn phải làm xong trong 2 ngày. Mỗi hầm bề ngang 80 phân, cao 3 mét, sâu vào lòng núi 3 mét. Mái hầm làm bằng các cây gỗ nhỏ, xếp liền nhau trên mặt đất sườn đồi, rồi cột tranh chổm và đổ đất phủ lên bên trên. Mỗi hầm cách nhau 1 mét. Mỗi hầm có 1 cửa gỗ có khoá riêng bên ngoài, và một gông bằng gỗ dầy có 2 lỗ to vừa bằng cổ chân, ở ngay cuối bệ đất nằm, đóng chắc vào 2 cột sát bên vách hầm.

Vài ngày sau vào lúc xế chiều, Ðội vừa đi lao động về đến trại, nghe tin là 4 anh trốn trại đã bị dân chúng bắt đem nộp cho trại, và đang bị cùm trong những hầm giam mà Ðội chúng tôi mới thực hiện xong từ mấy ngày trước.

Một anh bạn Tù thuộc Ðội nhà bếp, Ðại tá Trần văn Thăng cũng thân với Tôi, được Cán bộ dẫn đem thức ăn cho các anh bị giam, cho biết là các anh ấy bị đánh nhừ tử như cái rẻ rách, trông rất thảm thương. Những người bị kỷ luật, mức ăn bị giảm xuống chỉ còn 9 kí lô một tháng, so với bình thường là 12 kí lô.

Mấy ngày tiếp theo, vào một buổi sáng anh em đang ngồi đợi tại sân tập họp, chờ gọi xuất trại đi lao động. Có tin xì xầm rỉ tai nhau : “-Hồi đêm anh Thành xé chăn đắp, làm dây treo cổ lên mái hầm tự tử chết.”

Ðội chúng tôi ai cũng ngạc nhiên. Từ nền đất nằm lên tới mái hầm cao 3 mét, cả 2 chân bị cùm bằng gông gỗ, chỉ có thể ngồi lên với 2 chân duỗi thẳng sát đất, chớ không đứng lên được. Với tư thế ngồi bẹt dưới đất trên sàn nằm như vậy, 2 tay dơ thẳng trên đầu không cao quá 1 mét rưỡi, các cây phủ nóc hầm ken (xếp) sát liền nhau không kẽ hở, khung cửa lại cách xa nền nằm 1 mét, làm sao tự cột dây lên mái hầm mà treo cổ được. Nói như vậy chắc ai cũng biết anh Thành chết vì sao rồi, khỏi cần giải thích thêm.

Khi có quyền sinh sát trong tay, người ta muốn làm gì nói gì mà chẳng được. Ai xì xào nghi vấn thì lập tức bị kết ngay tội bôi xấu Chế độ, và sẽ bị kỷ luật tức khắc. Càng trình bầy minh oan tội càng nặng, vì ngoan cố không chịu nhận tội để sửa sai.

Không biết mấy bạn Tù trốn trại này, có dịp vào xử dụng nhà vệ sinh của anh Nam (người tù binh Mỹ xin ở lại làm công dân Việt Nam, lấy vợ Việt), mà lượm đọc những trang chữ chỉ đường dẫn lối không?

Hay là bạn nào đã nhặt đem về đưa cho đọc, mà tin tưởng cả gan liều lĩnh đặt kế hoạch rủ nhau trốn trại như vậy? Bản thân Tôi kính phục lòng can đảm của các anh ấy vô cùng.

Nhiều bạn cũng khen là can đảm. Nhưng cũng có bạn chê là liều không đúng lúc, chỉ tạo cơ hội cho bọn Qủy Ðỏ bầy đặt thêm biện pháp xiết chặt cách cư xử, hành hạ gây thêm khó khăn cho cả mọi người.

MẮC NẠN THIÊN LA ÐỊA VÕNG.

Biết rằng dầy đặc Công an,
Một lòng đã quyết, nguy nan chẳng sờn.
Cho Hùm ăn thịt còn hơn,
Sống trong lao nhục, chết mòn, tủi thân.
Sau đêm tầm tã mưa tuôn,
Tầng tầng sương phủ rừng hoang mịt mờ.
Cùng nhau thực hiện ước mơ,
Bốn Tù Lâm sản lủi vô lòng rừng.
Tìm đường trốn thoát khỏi bưng,
Theo sông, vượt biển, tới vùng Tự do.
Cho Thiên hạ rõ mưu đồ,
Cộng quân nham hiểm hơn Hồ ly tinh.
Bầy ra đủ thứ cực hình,
Ðọa đầy Công chức, Chiến binh Cộng Hoà.
Tiếc thay đại nạn chưa qua,
Loanh quanh rừng rậm, không ra được ngoài.
Cạn lương, tìm rẫy kiếm khoai,
Dân rình bắt được, thẳng tay hạ đòn.
Không cho phân giải thiệt hơn,
Xúm nhau đấm đá, hả cơn hận thù.
Theo lời Cách mạng mùa Thu,
Không theo Cộng sản, là thù của dân.
Dù là máu mủ, quyến thân,
Liệt vào giai cấp thành phần hiểm nguy.
Phải cần tiêu diệt hết đi,
Chỉ còn vô sản, vô nghì với nhau.
Tiến lên theo Ðảng dẫn đầu,
Hoà cùng các nước chư hầu Liên sô.
Ðại đồng Thế giới Tam vô,
Trở về nguyên thủy, tha hồ Tự do.Nguyễn Huy Hùng
K1, LT1, Việt Cường, Yên Bái, tháng 10-1976
 
 
Chương 13
 
CHÍNH SÁCH KHOAN HỒNG NHÂN ĐẠO CỦA NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ TRƯỚC SAU NHƯ MỘT

Khoảng vài tuần lễ sau vụ trốn trại xẩy ra, một đoàn Cán bộ Trung ương tới trại tổ chức học tập. Người ta nhai lại những gì đã học ở trong Nam trước khi ra Bắc.

Trong buổi “tổng kết thành quả thâu hoạch” tại Hội trường về đợt học tập, đã xẩy ra một chuyện bất ngờ làm anh em ngạc nhiên. Trưởng đoàn Cán bộ Trung ương, yêu cầu anh em “mạnh dạn” cho biết những khó khăn muốn được giúp đỡ để học tập cho tốt, cũng như “thành khẩn” trình bầy những u uẩn trong lòng làm ảnh hưởng đến tinh thần học tập, kể từ ngày ra đến đất Bắc Xã hội Chủ nghiã.
Có mấy anh gan dạ, lên tiếng đưa ra 2 vấn đề xin được “giải toả thoả đáng” :
1.- Cán bộ cấp Trung ương, tuổi cũng bằng cỡ chúng tôi, mà còn gọi chúng tôi là các anh. Thế mà ở đây có một cán bộ rất trẻ, chỉ bằng tuổi con của chúng tôi, lại dùng từ “chúng mày” để nói với chúng tôi. Ông ấy còn nói là “con của chúng mày sẽ không bao giờ được vào Đại học”. Điều này trái hẳn với Chính sách khoan hồng nhân đạo của Nhà nước Xã hội Chủ nghiã, mà các Cán bộ đã giảng dạy cho chúng tôi bấy lâu nay, làm chúng tôi rất hoang mang.
2.- Nhà nước thông báo là chỉ đem tiền ăn và quần áo đủ dùng cho 1 tháng học tập. Đến nay đã hơn 1 năm rồi, quần áo mùng mền của chúng tôi đã rách, lại phải ra ngoài Bắc này thời tiết quá lạnh, không quần áo ấm làm sao đủ sức chịu đựng mà học tập lao động cho “tiến bộ” được. Chúng tôi tha thiết yêu cầu cho gửi thơ về gia đình, xin tiếp tế thêm quần áo lạnh và mùng mền.
 
 
Để trả lời, Trưởng đoàn Cán bộ Trung ương đã mau mắn khen ngợi tinh thần “thành khẩn” của anh em, và xác nhận rằng : “-Chính sách khoan hồng nhân đạo của Nhà Nước Xã hội Chủ nghĩa trước sau như một, không có gì thay đổi. Tuổi trẻ bao giờ cũng nông nổi, chúng tôi sẽ “kiểm thảo” để “sửa sai” cho những ai đã có hành động như vậy. Việc quần áo ấm thì chúng tôi sẽ trình Cấp Trên cứu xét giải quyết “khẩn trương”cho anh em. Hãy cố gắng học tập cho tốt đừng nản lòng. Việc được về sớm hay muộn, tùy thuộc vào tinh thần cố gắng học tập và mức tiến bộ của chính bản thân mỗi người. Các Chị và các cháu ở nhà vẫn sinh hoạt bình thường như mọi người khác. Các anh cứ yên tâm học tập cho nó tốt, không có gì phải lo lắng.”
 
Thật đúng là miệng lưỡi của “Vẹm” xảo quyệt, gian ngoan, lừa đảo, láo khoét, không sao tin được. Sau này, khi được tha về vào tháng 2 năm 1988, Tôi mới được gia đình kể cho biết là : “Tháng 9 năm 1975, sau khi Tôi đi trình diện tập trung cải tạo được 3 tháng, người con trai thứ của Tôi đang học năm thứ 3 Y khoa, Đại học Minh Đức tại Saigon, đã bị loại ra khỏi trường Đại học bằng 1 biện pháp vô cùng dã man.
Chiều ngày 26 tháng 9 năm 1975, các bạn thân cùng nhóm học với Con tôi đến nhà báo cho gia đình biết, trong lúc đang cùng mọi người nghe thuyết giảng tại Trường Luật ở đường Duy Tân, Saigon, Con tôi đã bị Công an bắt đưa lên xe chở đi đâu không biết.
Vợ của Tôi lo lắng chạy ngược chạy xuôi, trình hỏi khắp các cơ quan Công an Quận, Thành phố, không ai biết gì. Chồng đã bị bắt đi trình diện học tập, suốt mấy tháng trời bặt không tin tức. Nay, khi không, Con lại bị bắt đưa đi đâu mất tích chẳng biết sống chết ra sao. Vợ của Tôi buồn phiền, lo nghĩ sinh bệnh nặng, phải đưa đi cấp cứu mấy lần mới thoát chết.”
Thật là “Họa vô đơn chí, Phúc bất trùng lai”. Mặc dù thất vọng, nhưng gia đình chúng tôi theo đạo Phật, thấu hiểu “luật nhân quả”, nên luôn luôn tin tưởng rằng không bao giờ Trời hại người hiền lương. Gia đình chúng tôi chưa bao giờ làm điều thất đức, trước sau gì rồi cũng được an toàn thoát nạn.
 
“Ngày tháng buồn khổ cứ vô tình trôi qua. Bỗng dưng một hôm, vào khoảng tháng 9 năm 1976 tức là một năm sau, tự nhiên có một người trẻ, bạn tù của con Tôi mới được tha, tới nhà báo tin cho biết là con Tôi đang bị giam trong Khám Chí Hoà. Mừng rỡ, Vợ của Tôi chạy đi nhờ người chỉ vẽ cách làm đơn xin và được vào thăm nuôi con.
 
Hơn 1 năm xa cách, Mẹ con mới lại có dịp thấy mặt nhau, trong sân của Khám Chí Hoà. Thấy con chỉ còn da bọc xương, ốm tong ốm teo, ghẻ lở cùng mình, đầu tóc rụng trơ sọ, quần áo rách nát bẩn thỉu, không đi nổi, phải bò lết ra gặp Mẹ. Trước cảnh tượng vô cùng đau thương đó, Vợ của Tôi sót xa, nghẹn ngào, tim gan se thắt, đau đớn như đứt từng khúc ruột.”
 
Bây giờ, ghi lại những dòng này, Tôi vẫn còn bị xúc động mạnh, không kềm nổi những dòng lệ nghẹn ngào, thương sót cho Vợ Con đã vì mình mà phải chịu họa lây thảm thương đến như vậy. “Sau khi thăm Con ra về, Vợ của Tôi phải đi cầu cứu bạn bè quen biết, giúp chạy chọt nhờ các gia đình Cách mạng vẽ lối chỉ đường làm đơn xin bảo lãnh cho con được tha. Mọi thủ tục hoàn tất, việc cứu xét kéo dài một năm sau con trai của Tôi mới được tha về, vào tháng 7 năm 1977. Nhưng cậu ấy không được Phường, Quận, chấp nhận cho nhập “hộ khẩu” của gia đình.
Con của Tôi, phải nhờ bạn bè chỉ vẽ cách xin tình nguyện đi làm không công trong Phòng Y tế của Phường, tham gia đoàn công tác thường xuyên đến vùng Kinh tế mới Lê Minh Xuân, cách xa Saigon 15 cây số, chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào làm Thủy lợi tại đây. Ba năm sau mới được thâu nhận làm nhân viên chính thức của Phòng Y tế Phường 10, Quận Phú Nhuận, và được giúp đỡ cho gia nhập “hộ khẩu” gia đình.
Lúc được tha về, cậu ấy kể lại cho gia đình nghe, ngay khi bị bắt đưa lên xe, người ta bịt mắt không cho nhìn đường. Họ chở tới giam trong một căn nhà villa nào đó, đánh đập tra hỏi đủ điều suốt mấy ngày liền về tổ chức Phục quốc. Cậu ấy khai không biết gì cả. Tra khảo mãi không lấy được lời cung khai nào, họ bèn đem cậu ấy ra xe đưa vào Khám Chí Hoà, Saigon, nhốt trong phòng biệt giam tăm tối. Hàng ngày, công an đến tiếp tục thay phiên nhau đánh đập tra khảo cả mấy tháng trời, vì bị nghi vấn tham gia phong trào Phục quốc, chống lại Chính quyền Cách mạng. Không khai thác được manh mối nào để kết tội, nhưng vẫn bị giam giữ suốt 2 năm trường, ngắc ngoải gần chết vì bệnh hoạn, thiếu dinh dưỡng.”
Nhờ trước 30-4-1975, Tôi và các Con hàng ngày đến Võ đường luyện tập Nhu đạo và Thái cực đạo, nên biết cách chịu đòn và biết bảo vệ những chỗ hiểm nên không chết. Nhưng cậu ấy vẫn bị hư màng nhĩ lỗ tai trái, không nghe được nữa.
“Trong khi Tôi đang đi cải tạo, ở nhà Vợ của Tôi và những bà vợ các Sĩ quan, Công chức của Chế độ Saigon cũ, thường xuyên bị Phường buộc đến tập trung nghe cán bộ nói về các chính sách của Nhà nước, thúc đẩy “đăng ký tình nguyện” đi vùng Kinh tế mới tham gia sản xuất. Có chịu đi thì chồng mới sớm được tha về đoàn tụ với gia đình. Trong khi đi vùng Kinh tế mới, Nhà Nước sẽ “quản lý” giùm nhà riêng tại Saigon.
Sau những đợt học tập như vậy, Chính quyền địa phương còn cho các nhân viên Nam Nữ trẻ, tuổi cỡ đôi mươi, ăn mặc sắc phục bộ đội, mang súng, đội mũ “tai bèo”, đến tận nhà hăm dọa đủ điều, để ép phải ký giấy tình nguyện đi vùng Kinh tế mới. Nhiều Bà nhẹ dạ cả tin đã ra đi. Một thời gian sau bệnh hoạn, đói rách, con chết, không chịu nổi, tìm cách trở lại Thành phố thì không còn nhà để ở, phải sống trong hoàn cảnh bất hợp pháp không có “hộ khẩu”.
Riêng phần gia đình của Tôi, vì đang phải nuôi người con trai út mới sanh hồi tháng 1 năm 1976, nên nhất định lỳ không chịu đi, mặc dù Phường cử nhân viên đến nhà hàng tháng đốc thúc, hăm dọa, nào là không đi thì Nhà nước sẽ không bán gạo cho, bệnh hoạn sẽ không chữa bệnh cho… Cuối cùng, để gia đình không bị sách nhiễu nữa, cô con gái lớn của Tôi cũng là Sinh viên Y khoa, ngoài giờ đi học và thực tập tại Bệnh viện, đã phải tình nguyện đến làm việc không công cho phòng Y tế Phường, phụ trách châm cứu chữa bệnh cho đồng bào. Tới cuối năm 1977, tình nguyện và được chấp nhận cho đi làm tại nhà thương Nguyễn văn Cội vùng Củ Chi, cách Saigon chừng vài chục cây số. Đến gần cuối năm 1979, mới xin được chuyển về Saigon làm việc tại nhà thương Đồn Đất, khu Nhi (chữa bệnh con nít).
Năm người con nhỏ tuổi hơn, sau khi học hết Trung học, không ai được nhận vào Đại học, mặc dù điểm thi tuyển đạt rất cao, chỉ vì trong hồ sơ có vết tích Cha là Sĩ quan của chế độ cũ đang phải đi tập trung cải tạo. Chúng phải đi làm thợ cho các Tổ sản xuất mành Trúc, do gia đình các cán bộ Cách mạng làm chủ để kiếm cơm ăn hàng ngày.”
Vài ngày sau đợt học tập chấm dứt, một buổi sáng, các Đội đang ngồi tại sân tập họp đợi gọi đi lao động, một chuyện bất ngờ đã xẩy ra. Cán bộ trực trại tuyên đọc lệnh kiểm tra tư trang thay vì đi lao động.
Mọi người vào thu vén hết đồ dùng quần áo riêng của mình đem ra sân, bầy trước mặt trên đất, theo từng đội, tại khu vực do Cán bộ quản giáo đội chỉ định. Cán bộ đến kiểm soát kỹ lưỡng tư trang của từng người một, tịch thu những gì cán bộ cho là vi phạm quy luật trại giam, Tù không được lưu giữ bên người.
Kiểm tra suốt từ sáng đến trưa mới song. Một lệnh mới được loan ra, mỗi người chỉ được giữ lại hai bộ quần áo dùng đi lao động, còn tất cả phải xếp vào một bọc riêng cất vào kho, trong dẫy nhà ngói. Thuốc âu dược riêng của mỗi người, bỏ vào 1 túi nylon, viết giấy ghi tên mình để bên trong, cột lại, nộp cho trại giữ giùm, khi nào cần sẽ phát tùy theo nhu cầu. Tiền bạc và các vật qúy như đồng hồ đeo tay, nhẫn cưới, dây đeo cổ, đeo tay bằng vàng bạc, đều phải nộp cho trại cất giữ có cấp giấy biên nhận, khi nào được tha trại sẽ hoàn trả lại.
Một điều làm mọi người e ngại là, vàng thì ghi là kim loại màu vàng, lỡ sau này vàng sẽ bị trả lại bằng kim loại cũng màu vàng, nhưng là thau hay đồng thì sao. Lo vậy nhưng không ai dám nói gì.
Thật là thâm độc và xảo quyệt. Đây chính là biện pháp mà bọn Quản lý trại giam theo lệnh Nhà Nước, cần áp dụng đối với Tù chính trị miền Nam. Nhưng trước khi thi hành, họ lại tạo điều kiện xúi Tù trốn trại, rồi mới dựa vào cớ ấy để đưa ra biện pháp quản lý khắt khe, không ai có thể kêu ca quy tội cho họ là vô nhân đạo.

Cồng bom nhức óc, inh tai,
Chó tru thảm thiết, báo Trời rạng đông.
Dậy lo thu xếp chăn mùng,
Sẵn sàng tiếp tục thi công kiếp tù.
Sơn lâm chướng khí mịt mù,
Cỏ cây ướt sũng âm u lạnh lùng.
Não nề, ôí ! cảnh tập trung,
Dầm mưa dãi nắng, sức cùng lực tiêu.
Đắng cay, nhịn nhục đủ điều,
Gian lao, xốc vác, chỉ tiêu nặng nề.
Đọa đầy thê thảm ê chề,
Như bầy nô lệ làm thuê khốn cùng.
Đảng là vai chủ nhân ông,
Độc quyền sinh sát lao công tội tù.
Không theo Cách mạng muà Thu,
Tất nhiên Đảng phải diệt trừ không tha.
Khoan hồng, nhân đạo chỉ là,
Mượn lời Nhân Nghĩa, ba hoa bịp đời.
Lừa Nhân Thế mắc hợm chơi,
Bao giờ Cộng sản thương người Quốc gia
 
!K1, LT1, Việt Cường, Yên Bái, tháng 11-1976
 
 
Chương 14
 
YÊU LAO ĐỘNG LÀ YÊU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA – YÊU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ YÊU NƯỚC

Chung quanh K1 không có đất để canh tác, nên sau khi hoàn tất đợt học tập được khoảng một tháng, tất cả chúng tôi được di chuyển tới một khu khác, vào tháng 12 năm 1976. Mức cao độ của Khu trại mới này, thấp hơn mức cao độ K1 cũ chừng 40 mét. Nó ở về phiá Nam cơ sở BCH Liên trại 1, cách xa khoảng 5 cây số, trên con đường đi xuống hướng sông Âu Lâu.Tới khu mới này, anh em chúng tôi bị chia ra làm 2 Phân trại : một nửa ở K2 (Trại Cây Khế) và một nửa ở K3 (Trại Cốc), cách xa nhau chừng một cây số.Ngay tại ngã 3 đường rẽ vào khu Trại mới này, có một Bệnh xá, nơi điều trị các Tù bệnh nặng, không thể chữa khỏi tại các Phòng Y tế Phân trại. Tôi không biết Bệnh xá có bao nhiều giường. Nhưng thấy có tới 4, 5 dẫy nhà, chắc phải có ít nhất là 50 giường. Vì ngoài các Phân trại giam các Tướng, Đại tá, Liên Trại 1 còn quản lý mấy trại khác giam cấp Trung tá, Thiếu tá, cũng ở trong khu vực này. Mỗi trại cách nhau từ 5 đến 7 cây số, dọc 2 bên đường dẫn xuống phiá sông Âu Lâu.
Khu mới đến, là một thung lũng hẹp nằm giữa 2 dẫy đồi, sườn dốc thoai thoải chừng 30 độ góc, dài khoảng 100 mét từ chân lên đến đỉnh. Một con suối hẹp nằm dọc suốt thung lũng, nước chẩy xiết qua nhiều thác nho nhỏ cao 1 mét, ra đến bên đường lớn rẽ phải xuôi xuống hướng Nam. Đằng sau 2 dẫy đồi là những dẫy núi cao hàng trăm mét, trùng trùng điệp điệp, sườn dốc 60 độ, trồng những cây bồ đề để lấy gỗ làm giấy. Cây nào cây nấy gốc to một người ôm không hết, cao cả chục mét. Miệng thung lũng nơi sát đường cái, bề ngang rộng khoảng 500 mét, càng vào trong sâu càng nhỏ dần lại còn chừng 300 mét.K2 ở ngay gần miệng thung lũng, cách Bệnh xá một cây số, gọi là Trại Cây Khế. Vì trên giữa đỉnh đồi gần bên trại có một cây khế to cao, xum xuê trái. Đi sâu thêm độ cây số nữa, tới K3 ở trong cùng của thung lũng, gọi là Trại Cốc.Đội chúng tôi thuộc nhóm giam tại K2 (Trại Cây Khế). Khu nhà dành cho Tù ở trên sườn đồi phiá Bắc con suối, đối diện với khu Cán bộ ở trên sườn đồi phiá Nam con suối. Con đường dẫn vào K3 (Trại Cốc) chạy dài theo sườn đồi bên phiá khu Cán bộ ở.
Các dẫy nhà Cán bộ ở sát trên đỉnh đồi, cao hơn so với các dẫy nhà Tù ở phiá bên đối diện. Chạy dài theo rià sân trước những dẫy nhà Cán bộ ở, có đào 1 giao thông hào sâu 1 mét rưỡi, với những vị trí để súng liên thanh, súng cối, hướng sang khu Tù ở.

Các dẫy nhà Tù ở đều rất cũ, làm bằng “chổm”, cất tựa theo sườn đồi thành 3 nấc. Nấc dưới thấp hơn nấc trên một chiều cao nhà, tính từ nền lên đến mái. Nấc dưới cùng gần bên bờ suối là khu Nhà Bếp, sân tập họp. Các nấc kế trên là những dẫy nhà ở.

Đường lên xuống giữa các nấc nhà, là những bậc thang đất đào vào sườn đồi. Đội chúng tôi ở trong dẫy nhà trên nấc cao nhất, phải leo tới 30 bậc thang đất, mỗi bậc cao cỡ 40 phân, mới tới nơi. Mùa mưa, lúc đi xuống thường bị trượt chân giáng đít trên bậc đất oành oạch. Có người còn bị tuột luôn mấy bậc mới khựng lại, làm dồn xương sống, choáng váng mặt mày. May mà không có ai bị gẫy xương, trật gân vì những tai nạn nho nhỏ này.

Dẫy nhà chúng tôi ở chứa 2 Đội. Trước dẫy nhà có một sân rộng khoảng 5 mét, để sáng sớm cả Nhà ra xếp hàng tập thể dục, tối điểm danh trước khi vào Láng ngủ. Sân còn được dùng làm mặt bằng để pha “chổm”, đan phên, đan tranh, làm “ki” (cáng khiêng)…

Trong nhà có 2 dẫy xạp nằm sát dọc 2 bên vách, rộng 2 mét bằng phên “chổm”. Phiá vách sát nóc nhà, bên trên đầu xạp nằm khoảng 1 mét rưỡi, có 1 giàn kệ rộng 60 phân cũng bằng “chổm”, để Tù cất đồ dùng thường ngày của mình trên đó cho gọn gàng. Một đường đi rộng 1 mét rưỡi, dài suốt từ đầu này đến đầu kia, nằm dọc chính giữa dẫy nhà.

Nhà có 3 lối ra vào đều không có cánh cửa. Hai cửa ở 2 đầu nhà có 1 tấm phên cao rộng 2 mét, đóng xuống đất trên hiên phiá ngoài, cách khung cửa 70 phân, để cản gió mưa không tạt vào nhà. Vách phiá lưng nhà, nằm song song với thành đất sườn đồi, nên không có cửa sổ. Vách phiá trước, trông ra sân nhìn sang khu Cán bộ ở, chính giữa có một khuôn cửa ra vào rộng 1 mét, và 4 khuôn cửa sổ ở 2 bên. Tất cả đều không có cánh cửa.

Những bọc tư trang riêng, hồi còn ở K1 (khu nhà ngói) Tù phải để vào kho chung, nay được trả lại. Nhưng phải xếp tập trung vào một góc nhà, và thuộc quyền kiểm soát thường xuyên của Quản giáo Đội. Không ai được đụng tới, mỗi khi cần lấy thứ gì phải xin phép Quản giáo cho mới được.
 
Khu trại này không biết do ai dựng lên từ bao giờ, tình trạng rất cũ kỹ. Các vách “chổm” đã khô cong, kẽ hở rộng không còn khả năng chắn gió Bấc mùa Đông, được dự đoán sẽ “khắc nghiệt” hơn mọi năm. Chung quanh trại chưa có hàng rào. Cần có thêm dẫy nhà làm Hội trường, cho khoảng 200 người ngồi học tập trong những ngày mưa gió. Cần có Thư viện trưng bầy sách báo do các Lãnh tụ Cộng sản Việt Nam viết, truyện dài truyện ngắn Xã hội chủ nghiã do các Văn nô Cộng sản sáng tác, hoặc dịch từ các truyện của Liên sô. (Tù sẽ phải mượn đem về láng ở mà đọc, mà nghiên cứu, nghiền ngẫm để thấm nhuần tư tưởng Cách mạng tháng 8, cho mau trở thành con người Xã hội Chủ nghĩa.) Cần có 1 phòng hớt tóc chung cho mọi người. Cần có 1 Phòng Y tế chữa trị những bệnh thông thường hàng ngày cho Tù, để luôn luôn bảo đảm nhân số tham gia lao động cao. Mấy dẫy nhà bên khu Cán bộ ở, cần phải phá đi làm mới cho thêm khang trang, an toàn khi giông bão.
 
Đấy là những việc cần làm “khẩn trương”. Mùa mưa dầm gió Bấc của miền Bắc Việt Nam, đã bắt đầu rả rích từ gần 2 tháng rồi. Vì thế, trừ 2 Đội Rau Xanh và Đội Anh Nuôi ra, tất cả các Đội đều phải tập trung đi chặt “chổm”, chặt giang, đốn gỗ, cắt sậy, lấy lá chuối rừng đem về thực hiện những công tác cần nêu trên.Đây là “đợt thi đua mới” được “phát động” để chuẩn bị mừng đón Tết Đinh Tỵ 1977. Mọi người lại phải cố gắng tham gia thể hiện cho nó tốt, mau “tiến bộ”, để hy vọng sớm được tha về “đoàn tụ” bên Vợ Con.Thoạt đầu, Đội chúng tôi được đưa đi theo đường cái lớn, xuôi xuống hướng Nam chừng 5 cây số để chặt “chổm”.
Trên đường đi, cách Trại chúng tôi khoảng 3 cây số, gặp 1 trại gồm chừng 10 dẫy nhà “chổm” nằm sát bên trái đường, không biết giam Tù thuộc cấp bậc nào, bao nhiêu người. Trại này được xây dựng trên sườn núi cao không có khe suối. Nên phải dựng một giàn ống nứa dài, cao hơn mặt đường độ 6 mét, suốt từ suờn núi bên phải nơi có mạch nước chẩy ra, băng qua đường, sang tận sườn núi bên trái nơi dựng trại, để tiếp nước ăn cho Trại.

Rừng “chổm” cách trại này khoảng 2 cây số, dưới khe phiá bên trái đường. Khu vực sát bên đường người ta đã chặt trụi trơ hết. Chúng tôi phải đi vào trong sâu, cách đường 2 cây số mới có “chổm” để chặt.

Ít bữa sau, Đội chúng tôi lại được đưa đi về hướng Bắc, cách trại chừng 1 cây số, để đốn cây bồ đề về làm cột, dui, và kèo nhà. Chuyến đi này cheo leo khó khăn vất vả hơn. Muốn tới khu vực có bồ đề được Công ty Lâm sản Nhà Nước đánh dấu loại bỏ, cho phép chặt tiả, phải mất cả tiếng đồng hồ, leo lên tụt xuống 4 ngọn núi cao cỡ trăm mét nối tiếp nhau mới gặp. Không ước lượng được khoảng cách từ đường cái vào là bao xa.

Ngày thứ 2 đi đốn bồ đề, trên đường về Tôi đã bị một tai nạn khủng khiếp. Vết thẹo oan nghiệt nhớ đời, dài 3 phân, vẫn còn khắc rõ ràng nơi cổ tay trái, sát ngay phiá trên chỗ đeo đồng hồ. Từ ngày ấy đến nay, mỗi khi Tôi đưa tay lên xuống làm việc gì cũng thấy nó, một dấu ấn hận thù không bao giờ quên được. Tai nạn đã xẩy ra thật bất ngờ, Tôi không có cách nào phản ứng kịp để tránh nó.
Cán bộ quy định, một ngày mỗi người phải chặt và vác về 4 cây bồ đề dài 5 mét, đường kính phiá gốc tối thiểu là 20 phân. Ai mạnh có thể vác cả 4 cây một lượt về nộp xong thì được nghỉ, coi như ngày công lao động đã hoàn tất. Ai yếu như Tôi thì phải cột 2 cây làm một để vác làm 2 chuyến.

 
Vác gỗ vượt qua khỏi các đỉnh phiá trong, sườn dốc lài lài khoảng 30 độ góc, thì ra tới đỉnh sau cùng để xuống đường. Sườn núi sau cùng dốc đứng tới 60 độ, dài chừng 80 mét, nên không thể vác gỗ đi xuống được. Phải thả cho bó cây tự động trôi, tuốt từ trên cao xuống khe chân núi trước, rồi người mới từ từ đi lần xuống sau để vác ra đường.Suốt đêm hôm trước, Trời mưa rả rích nên cỏ và đất núi trơn trợt. Sau khi đã thả hết cả 4 cây gỗ, cột thành 2 bó trôi xuống chân núi. Tay phải cầm con dao dựa chặt gỗ rất bén, Tôi từ từ đi xuống. Chẳng may bị trượt chân ngã nhào, lăn vòng vòng theo sườn dốc, khoảng chừng 30 mét tới khe chân núi mới khưng lại.Sau cơn hoảng hốt, ngồi lên được thì thấy mu bàn tay trái đầm đià máu. Vén tay áo lên xem thì thật khủng khiếp, vết dao cắt đứt thật sâu, da miệng vết thương banh ra chừng 1 phân, trông thấy xương cánh tay trắng hếu. Tôi vội lấy chiếc khăn lông, đang cuốn ở cổ chống lạnh, để băng chặt vết thương lại. Rồi dùng bàn tay phải bóp chặt chỗ vết thương cho máu ngưng chẩy, vừa đi vừa chạy theo kiểu Hướng đạo sinh, suốt hơn 2 cây số đường về phòng Y tế của K2 xin băng bó. Mặc dù ở ngã 3 rẽ vào K2, có Bệnh xá Liên trại nằm ngay đầu đường, nhưng vì Cán bộ canh cổng không cho vào xin cấp cứu, nên đành chịu.
Về tới K2, sau khi được anh bạn Tù làm Y tá phụ Cán bộ trưởng Phòng Y tế, rửa khử trùng và băng bó vết thương xong. Tôi phải năn nỉ nhờ anh ấy đi gặp Cán bộ Y tế, xin giùm giấy chứng nhận bị thương tích trầm trọng không lao động tiếp được để về Láng nghỉ. Tôi cũng nhờ anh ấy xin Cán bộ, cho phép lấy thuốc trụ sinh riêng của Tôi gửi trại giữ để uống liền. Nhờ thế, những ngày kế theo, vết thương không làm độc.

Tôi chỉ được nghỉ 2 ngày làm việc nhẹ, phụ lặt rau cho nhà bếp, rồi lại phải tiếp tục theo Đội đi ra ngoài lao động như thường.

Cho đến bây giờ, Tôi vẫn không hình dung ra được là dao đã cứa cổ tay của Tôi, vào lúc nào trong khi ngã lăn lông lốc xuống núi. Nếu chẳng may mà dao lại cứa nhằm chỗ khác như cổ, mặt, bụng, hoặc vết cứa ở cổ tay chỉ nhích tới phiá trước chừng nửa phân thôi là đứt gân máu lớn. Máu sẽ chẩy nhiều hơn, nằm ngất sỉu nơi khe chân núi đến khi có người phát giác ra, thì chắc là Tôi đã không phải tiếp tục chịu đọa đầy cả hơn chục năm trời tiếp theo. Xác đã được vùi sâu nơi đồi thông phiá bên trái đường vào K2, như các bạn Đại tá xấu số Bá-Thìn tự Long, và Huỳnh Hữu Ban Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà rồi.

Trong lúc vận sui, vẫn có những cái may đến bất ngờ. Ngày Tôi phải đi lao động trở lại, Đội không đi lấy bồ đề nữa, mà đi lấy lá sậy và lá chuối rừng về phơi khô, kết phủ trên xạp nằm và chung quanh vách nhà cho kín gió, để mùa Đông trong Láng ở được ấm cúng hơn.

Nơi lấy lá ở ngay trên một khoảnh đồi, bên phiá trái con đường gần sát bià khu rừng nằm giữa K2 và K3. Bên sườn đồi, thấy nhiều dấu vết nền gạch của những căn nhà đã bị triệt hạ, chung quanh có những cây ổi, cây tranh. Đặc biệt trên đỉnh đồi, có 1 cây khế khá to đang đầy trái. Tuổi thọ của nó ít ra cũng khoảng vài chục năm chớ không ít. Sau này, một bạn vốn là diện rộng trong K3, trách nhiệm đi trăn trâu hàng ngày, bị chuyển đi trại Tân Lập, Vĩnh Phú một lượt với Tôi cho biết, theo lời tiết lộ của Quản giáo đội anh ta, hồi 1954 khu Cốc này đã từng là nơi có những nhà giam Tù binh Pháp thua trận Điện Biên Phủ.

Một tuần sau, Đội chúng tôi lại được đổi công tác. Đi lên hướng Bắc, xa hơn BCH Liên trại 1 và K Lò Gạch chừng 3 cây số, vào rừng xa đường lớn cả hơn cây số, để chặt giang. Đem về, pha, chẻ, tước thành nan đủ loại khác nhau, làm lạt cột, chuốt nhẵn đan nong, nia, rổ, rá, kết mành mành che cửa nhà ở của Cán bộ.

Con đường đi lấy giang, còn gian khổ hơn con đường đi lấy bồ đề nhiều. Sườn núi dốc đứng, dầy đặc cây gai và dây rừng chằng chịt, không có đường mòn để đi, phải lội ngược dòng suối, suốt từ ngoài đường lớn vào đến nơi có giang. Lòng suối lổn nhổn toàn đá sỏi, lởm chởm đầy rong rêu trơn trợt. Dòng nước chẩy xiết cóng buốt, có chỗ xấp xỉ cổ chân, có chỗ cao đến gần đầu gối. Chẳng may bị trượt chân, là té lăn đùng ra suối không gượng được. Quần áo ướt sũng từ đầu đến chân, bị dòng nước cuốn trôi một đoạn xa mấy mét, mới quờ nắm được cây bên bờ giữ cho khựng lại để đứng lên. Phải lội như vậy hơn một cây số, mới gặp rừng giang để chặt.

Giang là một loại họ nhà tre, nhưng lại mọc nằm bò dài từ bờ suối lên sườn núi, chớ không mọc thẳng đứng như tre hoặc “chổm”. Nó chen nhau chằng chịt, vươn dài chồng lên nhau để tìm ánh sáng mặt trời, nên rất khó chặt, và rất nguy hiểm.

Chặt giang nguy hiểm, vì chặt ở gốc sát mặt đất không được, phải trèo lên đứng trên đỉnh những gốc người ta đã chặt trước, để chặt từ lưng chừng thân cây cách gốc khoảng hơn 1 mét.

Hai chân phải đứng trên những gốc cụt. Tay trái nắm vịn vào thân cây khác kề bên, để giữ thăng bằng. Tay phải cằm dao chặt thật mạnh, làm sao chỉ một nhát chéo là đứt băng luôn thân giang. Nếu không thân giang sẽ bị tước ra không còn nguyên vẹn, trở thành vô giá trị, phải đi chặt cây khác. Đường kính thân cây giang chỉ khoảng 6 phân là lớn nhất.

Bao giờ cũng phải mò tìm chặt bỏ khúc ngọn trước, rồi mới chặt đoạn gốc sau. Vì thế, khi đoạn thân còn lại đứt lià khỏi gốc, là nó lao tuột xuống đất chẳng biết hướng nào. Có thể bật lên rồi mới tuột xuống, đẩy mình ngã ngửa ra phiá sau, gây thương tích cho chính mình. Hoặc có thể lao xa khỏi bụi gốc, đâm nhằm bạn nào đứng gần đó.

Đây là lần đầu tiên trong đời phải làm việc này. Không ai có kinh nghiệm để mà đề phòng, nên đã xẩy ra một tai nạn hú hồn hú viá. Một anh đang đứng đảo mắt tìm giang để chuẩn bị chặt, bị cây giang của anh khác chặt đứt ở bụi gần đó lao xuống, sướt qua cạnh ngoài đùi đâm xuống đất. Chỉ chệch sang bên trái độ 10 phân là gẫy đùi, và nhích lên một gang tay nữa là thủng bụng.
Một ngày mỗi người phải chặt 1 bó 10 cây dài 4 mét, bó chung lại vác về trại.

Việc đi lấy “chổm”, lấy bồ đề, lấy giang, thường phải làm thông tầm (không về nghỉ trưa tại trại), nên trước khi đi được lãnh luôn cả phần ăn sáng và phần ăn trưa, đem theo ăn tại chỗ.

LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG

Cô đơn bên những cô đơn,
Phùn (1) bay rát mặt, Bấc (2) dồn buốt da.
Âm thầm nối bước xông pha,
Ngược dòng suối cóng xót xa thân gầy.
Rừng giang (3) chằng chịt tầng cây,
Âm u mờ ảo gây gây lạnh hồn.
Đèo cao, khe, dốc dập dồn,
Dạ dày thôi thúc từng cơn đói lòng.
Chiêu xuôi nhờ ngụm nước trong,
Kèm bi “Thống Nhất”(4) chập chờn khói tan.
Cho quên bao nỗi cơ hàn,
Cho tâm bền vững tính toan sự đời.
Gian truân thầm trách Ông Trời,
Bầy trò dâu biển khiến người khổ đau.
Trại Cây Khế (K2), LT1, Yên Bái. Tháng 12-1976.

 
(1) Mưa phùn = mưa nhẹ hạt, bay lất phất theo gió dầy đặc như sương mù.
 
(2) Gió bấc = gió lạnh từ phương Bắc thổi xuống, vào mùa Đông .
 
(3) Giang là 1 loại họ nhà tre, các đốt dài rỗng ruột và mình nạc dầy hơn tre, sợi mộc dẻo dai, có thể tước thành nan thật mỏng để làm lạt buộc rất bền. Vào dịp Tết, người miền núi thường chẻ thành lạt, bó từng bó 100 sợi bán ngoài chợ, cho dân thành thị mua về cột gói bánh chưng.
 
(4) Thuốc lào hiệu “Thống Nhất” sản xuất tại miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, Trại phát không cho Tù hàng tháng mỗi người 2 gói 5 gram. Đây là một loại lá tương tự như cần sa, do người vun trồng chăm sóc như trồng rau. Tới lúc đủ già, hái lá về xấy khô, ủ với một chất hoá học, rồi thái nhuyễn cỡ sợi chỉ, ép thành bánh vuông đem bán. Người dùng vê từng viên nhỏ, để vào lõ chiếc “điếu cầy” hay “điếu bát”, dùng lửa đốt cháy để hút khói vào phổi. Hơi khói sẽ hoà tan theo máu, làm cho cơ thể tê mê, quên đói, quên lạnh, dễ du giấc ngủ. Không có điếu, người dùng có thể lấy một chiếc lá cuốn tròn, để viên thuốc vào một đầu, đặt đầu kia của cuốn lá vào miệng, rồi cầm lửa đốt thuốc và hút khói vào phổi. Hút bằng cuốn lá như vậy, luôn luôn phải ngậm trong miệng một ngụm nước để lọc khói cho đỡ nóng họng.
 
 
Chương 15
 
NHÂN QUYỀN TRONG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

Sau khi chuyển về K2 được ít ngày, Trại cho Tù biên thư về gia đình xin tiếp tế quần áo lạnh, gửi qua đường Bưu điện, bằng những bưu kiện 2 kílô.

Mỗi trại giam do Bộ đội Cộng sản quản lý đều dùng Ám số hộp thư giống như KBC (khu bưu chính) của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, hoặc hộp thư riêng ở bên Hoa Kỳ (P.O. Box và Zip Code, nhưng không ghi tên thành phố), để dùng làm địa chỉ của Trại. Vì thế, gia đình nhận được thư, không thể biết thân nhân của mình đang bị giam tại đâu, thuộc vùng nào trong lãnh thổ Việt Nam.

Thư gửi đi, Tù phải để phong bì mở không được dán kín, để Quản giáo Đội đọc kiểm duyệt, rồi mới dán lại giùm và chuyển đi. Nếu trong thư ai có lời lẽ xa xôi, bóng gió than khổ, hoặc tiết lộ địa điểm trại giam thì sẽ bị gọi lên làm việc. Cán bộ lên giọng giáo dục, cảnh cáo cả tiếng đồng hồ, rồi bắt viết lại đúng theo hướng dẫn mới chuyển đi. Bị cảnh cáo một lần là coi như có tì vết trong hồ sơ cá nhân. Kể từ đó về sau, đến trại nào cũng bị Cán bộ “quan tâm” theo dõi.

Trong khi chờ hồi âm của gia đình, Trại được Trung Ương tiếp tế một số áo bông cũ dài tay, chăn (mền) bằng sợi pha bông, và màn (mùng) bằng vải sô Nam Định, để phát cho Tù. Áo bông và chăn thì mỗi người được phát một chiếc. Ai hên, lãnh được chiếc áo còn tốt thì mừng. Ai xui xẻo gặp phải chiếc cũ rách, đành buồn thiu cam chịu. Trường hợp gặp chiếc cỡ nhỏ chật hẹp, hay rộng dài thùng thình không mặc được, thì chịu khó tìm bạn bè cùng Đội mà đổi. Nếu không xong cũng đành chịu vậy. Riêng mùng (màn) thì ai không có, hoặc có nhưng đã quá cũ vàø bị rách nhiều chỗ mới được phát.

Khoảng cuối tháng 1 năm 1977, các bưu kiện từ miền Nam gửi ra cho Tù bắt đầu ào ào đến trại. Bưu kiện chỉ được phát vào buổi chiều, sau giờ lãnh cơm tối xong. Cán bộ phụ trách bưu phẩm, dùng loa đọc tên Tù lần lượt sang trụ sở BCH trại, để ký hồ sơ lãnh nhận bưu kiện của mình, trước sự chứng kiến của Quản giáo Đội.

Tù phải nói đúng tên người gửi bưu kiện, mới được ký sổ nhận lãnh. Trường hợp nói không đúng tên người gửi, được phép đoán thêm những tên khác, cùng với sự liên hệ thân thuộc của người ấy đối với mình. Nếu chẳng may sai cả, Trại sẽ giữ lại điều tra bổ túc và quyết định sau.

Trường hợp này đã xẩy đến với Tôi. Con gái thứ của Tôi đi gửi bưu kiện, nên phải ghi tên cô ấy là người gửi, chớ không phải tên Vợ tôi. Vì thế mới xẩy ra chuyện rắc rối cho Tôi. Theo nguyên tắc, Sở Bưu điện chỉ nhận Bưu phẩm để gửi đi, nếu so sánh tên và địa chỉ người gửi ghi trên Bưu phẩm, đúng với tên và địa chỉ ghi trên Thẻ căn cước của người mang Bưu phẩm tới gửi. Tôi đọc tên Vợ, không đúng. Cán bộ cho đọc một tên khác. Tôi đọc tên người con gái lớn, cũng không đúng. Cán bộ hỏi còn ai khác gửi nữa không? Tôi đọc tên người con gái thứ. Cán bộ mới đưa cuốn sổ ký nhận bưu kiện ra, và nói ký vào đây.

Quản giáo Đội của Tôi ngồi chứng kiến việc phát Bưu phẩm, cười cười hỏi : “-Tại sao vợ anh không gửi mà lại là con gái thứ? Chắc mấy người kia di tản hết rồi phải không?” Tôi trả lời không, tất cả Vợ Con của Tôi đều ở Saigon. Cán bộ xem lại bản tự khai lý lịch gia cảnh của Tôi thì rõ. Tôi đâu có dám nói dối với Cách mạng. Ông ta tủm tỉm tiếp : “-Nói chơi vậy thôi. Trung ương, Địa phương toàn là Cán bộ của Đảng và Nhà nước lãnh đạo cả, nên biết hết. Các anh dối trá làm sao được.”
Mọi bưu kiện nhận, phải mở tung ra để Quản giáo Đội kiểm tra tại chỗ, rồi mới được đem về. Một rắc rối đã xẩy ra ngay khi gói quà đầu tiên được mở, làm Cán bộ phải ngưng lại để đi xin chỉ thị của Trại trưởng. Vì lẫn trong quần áo có tiền, thư, và thực phẩm khô : đường cục, mật ong, lạp xưởng, bánh quy, trà, cà phê, thuốc chữa bệnh, sữa bột…

Cuối cùng thì mọi việc cũng được giải quyết tốt đẹp. Theo lời giải thích của Cán bộ : “-Trưởng trại nhận thấy trong thời gian qua, anh em đã có thiện chí cố gắng cải tạo tốt, tình trạng sức khoẻ đang bị xa xút trầm trọng, nên cho phép nhận cả thực phẩm khô để bồi dưỡng mà học tập cho nó tốt hơn nữa. Còn tiền và Âu dược thì phải gửi trại giữ như đã quy định trước đây.”

Dịp này, Tôi cũng nhận được 4 bưu kiện. Trong các bưu kiện Tôi nhận, lẫn với áo len, khăn len quàng cổ, mũ dạ, tất tay bằng da, giầy, bàn chải và kem đánh răng, sà bông, khăn mặt, tất (vớ), có cả thuốc trụ sinh, thuốc kiết lỵ, thuốc tiêu chẩy, thuốc ngừa sốt rét, thuốc bổ tổng hợp các loại vitamin, thực phẩm khô, và thư, nhưng không có tiền. Thư bị Quản giáo giữ lại đọc để kiểm tra, mấy ngày sau mới cho lại.

Một điều làm Tôi vừa thích thú vừa buồn cười, thán phục cái mánh khoé tinh khôn không ngờ của Vợ và các Con. Đôi giầy Bata cao cổ, được tách 2 chiếc riêng rẽ, để gửi thành 2 bưu kiện khác nhau. Trong mỗi chiếc nhồi đầy thực phẩm khô cho đủ 2 kílô. Nếu chẳng may, 1 trong 2 bưu kiện không đến nơi, thì chỉ có 1 chiếc giầy làm sao dùng cho cả 2 chân được?!

 
Vợ của Tôi là người lười viết thư nhất trần gian, nên đã để cô gái thứ biên thư cho Tôi, dựa theo ý hướng dẫn tổng quát của Mẹ. Trong thư đại ý nói : “-Cả nhà bình yên, sinh hoạt bình thường. Anh Hải đã được đưa đi vùng Kinh tế mới. Má nhớ thương Bố và anh Hải, nên buồn bịnh chút đỉnh, nhưng thường xuyên được Chính quyền Cách mạng địa phương giúp đỡ tận tình nên không sao. Cả nhà mong Bố ráng cố gắng học tập cho mau tiến bộ, để sớm được về đoàn tụ với gia đình.”
Thư gia đình gửi đến mà không viết như vậy, thì chẳng bao giờ Tù được nhận để đọc. Để được trông thấy tuồng chữ thân thương của thân nhân. Để xoa dịu nỗi cô đơn trong cuộc sống khổ nhục hàng ngày, dù biết rằng những lời nói trong thư đều trái ngược hẳn với sự thật.

Đầu năm 1988, Tôi được tha về gặp gia đình mới biết, ý chính trong thư đã nhận được muốn nói là : “Anh Hải bị bắt giam trong tù giống như Bố nên Má thương. Má bịnh vì Chính quyền Cách mạng thường xuyên đến thúc ép buộc gia đình đi vùng Kinh tế mới, nhưng gia đình không chịu đi.”
Một số bạn Tù không nhận được bưu kiện, vì vợ con đã di tản hoặc thất lạc không biết hiện ở đâu, để gửi thư liên lạc. Ngược lại, một số khác gia đình giầu có dư giả, lúc đi trình diện tập trung đem theo rất nhiều tiền. Hồi khởi sự học tập 10 bài nhồi sọ tại Long giao, trại mở “Căng tin”, mua ăn “thả giàn” mà vẫn chưa hết. Nay lại nhận được thêm tiền trong các bưu kiện, nên mạnh dạn đề nghị BCH trại mở “Căng tin”, bán đường, bánh, kẹo, sữa… để anh em mua ăn “bồi dưỡng” cho cơ thể khoẻ mạnh, tiếp tục học tập được mau “tiến bộ”.

Vài tháng sau khi chiếm xong toàn miền Nam Việt Nam, Chính quyền Cộng sản Bắc Việt đã thực hiện Chính sách bóc lột san bằng giai cấp, một cách vô cùng tàn bạo trắng trợn. Họ ra lệnh đình chỉ việc lưu hành tiền miền Nam Việt Nam, để đổi ra tiền miền Bắc với giá biểu 500 đồng bạc miền Nam ăn 1 đồng bạc miền Bắc.

Cả Thế giới đều biết, tiền miền Bắc thường được gọi nôm na từ hồi 1946 là tiền CỤ HỒ, không được quốc tế công nhận, vì không có vàng ký thác trong Ngân hàng Thế giới, để bảo chứng khi phát hành như đồng bạc của miền Nam Việt Nam, nên chẳng có giá trị gì. Nó chỉ là những mảnh giấy Tín phiếu tượng trưng, để trong nước dùng trao đổi với nhau mà thôi.

Tình trạng kinh tế đình trệ từ sau 30-4-1975 tại miền Nam Việt Nam, đã làm vật giá leo thang nhanh chóng, đồng tiền Cụ Hồ liên tục bị phá giá. Số tiền nhỏ nhoi anh em Tù gửi Trại giữ, để dự phòng trường hợp được tha có tiền ăn đường về với gia đình, cũng sẽ chẳng còn giá trị bao nhiêu. Hơn nữa, anh em bắt đầu cảm nhận thấy rằng còn lâu mới được tha. Với hoàn cảnh đầy đọa đói ăn, lao động cực khổ vất vả như vầy, chắc gì còn sống được đến ngày tha về với Vợ con mà để dành. Mình chết đi chắc gì Vợ con được biết, để mà xin lãnh nhận lại. Do đó, anh em mới đề nghị trại cho mua đồ ăn “bồi dưỡng” hết đi cho rồi.

Trung úy Khảm, Quản giáo Đội chúng tôi, không biết thứ vị Đảng ủy của ông ta cỡ nào, và sự quen biết ảnh hưởng của ông ấy đối với các Chủ nhiệm Hợp tác xã địa phương ra sao, mà thấy cả Trại trưởng lẫn các cán bộ trong Trại đều mến nể. Ông ta thường được Trại trưởng chỉ định đi cùng Quản giáo Đội Nhà Bếp, tiếp xúc địa phương để trao đổi mua bán thực phẩm cung cấp cho trại. Nhờ thế, khi anh em đề nghị ông góp ý kiến với Trại mở “căng tin” bán các thức ăn bồi dưỡng, thì ông ta đã sốt sắng “đề bạt” ngay với Trại trưởng.

Vài ngày sau, ông ta cho biết : “-Không mở “căng tin” được, vì trái quy định của Nhà Nước đối với Trại viên Cải tạo. Nhưng Trại trưởng “nhất trí”ù để ông ấy đi tiếp xúc với các Hợp tác xã, mua giùm “mật đường”, bánh khách, kẹo lạc, cho anh em “bồi dưỡng”. Tùy theo số tiền riêng của mỗi người đang gửi trại giữ. Ai muốn mua phải “đăng ký” tên với Quản giáo đội, tập trung trình Trại xét đưa người đi mua giùm cho.”

Giá cả các món hàng được thông báo qua các Đội trưởng. Các Đội trưởng làm bảng liệt kê tên những người xin mua, món gì, bao nhiêu, nộp lên Quản giáo đội.

“Mật đường” là nước miá ép ra, đem đun sôi cho bốc hết hơi nuớc, trở thành 1 chất lỏng sền sệt đặc hơn mật ong mầu nâu xậm. Để nguyên như vậy gọi là “mật đường”. Nếu người ta đem đổ ra các tấm phên lớn, để cho khô cứng lại, cắt thành từng miếng hình chữ nhật 10 phân bề ngang, 20 phân bề dài, ngoài Bắc gọi là đường phên hoặc đường thẻ. Còn ở trong Nam và miền Trung, thường đổ vào những chiếc chén (bát) để khô, gọi là đường chén hay đường tán. Muốn có đường cát vàng hay đường trắng tinh, người ta còn phải đem loại đường thô này biến chế và lọc với một loại hoá chất mới thành.

Kẹo lạc sản xuất tại vùng Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Xã hội Chủ nghĩa này cũng rất đặc biệt. Đó là những miếng bánh tráng mỏng, hình tròn, đường kính độ 5 phân, có một lớp hột đậu phộng rang chín và “mật đường” mỏng rải đầy trên mặt bánh. Sau đó xếp thành từng chồng 10 cái, cuốn trong những miếng lá chuối khô để đem bán.

Bánh khách là loại bánh Trung Thu nướng, theo lối gọi của người miền Bắc. Thường thì vỏ bao ngoài làm bằng bột mì, nhân bên trong gồm 2 loại khác nhau. Có thể là nhân chay, làm bằng đậu xanh hoặc hạt sen trộn đường cà nhuyễn. Có thể là nhân mặn, trộn lẫn lộn các thứ thịt khô (lạp xưởng, gà quay), lòng đỏ trứng muối, mứt bí, hạt dưa, vây (vi) cá… gọi là nhân thập cẩm.
Nhưng bánh khách ở vùng này, vỏ bánh không biết làm bằng loại bột gì mà khô cứng, nhân là khoai lang luộc chín trộn chút đỉnh đường cà nhuyễn, mùi vị lợ lợ chua chua. Bánh đem về có nhiều chiếc bị nứt, mốc xanh, hình như không bán được đã trữ trong kho lâu quá. Nhưng Trại đã lỡ mua về không đem trả lại được, đành phải nhận cắt bỏ những chỗ mốc mà ăn cho đỡ tiếc tiền.
Tôi không nhớ giá tiền của mỗi món là bao nhiêu.

Cá nhân Tôi cũng còn chút tiền gửi trại, nên “đăng ký” mua hết trọn số tiền, được 2 Gô mật đường (lon đựng sữa bột Guigoz, tính tương đương 2 kílô), 2 chiếc bánh khách, và 2 gói kẹo lạc. Có nhiều bạn mua được nhiều hơn vì họ có nhiều tiền. Nhưng trước sau Trại chỉ đưa người đi mua có 3 đợt là chấm dứt, vì tiền của mọi người gửi Trại đã tiêu hết.

Một buổi chiều đi lao động vừa về tới Trại, được gọi tên trình diện kho tiếp liệu của Quản giáo Nhà Bếp, lãnh 2 Gô “mật đường” “đăng ký” mua từ mấy ngày trước. Tôi đem về Láng, ngồi múc từng muổng nhỏ nhấm nháp, tăng cường chất ngọt cho cơ thể đã bao ngày thiếu thốn. Bụng bảo dạ rằng, chỉ ăn tối đa một phần năm Gô thôi (250 gram). Nhưng “mật đường” thơm thơm ngọt ngọt thấm giọng, tì tì hết muổng này đến muổng kia, cạn tới nửa Gô lúc nào chẳng hay.

Anh bạn trùng tên với Tôi, Tôn Thất Hùng (có biệt hiệu là NGƯỜI VỀ TỪ TÂN CẢNH, vì anh ấy thoát chết, không bị bắt làm tù binh, trong vụ quân Cộng sản Bắc Việt tràn ngập Sư đoàn 22 đóng tại Dakto, hồi năm 1969) còn ngon hơn Tôi nhiều. Anh ấy ăn một hơi, hết luôn 2 Gô trong buổi tối mới lãnh về. May không ai bị đau bụng tiêu chảy hay xình đầy bụng chi cả.

Những ai bị đưa ra Bắc cải tạo, mới biết rõ công dụng đa dạng của chiếc lon Gô. Nó nguyên thủy là chiếc lon đựng sữa bột hiệu Guigoz, bằng nhôm, nhẹ, mỏng bền, có nắp đậy kín, cao 20 phân, đường kính cỡ 8 phân. Ăn hết sữa bột rồi, thay vì vứt chiếc lon không đi, anh em giữ lại dùng để nấu đồ ăn, tích trữ nước uống, cất đường, mì ăn liền, và các loại thực phẩm khô khác, không sợ kiến và chuột ăn vụng hoặc đánh cắp mất.

Khoảng 1 tuần lễ sau khi chúng tôi được đưa tới định cư tại K2, có mấy bạn Đại tá bị bắt từ hồi đầu tháng 4-1975 tại Đànẵng, bị áp giải ra miền Bắc Xã hội Chủ nghiã trước chúng tôi, được đưa về ở chung.

Các bạn này mặc đồng phục Tù, mầu nâu nhạt có sọc xám, nghe nói là do Trung Cộng viện trợ cho Công sản Bắc Việt. Tư trang các bạn ấy mang theo, đựng trong một túi xách nhỏ chẳng có gì. Chăn mùng cuốn tròn dài, đeo quàng tréo qua đầu, từ vai bên này xuống nách bên kia, trông giống hệt mấy người Tầu chạy loạn Nhật qua vùng Đồng Đăng, Lạng Sơn, Tôi đã gặp hồi 1940.

Không như chúng tôi, vali, balô cồng kềnh, ngoài mấy bộ thay đổi đi làm hàng ngày, ai cũng có tối thiểu ba, bốn bộ quần áo dự trữ. Trong những kỳ khám xét tư trang, Tôi còn thấy có anh đem theo nguyên cả bộ Âu phục lớn (quần dài, áo vét, cà vạt, giầy da thấp cổ bóng loáng). Chắc là để sau một tháng học tập như Nhà Nước thông báo, mặc vào để tham dự lễ phát bằng Công dân Xã hội Chủ nghiã tập thể, cho nó trịnh trọng.

Các bạn Đại tá mới đến nhập bọn, tình trạng cơ thể ai nấy xanh xao, gầy ốm tong teo. Ngắm bạn rồi nhìn lại mình. Mới có 6 tháng “thi đua lao động cải tạo” mà đã suy xụp hơn chục Kílô, da nhăn đen thui như mầu bánh mật, chắc rồi đây sẽ tàn tạ hơn họ nhiều.

Bây giờ ngồi ghi lại những dòng này, Tôi còn cảm thấy nao nao buồn, xót thương cho bao nhiêu đồng bào đang còn bị hành hạ nơi quốc nội. Biết đến bao giờ Họ mới thoát được nạn Cộng sản đọa đầy bóc lột.

Trong hoàn cảnh thiếu đói chung hồi đầu năm 1977 tại K2, một con chuột tinh khôn của rừng miền Bắc Xã hội Chủ nghiã, đã gây ra một truyện buồn giữõa anh em Tù, làm tủi lòng những người nghèo, chẳng bao giờ quên được. Đại để câu truyện như sau :

“ Hàng ngày, bạn bè ở cùng Láng ai cũng thấy, một anh béo phì, giầu tiền, nhiều tiếp tế của gia đình, thường để chiếc lon Gô đựng đầy thịt chà bông, tuốt sâu trong sát vách, trên kệ xếp tư trang riêng của anh ấy. Bỗng dưng một sáng chủ nhật nghỉ lao động rảnh rang, anh ta kiểm điểm đồ riêng, mới phát giác ra chiếc Gô không cánh mà bay đâu mất. Nằm kế bên anh ta là 2 bạn nghèo không có tiếp tế. Anh ta cao giọng nói trống không cho mọi người cùng nghe : “-Nếu ai lỡ táy máy đùa dai thì trả lại, nếu không sẽ thưa Cán bộ khám xét thì đừng trách.”

Anh em trong đội nhỏ nhẹ can ngăn, và bỏ cả sinh hoạt riêng tiếp tay anh ấy tìm kiếm. May sao, đúng lúc anh Đội trưởng cúi nhìn dưới gầm xạp ngủ, mặt trời lên cao ánh sáng tỏ hơn chiếu suốt vô nhà, qua các khe hở của vách phên “chổm”, thấy một vật gì trăng trắng bóng loáng nằm tuốt trong góc nhà. Khều ra thì là chiếc Gô đồ ăn có ghi tên người kêu mất. Quanh nắp miệng Gô và chung quanh đáy Gô, đầy những vết răng chuột gặm, có chỗ gần thủng. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, đem trả lại chiếc Gô cho anh ấy. Cầm lấy chiếc Gô, anh ấy nét mặt sượng sùng, mừng quên cả nói cám ơn.”

Hiện nay, anh ấy cũng đang định cư tỵ nạn tại Hoa Kỳ cùng với vợ con, như các bạn Tù cũ ở chung một Láng tại K2 (Trại Cây Khế) Liên trại 1, Việt Cường, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn. Không biết đến bây giờ anh ấy có còn nhớ, và ân hận không ?

MẶT TRÁI CON NGƯỜI.

Hiểm nguy, hổ cũng cụp đuôi,
Khốn cùng, bản chất con người bộc ra.
Xưa kia luồn cúi ba hoa,
Ra vào cửa hậu, nhờ Bà cậy Ông.
Quan cao, nhà rộng mênh mông,
Mánh mung, thâm lạm của công làm giầu.
Cấp trên, nịnh đội lên đầu,
Tùy tùng, khai thác như trâu kéo cầy.
Chậm chân chạy, phải vào đây,
Gian lao đói khổ khác ngày quyền uy.
Tâm đen bần tiện tức thì,
Lộ qua lời nói hành vi đê hèn.
Gian manh sống cạnh người hiền,
Khác đâu lang sói ở bên đàn cừu.
Lúc sang, xoen xoét như diều,
Đến khi hoạn nạn, đặt điều hại nhau.
Canh ngon, hỏng tại bọ sâu,
Cây tươi, héo chết vì bầu mối xông.
Nhẹm đi ấm ức trong lòng,
Nói ra cho đỡ tức hông tuổi già.

K2 (Trại Cây Khế) LT1, Yên Bái, tháng 1-1977.

 
Chương 16
 
LAO ĐỘNG CẢI TẠO, THƯỚC ĐO LÒNG YÊU NƯỚC
 
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

Mọi công tác chỉnh trang K2 (Trại Cây Khế) vừa hoàn tất, Trại lại phát động đợt “thi đua” mới. “Thi đua lao động cải tạo vượt chỉ tiêu Nhà Nước quy định”.

Theo lệnh Nhà nước, kể từ năm 1977, Tù phải tham gia sản xuất thật sự để làm ra tiền, tự nuôi mình, nuôi Cán bộ quản lý Trại, và đóng góp cho Nhà nước hàng năm mỗi đầu người 1 đồng một ngày. BCH trại được coi như Ban quản lý một Hợp tác xã. Chỉ có một điều khác Hợp tác xã là, Trại viên cải tạo hưởng quy chế ăn ở quy định cho Tù, chớ không phải Hợp tác xã viên.

 
Lý do đưa ra giải thích là : “-Vì Chiến tranh tàn phá quê hương, nay toàn Dân phải tham gia tái thiết, nên Cải tạo viên cũng phải đóng góp công sức mình, vào công việc chung của đất nước như mọi người. Đây cũng là dịp chứng tỏ lòng yêu nước, và thực tâm ước muốn cải tạo để trở thành người công dân Xã hội Chủ nghiã của các Cải tạo viên.”

Nghe tin này, nhiều người nhẹ dạ cả tin “phấn khởi”, cho rằng Chính sách này giúp mình mau quen với nếp sống của con người Xã hội Chủ nghiã, sẽ sớm được về đoàn tụ với vợ con. Thời gian lâu lắm, chắc cũng chỉ trong vòng 2, 3 năm là cùng. Ông Tướng Sư đoàn Việt cộng ra đón mình ở Phi trường, hồi mới đặt chân lên đất miền Bắc Xã Hội Chủ nghiã này, trước đây mấy tháng, cũng đã từng nói như vậy mà!

Thi hành lệnh Nhà nước, Trại khởi hoạch nhiều “phương án hành động”, làm thước đo mức “tiến bộ” của Cải tạo viên. Mọi người đều tỏ ra “hồ hởi”, sốt sắng và cố gắng hết sức mình. Tù tha hồ thi đua liên tục xả thân lao động. Cán bộ “bám sát” thúc đẩy Tù “thi đua đạt năng xuất lao động” ngày một cao hơn. Với mục đích duy nhất, làm sao Trại và Tù kiếm ra thật nhiều tiền, để đạt cho bằng được trăm phần trăm “chỉ tiêu” do Nhà nước quy định. Nếu vượt được mức “chỉ tiêu” quy định càng cao càng tốt.

Đợt thi đua bắt đầu bằng tập trung đắp đập đất, chắn ngang khe giữa 2 ngọn đồi gần K3 (Trại Cốc), để giữ nước làm hồ nuôi cá. Mặt đập rộng 50 mét, thân đập cao 30 mét, và chiều dài đập là 50 mét. Đào đất trên đỉnh đồi bên trái, khênh xuống đổ cho đầy khe.

Hình như Phân trại K3 là chủ thuê, nên thấy mỗi buổi lao động, Quản giáo Đội chúng tôi dẫn anh phụ trách nấu nước của Đội vào nhà bếp K3, lãnh một số sắn sống đem ra luộc tại hiện trường, để phát cho anh em. Mỗi người được 1 khúc bằng cổ tay, dài 20 phân, vào lúc nghỉ tại chỗ ăn bữa trưa hàng ngày. Đây là tăng cường “bồi dưỡng” của chủ thuê cho Tù, y như hồi đi làm thuê cho Hợp Tác Xã địa phương.

Các Đội tham dự công tác tại công trường đắp đập, được phân chia như sau : 1 nhóm cuốc đất trên đỉnh đồi khiêng xuống đổ dưới khe, 1 nhóm ban đất cho bằng phẳng tại mặt đập, 1 nhóm đầm nện đất, nèn cho mặt đập và sườn đập thật mịn và cứng chắc.

Đội chúng tôi thuộc nhóm đào đất nơi đỉnh đồi, khiêng xuống đổ lấp khe sâu giữa 2 quả đồi. Quản giáo Đội quy định, mỗi Tổ 10 người phải đào và khiêng đất xuống đổ vào đập mỗi ngày 5 mét khối. Vì thế, anh em Tổ của Tôi phải chia thành : 3 toán khiêng đất hết 6 người, và 1 toán 4 người vừa cuốc vừa xúc đất vào “ki” (cáng khiêng) cho các toán khiêng đi đổ xuống khe.

Chúng tôi thoả thuận luân phiên nhau, hôm nay cuốc xúc đất, thì hôm sau đổi lại đi khiêng đất, cho nó công bằng. Cũng như để mọi người, có dịp rút kinh nghiệm bản thân về các công tác khác nhau, mà “sáng tạo” ra phương pháp thực hiện cho thật nhanh. “Lao động là sáng tạo”, Cách mạng đã nghiên cứu xác định như vậy trong các bài học cải tạo tư tưởng, cần phải áp dụng cho Cán bộ nhận thấy là mình đã “thấm nhuần”, và “nắm được vững vàng sâu sắc” những gì đã học.

Trong suốt thời gian đắp đập, mọi người phải làm thông tầm (kể cả Cán bộ cảnh vệ và Quản giáo). Chỉ được nghỉ tại chỗ, 30 phút lúc giữa trưa để dùng bữa. Ăn xong là phải “tranh thủ” tiếp tục làm ngay. Đến chiều tối, khi nào đạt “chỉ tiêu” quy định trong ngày, báo cáo Quản giáo Đội đến kiểm tra chấp nhận đúng, Đội mới được ngưng để tập họp ra về.

Đặc biệt trong thời gian lao động vất vả này, Trại được cung cấp bột mì thay cho sắn khô hoặc bắp khô. Do đó, buổi sáng mỗi người được lãnh một nửa ca cháo bột mì, sền sệt như loại bột gạo người ta thường khuậy chín cho trẻ con ăn. Bữa trưa và bữa tối, được mỗi bữa một chiếc bánh bột mì nhồi nước đổ khuôn tròn luộc chín, đường kính 10 phân, bề dầy 1 phân. Thức ăn thì mỗi bữa đôi ba cọng rau muống bung nước muối.

Thời gian 30 phút nghỉ ăn trưa được coi là dài. Vì sau khi nhơi thong thả từng mẩu nhỏ của chiếc bánh mì luộc và khúc sắn, cho nhuyễn nhuần với nước miếng trước khi nuốt vào bụng. Cũng còn dư được ít nhất là 15 phút để nằm dài trên mặt đất chợp mắt xả hơi, trước khi bắt tay vào tiếp tục lao động trở lại.

Số giờ lao động hàng ngày quy định là 8 tiếng đồng hồ. Nhưng bao giờ anh em cũng phải làm nhiều hơn, mới đạt đủ “chỉ tiêu” quy định. Vì thế, chỉ trong vòng có 1 tuần lễ, ai nấy đều hốc hác xạm xọp đi ít nhất cũng 5 kílô. Nhưng sức chịu đựng vất vả, được tôi luyện dẻo dai hơn, và thuần nhuyễn như một cái máy chạy tự động không cần ai bấm nút.

Hằng đêm, sau giờ “kiểm điểm, phê và tự phê” xong, anh nào cũng lăn đùng ra ngủ say như chết. Nhờ vậy mà ngày hôm sau mới có sức chịu đựng tiếp. Nếu không ngủ được, phải thức trắng đêm như hồi mới ra, chắc là bây giờ chẳng còn sống trên Thế gian mà ngồi viết Hồi ký.

Ngày thứ 2 đi làm đập, toán của Tôi đến phiên đào và xúc đất vào “ki” cho các toán khác khiêng. Lúc phát quang các bụi rậm trước khi đào đất, Tôi may mắn gặp một ổ 4 chú Cúi con (trông giống như sóc, nhưng mặt mõm giống như lợn, lông đen, đuôi ngắn). Mỗi chú Cúi to bằng nắm tay. Tôi đưa cho anh Đại tá Dương Hiếu Nghiã, cùng một Tổ với Tôi, biến chế làm món Cúi bỏ lò trong lon Gô. Để 2 anh em chia nhau, thưởng thức lộc của Chúa Sơn Lâm “bồi dưỡng” cho Tù nghèo. Tôi tự làm lấy cũng được, nhưng vì đồ tiếp tế của Tôi đã hết, không còn gia vị để ngâm ướp, nên phải đưa cho anh Nghiã lo toan.

Sau này, qua 5 trại khác nhau trong suốt 13 năm cải tạo, lúc nào anh Nghiã và Tôi cũng ở chung một Đội. Chỉ có thời gian ngắn khoảng 1 năm ở K5 Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, anh Nghiã ra làm Đội trưởng Đội Gạch, gồm toàn các Linh mục, Thượng tọa, Đại đức Tuyên úy QLVNCH (cũng phải đi cải tạo như chúng tôi) thì 2 anh em chúng tôi mới không ở chung Đội. Tới tháng 1 năm 1980, bị chuyển vào trại Thanh Phong, Thanh Hoá, anh Nghĩa và Tôi lại được “biên chế “ vào chung một Đội. Cuối tháng 4 năm 1982, chúng tôi cùng được đưa trở về Nam một lượt. Sau cùng, anh Nghĩa được tha trước Tôi 6 tháng, vào dịp 2 tháng 9 năm 1987, kỷ niệm Lễ Độc Lập của Cộng sản Việt Nam.

Những ngày nghỉ lao động trong đợt “thi đua muà Xuân 1977”, Ban chỉ huy Phân trại K2 cho phép anh em nấu nướng biến chế thực phẩm “bồi dưỡng”, không cấm đoán như hồi mới ra. Nhờ thế, các món thực phẩm khô, do gia đình gửi lén trong các bưu kiện tiếp tế quần áo lạnh, được Tù đem ra trổ tài biến chế. Không theo sách vở nào cả, thế mà mùi vị thức ăn biến chế xông ngào ngạt thơm phức cả một vùng, tưởng như đang đứng trong khu phố tiệm ăn Tầu Chợ Lớn vậy. Chỉ tội cho các bạn không được tiếp tế, phải vào xạp nằm chùm chăn kín mít, tìm khuây khoả trong giấc ngủ.
Từ khi “đợt thi đua mùa Xuân 1977” được “phát động”, tất cả Tù và Cán bộ đều bận rộn. Ngày nào cũng xuất trại lao động rất sớm, và đi đến tối mịt mới trở về. Nhóm đi đắp hồ cá K3. Nhóm đi hạ bồ đề, trên sườn núi cao gần ngay bên Bệnh xá Liên trại, thả xuống đường xếp thành đống, để Công ty khai thác Lâm sản đến đo, tính tiền công theo thước khối, rồi chở đi. Nhóm đi làm thuê cho các Hợp Tác Xã, trồng hoa mầu …

Sau khi đắp đập hồ cá K3 xong, Đội chúng tôi được đưa đi đắp đập thuê cho một Hợp Tác Xã, ở xa trại khoảng hơn 10 cây số, về phiá Tây. Ra đi từ sáng sớm, trước khi kiểng tập họp các Đội xuất trại lao động. Đến chiều, trở về đến trại trời đã nhá nhem, mọi người ở nhà đã nghỉ và dùng bữa tối xong xuôi.

Gần Tết tại vùng này, sáng nào sương cũng mịt mù đến 10 giờ mới tan, nên lúc ra đi phải dùng đường cái lớn, qua BCH Liên trại 1, qua K lò gạch, qua một công trường làm đường, rồi rẽ vào con đường nhỏ ngoằn ngoèo theo các sườn đồi, lên một vùng bình nguyên của Hợp tác xã (không biết tên) có khoảng vài chục căn nhà. Từ trại đến nơi lao động, lúc nào chúng tôi cũng phải đi nhanh như chạy Marathon, thế mà thời gian di chuyển tính ra cũng mất khoảng 2 tiếng đồng hồ.
Buổi chiều, lao động xong, chúng tôi không trở về trại theo đường cái lớn, mà đi theo một con đường mòn, tắt băng rừng. Phải leo lên tụt xuống qua 3, 4 đỉnh đèo, qua đập nước K3 (Trại Cốc), rồi thêm một đoạn sườn núi chừng 1 cây số nữa mới về tới K2 (Trại Cây Khế) của chúng tôi.
Trong chuyến đi làm xa này, một ấn tượng vô cùng chua chát, đã hằn sâu vào bộ não của chúng tôi không bao giờ quên được, sau khi nhìn thấy tận mắt cái quang cảnh Công trường làm đường, và nơi ăn chốn ở của những Công dân Xã hội chủ nghiã miền cao nguyên Hoàng Liên Sơn.
Theo lời rêu rao của Bác Hồ, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà Nước Xã hội Chủ nghiã thì, những người vô sản lao động thuộc giai cấp lãnh đạo Cách mạng kiến thiết đất nước. Thế mà hoàn cảnh sống “thực tế” của họ, trông thấy rõ ràng, so với cảnh sống của vợ con các Chủ nhiệm Hợp Tác Xã, hoặc Cán bộ Cộng sản lãnh đạo các cấp Trung ương, Địa phương, khác xa nhau một trời một vực.

Giá trị cuộc sống của giới lao động, công dân trung kiên theo Xã hội Chủ nghiã, từ hồi Cách mạng mùa Thu 1945 thành công đến nay, còn như vậy. Huống chi mình, đã từng cầm súng chống đối chế độ, đang phải cải tạo để được trở thành công dân Xã hội Chủ nghiã, tương lai sẽ như thế nào?
Một tấm bảng to tướng, ghi chữ “Công trường làm đường, Công ty…” được dựng ngay bên đường, mà chỉ thấy khoảng vài ba chục người, dùng cuốc, xẻng, xà beng, búa tạ, đầm cầm tay, “ki” làm bằng “chổm” khiêng đá, đất, cuốc ở sườn núi ra, để hì hục giặm vá, lấp các lỗ ổ gà xâu hoắm trên mặt đường. Trông chẳng khác nào đám phu làm đường miền thượng du, thời Thực dân Pháp đô hộ mấy chục năm về trước, mà Tôi đã từng thấy ở miền Lạng Sơn, Thất Khê.

Nhân công gồm toàn người lớn tuổi, và nam nữ thanh thiếu niên trạc 15 đến 17. Người nào trông cũng phong sương, đen xạm, làm việc không ngơi tay, dưới sự hò hét thúc giục “thi đua” của Giám đốc Công trường và các Trưởng toán.

Gần ngay nơi Công trường có 2 dẫy nhà ở, một khu nhà bếp, và dẫy nhà ăn tập thể. Tất cả các nhà đều lợp mái tôn, vách phên, sườn khung nhà bằng gỗ. Trong khi người lớn đi lao động, mấy đứa trẻ trên dưới 10 tuổi, áo quần rách rưới, lem luốc bẩn thỉu, mắt mũi đầy ghèn, đùa giỡn bên lề đường, trước sân nhà ăn.

Khi đi ngang, trong số anh em Tù chúng tôi có người lên tiếng thân thiện hỏi : “-Các cháu không đi học à ?” Lập tức có em lớn hơn cả trả lời ngay, không cần suy nghĩ : “-Ông nội của chúng mày, chớ cháu chắt gì, đồ ngụy bán nước.”

Thật ngỡ ngàng. Từ đó về sau, anh em rút kinh nghiệm, không bao giờ còn dại dột tìm cách làm quen xã giao với quần chúng địa phương nữa.

Đến nơi làm thuê, mới biết công việc của chúng tôi là phá đất đỉnh đồi, ban ra, để nâng cao mặt đập đã có sẵn từ trước, nèn đập cho thật chắc. Đập dài cả trăm mét, mặt đập rộng 50 mét, sườn đập phiá ngoài, từ mặt đến chân khe ước chừng cũng khoảng 100 mét. Đây là đập của hồ thủy lợi, vừa dùng tích trữ nước trong mùa mưa, để vào mùa nắng khô cạn có nước tưới ruộng trong bình nguyên, vừa lợi dụng thả cá “làm kinh tế” cho Hợp Tác Xã.

Ngoài Đội chúng tôi từ K2 (Trại Cây Khế) đến, thấy còn nhiều Đội khác ở trại nào không rõ, đang làm ở đây trước chúng tôi. Họ lấy đất đỉnh đồi ở đầu đập bên phiá Bắc, khiêng ra mặt đập, ban, nèn, đầm mặt và sườn đập cho chắc. Đội chúng tôi đến sau, được giao việc phạt sườn đồi ở đầu phiá Nam của đập, tạo một mặt bằng thật rộng, để sau này dựng cơ sở gì đó không biết.

Đất đồi nơi chúng tôi phá vỡ ra, phải dùng “xe ban” hất trôi xuống chân đập. “Chỉ tiêu” quy định mỗi người phải làm 1 mét khối đất một ngày, tức là gấp đôi “chỉ tiêu” làm tại đập hồ cá K3 (Trại Cốc).

Sau khi Cán bộ quản giáo và các anh Tổ trưởng đi đo đất, đóng cọc mốc diện tích riêng cho từng Tổ theo “chỉ tiêu” quy định xong. Các Tổ bắt đầu “thi đua khởi công”. Tổ nào xong trước được nghỉ sớm, ngồi chờ các Tổ khác làm xong mới cùng tập họp, rời “hiện trường lao động” trở về Trại.
Với chỉ tiêu nặng như vậy, chả có Tổ nào có cơ may nghỉ sớm cả. Ngày nào cũng phải làm khoảng hơn 10 tiếng đồng hồ mới xong. Vừa đúng lúc mặt trời đang tụt xuống, ngang đỉnh dẫy núi phiá Tây của bình nguyên.

Để “triển khai thi công”, Tổ chúng tôi phải chia thành 3 toán làm việc : 2 toán kéo “xe ban” hết 6 người, toán 4 người còn lại hiệp lực vừa phá đất, vừa gom vun thành đống cho “xe ban” kéo đi.
Nghe chữ “xe ban”, ai cũng tưởng là một loại cơ giới nào đặc biệt lắm. Thực ra nó chỉ là một miếng ván dầy 5 phân, dài 1 mét rưỡi, mặt rộng 50 phân, có một khung càng gồm 3 thanh gỗ tròn, đóng vào khoảng gần 2 đầu miếng ván, và 2 sợi dây kéo. Hình dáng “xe ban” trông y như chiếc bừa, nhà nông vẫn thường dùng để làm tơi đất, sau khi cầy lật thành từng hàng dài trên ruộng.

Xử dụng “xe ban”, có thể di chuyển được lượng đất nhiều và nhanh hơn dùng “ki” khiêng, nhưng phải cần tới 3 người. Một người cầm càng điều khiển, 2 người cầm dây kéo dài khoảng 3 mét cột ở 2 đầu miếng ván, y như dùng 2 con trâu keo 1 cái bừa vậy. Người điều khiển phải biết kỹ thuật cầm càng và phụ đẩy, xe mới trượt đi suông sẻ, nhẹ nhàng. Nếu không, xe sẽ khựng lại không kéo đất trơn đi, mà người cầm càng còn bị sức kéo, lôi cả người lẫn xe ngã chúi về phiá trước, rất nguy hiểm.

Ngày nào, Tôi cũng bị anh em trong toán, đùn cho việc lái “xe ban”. Qua kinh nghiệm học được, muốn “xe ban” chạy được suông sẻ, người cầm càng phải đứng ở khoảng đúng giữa “xe ban”. Chân trái, đưa ra phiá trước, để phần 3 lòng bàn chân lên cạnh trên của miếng gỗ thân xe. Chân phải, đứng trên đất soạc ra phiá sau, làm sao cho sức nặng của toàn thân, được chia đều trên cả 2 chân. Hai tay dang rộng nắm chặt đà ngang càng xe, và giữ cho càng xe nghiêng khoảng 30 độ góc, hướng vào ngang rốn của mình. Khi hô 2 bạn kéo tới, mình phải vừa đè càng cho thân xe sát mặt đất, vừa phụ đẩy, xe sẽ chạy nhẹ nhàng và rất nhanh. Sơ ý là cả 3 cùng lăn tuột theo sườn đập đến chân khe luôn.

Kinh nghiệm phá vỡ đất cho nhanh, chúng tôi được Trung úy Khảm Quản giáo Đội tiếp tay hướng dẫn thật tận tình. Ông ta vốn người lanh lợi, tháo vát, và có chút “tình người” đối với anh em trong Đội. Qua những lúc chuyện vãn trong giờ giải lao, ông ta thường khoe trướùc kia đã từng nhiều lần tham dự các cuộc “thi đua lao động”, do các Đại đơn vị Quân đội Nhân dân tổ chức, và lần nào cũng đoạt giải “Anh hùng lao động”.

Sở dĩ chúng tôi phá vỡ đất được nhanh, là nhờ phần sườn đồi nơi chúng tôi làm, đã được vạt thẳng đứng từ trước, cao khoảng 4 mét. Nên trước nhất, phải cuốc khoét đoạn dưới chân sát mặt đập, sâu vào khoảng 70 phân, cao 1 mét. Sau đó lên phiá trên, cuốc một rãnh dài sâu rộng chừng 3, 4 chục phân, và những lỗ xâu cách nhau 50 phân, rồi dùng xà beng bẩy mạnh là từng mảng đất lớn sẽ lở ra tụt xuống.

Thật rõ ràng “trăm hay không bằng tay quen” là thế. Nhưng “thực tế” bắt tay vào việc, mới thấy chẳng đơn giản như vậy đâu. Lẫn trong đất núi còn gặp những tảng đá to tướng, phải dùng búa tạ đục đẽo phá cho nó vỡ lần lần ra, cũng trần ai lắm. Vì thế mà chẳng ngày nào hy vọng làm ít hơn 10 tiếng đồng hồ cả.

Muốn cố gắng lột bỏ cái áo “Giai cấp Tư sản” của mình do Cộng sản gán cho, bằng “Lao động Cải tạo Tư tưởng” để trở thành người “Công dân Xã hội chủ nghiã”, thật không đơn giản dễ dàng gì.
Cái giá phải trả luôn luôn bằng máu, mồ hôi, và nước mắt, không chỉ của riêng bản thân mình trong các trại cải tạo, mà còn phải cộng chung của cả Vợ Con mình tại địa phương đang cư ngụ nữa.

KHOAN HỒNG NHÂN ĐẠO?

Xót xa tình nghiã đồng bào,
Tha không xử chết, cho vào tập trung.
Học gương lao động anh hùng,
Tập tành đắp đập, phá rừng, làm nông.
Bao giờ thành thạo reo trồng,
Chăn nuôi,canh tác tinh thông thì về.
Xung vào Hợp tác xã quê,
Sống theo đời mới đủ nghề làm ăn.
Vợ, Con, khỏi phải băn khoăn,
Tội ai nấy chịu, chẳng can hệ gì.
Trẻ con vẫn học, vẫn thi,
Vợ thì lao động, hưởng tùy khả năng.
Thoạt nghe phấn khởi tinh thần,
Định tâm cải tạo bản thân đêm ngày.
Rêu rao chính sách thật hay,
Đến khi thực hiện đọa đầy dã man.
Gớm thay bè lũ bạo tàn,
Nỏ mồm lừa bịp thế gian nhân quần.

K2 (Trại Cây Khế) Liên Trại 1, tháng 1 năm 1977.
 

 
Chương 17
 
CÁI GIÁ PHẢI TRẢ, ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Tết Đinh Tỵ 1977, anh em Tù K2 (Trại Cây Khế) được Ban chỉ huy Trại quan tâm săn sóc khá chu đáo. Nào là tổ chức thi đua làm Báo tường, tranh giải cờ tướng, đấu bóng chuyền giữa các Láng, và xem chiếu phim Liên sô ngoài trời.

Ngoài ra, mọi người còn phải học hát thuộc lòng các bài hát của Cách mạng. Giờ học hát, được thực hiện ngay sau buổi họp “phê và tự phê, xây dựng” hằng đêm. Các bài hát, do mấy anh bị bắt đưa ra Bắc từ hồi tháng 4 năm 1975, mới được chuyển về ở chung với chúng tôi, đọc cho chép và hướng dẫn tập. Có nhiều bài hát của Liên sô, Trung cộng, dịch lời sang tiếng Việt, nghe rất là ngô nghê chẳng ra làm sao cả, chẳng hạn : “Chúng ta là sắt thép…”. Hoặc những bài của các văn nô Cách mạng sáng tác, lời lẽ đầy sát khí : “Quét (giết) cho sạch nó đi…” Riêng bài “Tiến quân ca” (Quốc ca của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam) thì anh em không được học, theo sự giải thích của Cán bộ : “Tù cải tạo chưa xứng đáng được hát bài này!”

Chờ đón Xuân, còn có thêm một tin đồn rất là “hồ hởi”. Sẽ có đợt tha vào tháng 4, nhân kỷ niệm 2 năm ngày thống nhất đất nước, làm nhiều người mừng rỡ cho là chỉ dấu tốt. Ai nấy chuẩn bị đón Tết, với tinh thần “phấn khởi” hơn cái Tết tại Suối Máu năm 1976.

Trong dịp Tết, mọi người được nghỉ lao động 3 ngày. Nhưng ngày mồng 2, cả Cán bộ lẫn Cải tạo viên toàn Trại, phải “xuất hành” tham gia chương trình “cả nước trồng cây” hàng năm, để tỏ lòng nhớ ơn Bác.

Các món ăn Tết, cũng rất đặc biệt. Ngày mồng Một, cả bữa trưa lẫn bữa chiều đều được ăn 3 món :

1.- Thịt heo kho (mỗi người 3 mẩu bằng ngón tay cái); 2.- Thịt bò xào rau muống (cũng khoảng 5 cọng rau, và 3 mẩu thịt bò lẫn gân mỡ, mỏng bằng 4 đốt ngón tay); 3.- Trứng cá Mè Thác Bà kho (mỗi người khoảng miệng ca). Dĩ nhiên là ăn với bánh mì luộc, không có cơm. Hai ngày kế theo chỉ còn lại 2 món : cá Mè kho nhừ rục sền sệt như canh củ mỡ, ăn được cả xương mềm mục bùi bùi, và canh rau muống nấu với muối như ngày thường.

Cá Mè, do Cán bộ Hậu Cần Liên trại 1 đi mua từ hồ Thác Bà về. K2 của chúng tôi được chia 3 con, mình to bằng người ta, dài hơn 2 mét. Tôi chưa từng được thấy loại cá nước ngọt to như thế bao giờ. Nhà bếp phải lấy búa bửa củi tạ, mới chặt ra từng khúc nhỏ được.

Hai ngày trước Tết, mỗi Đội phải tăng cường cho Đội nhà bếp 5 người để tiếp tay gói bánh chưng. Theo dự trù, mỗi Tù sẽ được một chiếc bánh chưng nặng cỡ 1 kí lô sau khi luộc chín, và được lãnh vào buổi chiều tối ngày cuối năm.

Tôi được Đội cử tăng cường ngồi gói bánh chưng, nên 2 ngày giáp Tết không phải theo Đội ra ngoài lao động vất vả. Nhưng lưng vai cổ mỏi muốn gẫy, cơ bắp 2 chân đau tê cứng, vì phải ngồi lâu một chỗ làm liên tục không giờ giải lao. Có điều an ủi là mỗi bữa tăng cường làm tại nhà bếp, được bồi dưỡng thêm ba, bốn muổng tương hột kho, để ăn với bánh mì luộc, thay vì chỉ có vài cọng rau muống bung nước muối như mọi người.

Anh em tăng cường được chia thành 5 toán. Một toán chuyên lo chẻ lạt, rửa cắt lá giong cho hợp với khuôn. Một toán lo vo gạo nếp để trong từng thúng cho róc nước trước khi gói vào lá. Một toán cà rửa nấu đậu xanh, giã nhuyễn và nắm thành những nắm chặt tròn cỡ trái banh Tennis. Một toán cắt chia thịt heo thành những miếng dài cỡ 10 phân, dầy khoảng 1 phân. Toán sau cùng chuyên ngồi gói bánh theo khuôn gỗ, đã đóng sẵn cùng một cỡ 20/20 phân, cao 5 phân.
Ruột mỗi chiếc bánh chưng gồm : 2 bằng miệng bát đá gạo nếp vo rửa sạch cám (lộn gạo tẻ hơi nhiều), trộn chút đỉnh muối cho đậm đà, 1 nắm đậu xanh, và 1 miếng thịt heo có đủ nạc, mỡ, bì, ướp muối, hành củ thái mỏng, và hạt tiêu xay nhuyễn.

Có vài anh em Tù gói bánh rất thạo, không cần khuôn mà chiếc bánh rất vuông đủ 8 góc và chắc nịch. Còn phần lớn toàn là tay mơ vào học nghề, bánh gói không nèn được chặt và vuông vắn cho lắm, mặc dù đã có khuôn gỗ để trợ lực. Bánh chưng gói chặt tay luộc ra nền hơn bánh gói lỏng tay, và lúc chín vớt ra đem nén không bị phòøi ruột nơi các góc chiếc bánh.

Trong mấy ngày Tết, Trại mở máy thu thanh chuyền qua loa lớn cho cả trại Tù cùng nghe, những tin tức của đài phát thanh địa phương và Hànội.

Thư viện trong khu Tù ở cũng được mở cửa cả ngày, cho Tù vào đọc báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân, và mượn sách, truyện xã hội chủ nghiã đọc tại chỗ hoặc đem về láng ở đọc dần. “Mục đích yêu cầu” của Trại mở Thư viện, để Tù có cơ hội tìm hiểu thêm về Cách mạng Xã hội Chủ nghiã tại Việt Nam, và tại các nước Cộng sản trên toàn Thế giới, mà noi gương “thi đua cải tạo” cho mau “tiến bộ”.

Anh Nguyễn văn Lương (Đại tá gốc Địa phương quân, trước 30-4-1975 làm Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh chính trị Quân lực Việt Nam Cộng hoà đặc trách Địa phương quân và Nghiã quân) được trại cử làm quản thủ Thư viện. Anh ấy là người bặt thiệp, luôn luôn hăng hái hướng dẫn anh em lựa sách, truyện mà anh ấy cho là hay, cũng như giới thiệu những loại tài liệu quan trọng cần nên đọc. Sau này anh Lương cũng phải chuyển đi Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, và trại Thanh Phong, Thanh Hoá cùng một lượt với Tôi. Vào cuối tháng 4 năm 1982, Tôi được chuyểàn về miền Nam Việt Nam, anh Lương được chuyển ra vùng Nam Hà thuộc châu thổ sông Hồng ở miền Bắc. Hình như anh ấy và gia đình, cũng đang định cư tỵ nạn tại California.

Tất cả những cuốn truyện để tại Thư viện trại Tù, đều có nội dung tuyên truyền, đề cao tinh thần chiến đấu và thi đua sản xuất của các nam nữ anh hùng vô sản. Qua những cốt truyện dàn dựng, cho phép nhận định rằng trình độ hiểu biết của quảng đại quần chúng tại miền Bắc xã hội chủ nghiã, sau hơn 20 năm sống dưới sự cai trị chuyên chính của Cộng Sản Việt Nam, rất là thấp kém lạc hậu. Chẳng hạn, một đoạn truyện rất phi lý như …“phi công Bắc Việt đậu sẵn phi cơ MIG trong các đám mây dầy đặc ở trên không, để phục kích chờ phi cơ B52 của Mỹ tới thả bom Bắc Việt là sông ra bắn hạ, địch không kịp trở tay”… Ấy thế mà Sĩ quan quân đội Cộng sản Bắc Việt tin là thật, trầm trồ ca ngợi đề cao một cách hãnh diện trước mặt anh em Tù.

Để kéo dài cái thi vị Tết trong suốt 3 ngày nghỉ, Tôi và 2 anh bạn nằm kế bên, đồng thoả thuận canh ty ăn chung bánh chưng. Mồng 1 ăn chiếc bánh của Tôi, mồng 2 và mồng 3 thì lần lượt ăn những chiếc bánh của các anh ấy.

Sau khi ăn Tết xong, mọi người lại tiếp tục hăng hái xả thân, hoàn tất “kế hoạch thi đua” Trại đã đề ra hồi trong năm. Với hy vọng, mình sẽ có tên trong số “cải tạo tiến bộ”, được thả về đoàn tụ với Vợ Con sớm hơn những người khác.

Đội chúng tôi không đi làm đập ở Hợp Tác Xã nữa, được giao trách nhiệm vét khu sình, úng nước phèn ngập ngang đầu gối chân, ở ráp ranh đất giữa K2 và K3. “Mục đích yêu cầu” là dọn sạch rác rến, gai trà, cỏ lác, lội đạp đất sình cho nhuyễn như bừa, rồi rải vôi bột khử phèn để sẵn sàng trồng lúa vụ “ba giăng” (3 con trăng tức là 3 tháng).

Làm tại đây, mọi người phải bỏ giầy, cởi quần dài, vắn tay áo lên đến nách, lội xuống làm việc cả tuần lễ mới xong. Thực hiện công tác này, nguy hiểm nhất là loại cỏ lác, lá dài 3 cạnh bén như lưỡi dao. Phải quấn vải bảo vệ bàn tay cẩn thận, mới nắm gốc chùm cỏ lác để nhổ lên, thế mà vải vẫn bị cỏ cứa rách làm đứt tay.

Nước đục ngầu chẳng trông thấy gì. Dưới sình đầy mẩu cây gẫy và tre gai nhặt không hết. Trong khi đạp bùn, cẩn thận đến đâu cũng không làm sao tránh khỏi, bị đâm thủng hoặc xước da bàn chân và các ngón chân.

Trên mặt nước lẫn trong đám cỏ lác, cơ man nào là muỗi vằn, to bằng đầu tăm xỉa răng, bâu đốt vào cổ vào mặt vào tay đau buốt đuổi không kịp.

Mỗi lần xuống sình làm xong bước lên bờ, chân tay anh nào cũng bị nhuộm một mầu vàng nâu nhạt, phải kỳ cọ rửa bằng sà bông mấy ngày mới hết. Da các đầu ngón tay cũng nhăn nheo thật lâu, mới phẳng trở lại bình thường.

Để khử phèn, chỉ việc đi dọc trên bờ, bốc vôi bột vung rải đều khắp mặt ruộng, không phải lội xuống. Độ khoảng mươi lăm phút sau khi rải vôi bột, thì eo ôi ! đủ thứ loại sinh vật trong ruộng chết nổi lên đầy mặt nước. Nào là cua, cá, rắn, ếch nhái, ễnh ương… Rất nhiều điả trâu, to dài cỡ ngón tay út, có con no căng máu, có con đói dẹp lép, trông thấy mà rùng mình nổi gai ốc.

Sau khi đạp đất bùn nhuyễn, phạt sạch cỏ bờ chung quanh, vãi vôi bột khử phèn xong, khu sình biến thành mảnh ruộng vuông vức, thật lớn, trông rất đẹp mắt.

Hoàn tất công tác này, Đội chúng tôi được đưa đi tăng cường hạ gỗ bồ đề, trong khu rừng trên đỉnh núi cao, cách Bệnh xá Liên trại chừng 1 cây số, khiêng ra thả xuống bên đường cái.

“Mục đích yêu cầu” của công tác này là chặt tiả những cây đủ “tiêu chuẩn” ấn định, gốc phải to cỡ một người ôm không hết. Nhiều Đội khác đã làm ở đây, từ khi mới bắt đầu đợt thi đua hồi đầu năm Dương lịch, nên những cây gần ngoài bià rừng không còn. Chúng tôi phải đi theo triền núi vào sâu cả trăm mét, mới có cây để lựa đốn hạ khiêng ra nộp.

Trong khoảng 200 mét từ bià rừng ra đến đỉnh thả xuống đường, mọi cây nhỏ và bụi dại đều đã được phát dọn bằng địa, chỉ còn cỏ tranh khô héo dưới ánh mặt trời trưa nóng. Không khí bị đốt hiện ra trước mắt bàng bạc loang loáng, tưởng như mình đang bị bao phủ bởi một bầu thủy tinh.
Quản giáo Đội chúng tôi quy định, anh em trong Đội tự bắt bồ thành từng toán 5 người để cộng tác làm việc. Mỗi ngày, mỗi toán phải đốn hạ 1 cây, chặt bỏ cành và ngọn, rồi khiêng ra khỏi rừng, thả theo triền núi xuống bên đường cái lớn. Khi nào hoàn tất, tức là “chỉ tiêu lao động” trong ngày đã đạt, được phép tự động dắt nhau về Trại nghỉ. Nghe tả sơ như vậy ai cũng tưởng là đơn giản dễ ăn lắm. Nhưng khi bắt tay vào việc, mới thấy công việc vất vả, nguy hiểm gấp đôi việc đi lấy giang hồi mùa Đông vừa qua.

Chung quanh gốc bồ đề toàn là dây leo, cây nhỏ, bụi gai dại chằng chịt, phải phát quang cả chục mét mới vào được tới sát gốc. Khi hạ cây phải dùng rìu chặt mở 2 miệng sâu vào thân cây, ở 2 bên đối ngược nhau. Một miệng cao một miệng thấp, cây sẽ đổ xuống phiá bên có miệng thấp.

Trước tiên, chặt mở miệng thấp rộng 45 độ góc, ở bên phiá mình muốn cho cây đổ xuống. Mặt đáy miệng sâu vào khoảng nửa bề dầy của thân cây, cao hơn mặt đất khoảng 1 mét. Sau đó, mở miệng cao ở bên phiá đối ngược với miệng thấp đã mở. Miệng cũng rộng 45 độ góc, mặt đáy sâu vào khoảng 1 phần 3 thân cây, và phải cao ngang với đỉnh của miệng thấp đã mở bên phiá đối nghịch trên thân cây, thì cây mới không đổ ngược lại.

Trong lúc chặt mở miệng cao vào thân cây, tất cả mọi người phải dang xa cách gốc cây ít nhất là 50 mét. Chỉ còn một mình người phụ trách chặt, đứng trên giàn bắc bên gốc cây. Khi chặt đẽo mở miệng cao sâu vào chừng được 1 phần 4 thân cây, phải hô to báo động cho mọi người đang làm việc chung quanh, biết là cây sắp đổ về hướng nào. Người đang chặt cũng phải sẵn sàng nhẩy ra phiá sau khỏi giàn, kịp thời đúng lúc trước khi cây đổ.

Hạ cây đổ xuống rồi, anh em trong Tổ 5 người chia nhau chặt các cành và khúc ngọn khỏi thân cây. Cây thường dài cỡ 10 mét và khá nặng, 5 người khiêng không nổi. Phải phối hợp 2 Tổ tiếp tay nhau khiêng đổi công, tức là cả 2 Tổ gồm 10 người xúm nhau khênh từng cây một, ra đỉnh sau cùng của rừng để thả cho trôi xuống đường cái.

Đi từ sáng sớm khi trời còn sương mù lạnh căm căm, cỏ ướt sũng sương đêm. Hì hục thay nhau chặt đến trưa, mặt trời lên đến đỉnh đầu, mới hạ xong cây và chặt trụi cành để sẵn sàng khiêng đi. Vừa mệt vừa đói, mọi người ngồi nghỉ ăn bữa trưa. Xong suôi, mới tính tới công việc khiêng nộp cho nhanh chóng trọn vẹn, để về trại được sớm sủa.

Phải mất cỡ một tiếng đồng hồ, 10 người vừa khiêng vừa nghỉ lấy sức, mới khệ nệ men theo triền núi dài khoảng 300 mét, đem được cây gỗ ra tới đỉnh sau cùng để thả xuống đường.

Lúc cả 2 cây gỗ của 2 Tổ, được thả hết xuống đường xong xuôi, đồng hồ đeo tay của Cán bộ chỉ đúng 4 giờ chiều. Trời đang còn nắng trang trang gay gắt, không một hột gió, mệt vã mồ hôi, khát nước, miệng cổ khô như rang. Bình đựng nước mỗi người mang theo bên mình, cạn queo không còn một hột, thật cơ khổ cực cùng không sao tả siết. Mọi người vẫn phải cố gắng quay trở lại rừng, thu nhặt rìu, rựa, túi mang đồ dùng riêng để trở ra xuống núi về trại.

Trong lúc đi trở lại rừng, mắt Tôi có lúc hoa lên nổ tia đom đóm, đầu nóng bừng bừng, hai tai reo u, u, chân bước đi lảo đảo như muốn khuỵu xuống. Lo lắng suy nghĩ mung lung, không biết phải làm gì để tự cứu mình thoát khỏi bị ngất sỉu vì thiếu nước. May nhờ số chưa tới lúc, nên Trời đã khiến cho Tôi chợt nhớ ra cách tự cứu mình khỏi khát tạm, học được từ hồi còn nhỏ tham gia đoàn Hướng Đạo sinh là, tiểu ra mà uống.

Tôi vội lấy chiếc túi nylon nhỏ đựng đường thẻ, đã ngậm hết, để tiểu vào đó. Nước tiểu cũng chỉ được dăm giọt vàng khè. Đưa lên miệng hút cho hết và chép chép cho nước miếng tiết ra phụ hoạ cho đỡ khô miệng khô cổ. Quả là công hiệu, Tôi thấy dễ chịu hơn và lết được đến bià rừng, nơi đang để rìu, rựa, và các túi xách của chúng tôi.

Hỏi bạn bè không ai còn nước. Đảo mắt nhìn quanh, may sao thấy một cây chuối nhỏ cao hơn 1 mét, mọc sau một bụi xim, cách chỗ chúng tôi đứng chừng 5 mét. Quá đỗi mừng rỡ, Tôi cầm rựa tiến tới chặt phăng cây chuối sát tận mặt đất, chặt bỏ ngọn, lột các lớp bẹ ngoài để lấy nõn non bên trong cùng, cắn từng miếng nhai lấy nước nuốt từ từ. Nhờ thế mà tỉnh táo trở lại, rảo bước ra được khỏi rừng, xuống núi dốc thẳng đứng khoảng 80 mét mới tới đường. Ra về đến ngang Bệnh xá, cầu cứu mấy anh đứng bên bờ rào xin được nước, uống lấy uống để muốn bể bụng mới đã cơn khát.

Ngày hôm sau, chúng tôi cẩn thận hơn, ai cũng mang theo 2, 3 Gô nước cho chắc ăn. Nhưng tai họa lại xẩy ra trong trường hợp khác, đối với các bạn ở Đội làm việc bên đống gỗ ở cạnh đường. Chuyện xẩy ra vào lúc gần tàn giờ lao động chiều.

Sau khi 2 Tổ của chúng tôi thả xong cây bồ đề thứ 2 xuống đường. Anh em đang ngồi nghỉ ít phút, trước khi quay trở lại rừng thu nhặt rìu và túi đựng đồ riêng, để chuẩn bị xuống núi ra về. Bỗng nghe ở phiá dưới đường có tiếng người la, lẫn với tiếng lăn rầm rầm của đống gỗ bên đường đang đổ ra bừa bãi. Nhìn xuống, thấy có một anh nằm dài bất tỉnh trên mặt đất, mấy người khác xúm xít chung quanh hối nhau khênh đi Bệnh xá gấp.

Lúc xuống đến đường hỏi thăm anh em, biết được người bị nạn là Đại tá Bùi Dzinh, hồi đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam đã có lần được Tổng thống Ngô Đình Diệm cho làm Tư lệnh Sư đoàn trong một thời gian. Anh Dzinh là người luôn luôn có tinh thần lao động “cải tạo năng nổ”. Kể từ ngày mới trình diện đi tập trung tại Đại học xá Minh Mạng, bên Chợ Lớn, Saigon, cũng như khi tới Long Giao, anh ấy luôn luôn “tự giác” làm những việc mà anh em ngại khó. Hình như muốn tỏ cho Cán bộ Cách mạng thấy, anh ấy “năng nổ muốn cải tạo mau tiến bộ” hơn người khác.

Tai nạn đã làm anh ấy mê man bất tỉnh nhiều ngày liền. Anh em Tù, thân hay sơ, ai cũng thương cảm. Mỗi người theo cách riêng của mình, đều hết lòng cầu xin Trời Phật cho anh ấy qua khỏi tử nạn. Một tuần lễ sau, chúng tôi mừng rỡ được tin anh ấy đã hồi tỉnh. Anh ấy được nằm điều trị tại Bệnh xá Liên trại, thêm một thời gian cũng cả tháng sau, mới phải trở lại K2 tham gia lao động nhẹ.

Ngay đêm hôm chứng kiến anh Dzinh gặp tai nạn lao động, Tôi bị lên cơn sốt. Trước tiên rét run lạnh thấu xương. Sau đó chuyển sang nóng, thân nhiệt lên cao tới khoảng hơn 40 độ Centigrade. Miệng khô, hơi thở nóng hừng hực, đầu nhức như búa bổ, các khớp xương đau nhức chịu không nổi. Anh bạn nằm cạnh, phải cõng Tôi xuống phòng Y tế xin cấp cứu.

Cán bộ y tế tới khám. Tôi nghĩ rằng mình bị sốt rét rừng hành. Hồi nhỏ lúc mới 12 tuổi sau khi đi tham dự trại Hè Hướng đạo ở núi Mẫu Sơn, châu Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn, ngay nơi có cột mốc định ranh giới Bắc Việt và Trung Hoa, Tôi cũng đã bị sốt rét rừng hành phải chữa trị bằng thuốc Quinine cả năm mới hết. Những triệu chứng bệnh trạng hôm nay, thấy cũng tương tự như vậy, nên xin Cán bộ cho phép lấy thuốc Chloroquine riêng của Tôi, do Trại giữ giùm để uống.
Tôi bị sốt chưa đến nỗi ngất sỉu hay chẩy máu mũi. Sau khi uống thuốc được chừng nửa tiếng đồng hồ, cơn nóng cũng giảm dần. Nên Cán bộ Y tế quyết định không cần di tản ra Bệnh xá Liên trại. Kể từ hôm sau, mỗi ngày Tôi đều bị lên một cơn sốt tương tự. Cán bộ Y tế cho được nghỉ lao động, nằm tại Láng trị bệnh bằng thuốc riêng của mình. Trại chẳng có thuốc gì để cấp, ngoài những bát nước thuốc Nam, nấu bằng các loại lá mót nhặt ở rừng về, và những viên Xuyên Tâm Liên trị Bá Bệnh.

Tôi mới được nghỉ lao động trị bệnh chừng 3, 4 ngày, đã có vài anh trong Đội thắc mắc. Nhất là anh Đội trưởng, tối nào trong giờ “phê và tự phê, xây dựng”, cũng nhắc Tôi cố gắng “khắc phục” hôm sau đi lao động với anh em, để bảo đảm cho Đội có nhân số lao động cao trong đợt thi đua. Tôi trình bầy, hàng đêm vẫn bị cơn sốt rét rồi nóng hành hạ, các khớp xương đau nhức di chuyển rất khó khăn đau đớn. Ban ngày khi ra ngoài gặp ánh sáng, mắt bị chói buốt làm nhức đầu không chịu nổi, nên chưa thể đi lao động được, xin anh em “thông cảm nâng đỡ tinh thần” cho Tôi.
Quản giáo Đội đã, ít nhất 2 lần, lén rình để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của Tôi. Một lần trong ban đêm gặp ngay lúc Tôi đang bị cơn sốt hành hạ. Một lần vào khoảng 9 giờ sáng, đúng vào thời gian các bệnh nhân từ Láng ở xuống phòng Y tế để được chẩn bệnh.

Từ láng ở đi xuống, Tôi phải lần mò đi từng bậc thang đất một, cũng như phải ngồi bệt xuống đất nghỉ nhiều lần. Mắt nhức nhối mở hi hí, bước hụt chân ngã lăn tuột cả 5, 6 bậc thang, tới sát hè Hội trường mới khựng lại. Lúc thấy có người nắm tay đỡ Tôi đứng dậy, ngẩng mặt nhìn lên để cám ơn. Tôi mới giật mình nhận ra người tiếp giúp chính là Quản giáo Đội của Tôi. Lúc này Đội đang lao động nơi hiện trường ngoài trại, tại sao ông ấy lại có mặt tại đây?

Tôi bị bệnh như vậy được chừng 1 tuần lễ. Bỗng một buổi chiều vào lúc nhá nhem tối, trên con đường từ K3 đi ngang K2 của chúng tôi, rần rần có 3, 4 toán người khênh cáng đi vội vã ra phiá đường cái. Một số anh em hiếu kỳ, giả bộ mò xuống suối tắm rửa để dò tìm tin tức. Khi trở lên cho biết, có 3, 4 anh trong K3 bị sốt nóng bất tỉnh nhân sự, phải đưa ra Bệnh xá Liên trại cấp cứu.
Sáng hôm sau có tin vài người đã chết không cứu được. Số còn lại thoát chết, đang nằm tại Bệnh xá tiếp tục điều trị. Người ta cho biết là sốt vàng da, bị nhiễm trùng vì lao động tại khu sình, nơi mà Đội chúng tôi phải dọn vét, rải vôi bột khử phèn trong mươi ngày trước.

Đến giờ điểm danh vào Láng đi ngủ, không thấy anh Đội trưởng. Tôi hỏi nhỏ anh nằm bên mới biết, hồi chiều đi làm về anh Đội trưởng bị sốt cao độ, chẩy máu mũi, xuống phòng Y tế khám, và đã được di tản ra Bệnh xá Liên trại cùng lúc với mấy anh khác, cũng sốt cao độ mê man bất tỉnh. Đội trưởng chúng tôi, anh Lê minh Luân, Đại tá thuộc Quân chủng hào hoa phong nhã trong Quân lực VNCH, lúc nào cũng bay bổng theo mây gió, được nằm điều trị ở Bệnh xá Liên trại, khoảng một tuần lễ sau thì bình phục.

Một buổi chiều đi lao động về, anh em cho biết là thấy anh ấy ngồi tắm suối, dơ tay vẫy chào anh em lúc đi ngang rất vui vẻ. Nhưng sáng hôm sau, khi Tôi xuống phòng Y tế khám bệnh, anh bạn phụ tá Cán bộ Y tế cho biết, anh Luân đã chết hồi đêm qua. Mới lúc chiều khoẻ khoắn ra tắm suối vui vẻ là thế, tự nhiên đến đêm bệnh biến chứng ngộp thở cứu không được.

Thế mới biết con người ta, sống chết đều do mệnh Trời định từ trước, muốn cũng không được, không muốn cũng không được. Tôi là người yếu sức khoẻ nhất trong Đội, bị bệnh sốt vàng da vật đầu tiên đau đớn gần chết, ai cũng cho là giả vờ trốn lao động. Nhưng mệnh Trời đã định, nên thoát khỏi chẳng sao.

ĐỊNH MỆNH DO TRỜI

Sa cơ nín thở qua sông,
Lo chi xoáy cuộn, sóng dòng nổi trôi.
Định tâm giữ vững đạo Trời,
Sống tròn Nhân Nghiã, bĩ thời sẽ qua.
Bao năm mặc áo Cộng hoà,
Dấn thân bảo vệ Tự do, Nhân quyền.
Thế, Thời, quốc nạn đảo điên,
Có đâu thối chí lãng quên lời thề.
Kiên trì nhịn nhục vì quê,
Đợi ngày thoát hạn sẽ về phục hưng.
Tàn cơn giông tố bão bùng,
Trắng đen phân tỏ Anh hùng Tiểu nhân.

K2 (Trại Cây Khế), Liên Trại 1, Mùa Hè 1977

 
Chương 18
 
ĐÔI GIỌT “MẬT ĐƯỜNG” TẠO NIỀM TIN CHO TÙ.

Cả mấy trăm ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà mọi giới (Quân nhân, Công chức Hành chánh, Đảng phái Chính trị, Báo chí truyền thông, Giáo chức…) thuộc miền Nam Việt Nam, đã bị Cộng sản Việt Nam đưa đi Lao động Cải tạo Tư tưởng trên đất miền Bắc Xã hội Chủ nghiã, vì đã chiến đấu chống sự bành trướng của Cộng sản tại Việt Nam. Sau thời gian 2 năm tập trung đầy đọa khổ nhục, tin đồn có đợt tha vào tháng 4-1977, nhân kỷ niệm 2 năm thống nhất đất nước, chỉ là cái bánh vẽ đưa ra để phát động đợt thi đua, thúc đẩy Tù làm ra nhiều tiền theo lệnh của Nhà nước mà thôi.Mãi đến tháng 9-1977, kỷ niệm ngày Độc lập của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam, Đoàn Cán bộ Trung Ương mới từ Hànội tới Liên Trại 1, tổ chức học tập và thông báo tin tức đợt tha đầu tiên. Con số Đại tá được tha rất ít, có thể đếm trên đầu ngón bàn tay không hết. Chỉ vỏn vẹn có 3 người:1/ -Đại tá Huỳnh hữu Ban (nguyên Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng tham mưu) bị đưa ra Bắc hồi giữa năm 1976 cùng lượt với chúng tôi, đã chết vì bệnh phổi tại Bệnh xá Liên trại 1 vào khoảng cuối năm.
2/ -Đại tá Thọ (gốc Nhẩy dù) bị bắt tại trận Hạ Lào trong cuộc Hành quân Lam Sơn 719, (Tôi không nhớ Họ của anh Thọ). Phái đoàn Trung ương giải thích : “Anh Thọ được Nhà Nước Trung Ương tha, vì đã “cải tạo nhiều năm rất tiến bộ”. Nhưng Chính quyền Địa phương không nhận, vì lý do không bảo đảm được an ninh cho anh Thọ, tại địa phương nơi xin về cư ngụï. Do đó, Nhà Nước đành phải để anh ấy ở lại tiếp tục cải tạo.” Anh Thọ không ở chung Trại với chúng tôi, nên không có dịp tiếp xúc để kiểm chứng.

3/ -Đại tá Hồng Sơn Đông, ở chung với chúng tôi, từ khi bị đưa ra Bắc hồi cuối tháng 6 năm 1976. Anh Đông đã giải ngũ từ thời Tổng thống Ngô đình Diệm, Đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam.

Từ khi ra khỏi Quân đội, anh Đông sống ở vùng Thủ Đức, Gia Định, thường xuyên cộng tác với một Nhật báo tại Saigon. Trong thời Đệ nhị Cộng hoà, anh Đông tham gia NHÓM KÝ GIẢ ĐI ĂN MÀY, xuống đường biểu tình chống đối Chính quyền vì đã kiểm duyệt và đóng cửa các Báo thân Cộng. Tất cả các Đảng phái Quốc gia chống Cộng sản tại miền Nam lúc bấy giờ đều biết rõ, những tờ báo này thường xuyên cố tình loan tin gây hoang mang, làm suy giảm tinh thần chống Cộng sản của Chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà và Đồng bào tại miền Nam Việt Nam.

Trước khi có lệnh tha, anh Đông đã từng úp mở nói với vài bạn thân là, “NHÓM KÝ GIẢ ĐI ĂN MÀY tại Saigon trước kia là Cán bộ Cộng sản nằm vùng. Từ sau ngày Giải phóng, họ có Uy thế lớn trong Chính quyền Cách mạng tại Saigon. Họ đãõ vận động cho anh ấy không phải đi cải tạo nhưng không kịp, nên cứ phải đi tập trung như mọi người, và đang đợi lệnh tha để ra về trong dịp sớm nhất.”

Đợt học tập này được tổ chức luân phiên, tại cả 2 địa điểm : K2 (Trại Cây Khế) và K3 (Trại Cốc). Ngày nào tổ chức học tại K2 của chúng tôi, anh em trong K3 phải dắt nhau ra học chung. Ngược lại, ngày nào tổ chức tại K3 trong khu tận cùng của thung lũng, anh em chúng tôi phải di chuyển vào trong đó, để cùng tham dự.

Hội trường K2 của chúng tôi chỉ có sức chứa 200 người. Nay dồn cả 2 Phân trại gần 400 người vào ngồi chung, chen nhau chặt cứng như nêm. Mọi người phải ngồi chồm hổm sát bên nhau. Đầu gối người sau đụng lưng người ngồi trước. Vai sát vai không chỗ hở mà cựa quậy. Hơi người bốc ra nồng nực. Đã có anh vì mắc bệnh xuyễn kinh niên, bị ngộp thở phải dẫn ra ngoài cấp cứu. Trong Hội trường không đủ chỗ, phải ngồi đầy cả ngoài hiên chung quanh bên ngoài.

Ngày nghe thuyết giảng trong Hội trường. Đêm được xem chiếu bóng ngoài trời, nơi sân tập họp lớn trước Thư viện. Mọi người ngồi bệt trên mặt đất. Sương đêm lạnh buốt, nhiều người phải mang cả chăn ra chùm kín từ đầu xuống chân, để không bị cảm lạnh.

Phim thuộc loại tuyên truyền ngây ngô xảo trá, với tựa đề “Anh hùng diệt tăng”, giàn dựng diễn tả lại trận phục kích Chiến đoàn Pháp, tại vùng Tây nguyên Trung phần Việt Nam hồi thập niên 1950. Đại ý kể truyện một anh Bộ đội Cộng sản Bắc Việt nằm phục kích bên lề đường, ném lựu đạn lên xe tăng của Pháp. Lựu đạn nổ trên đỉnh bên ngoài xe tăng không hề hấn gì. Xe tăng tiếp tục chạy trên đường vòng sang phiá bên kia sườn đồi. Anh Bộ đội chạy leo qua đỉnh đồi sang phiá sườn bên kia, trước khi xe tăng bò tới. Nhờ lợi thế ở trên cao sát bên mặt đường, anh Bộ đội nhẩy xuống nóc xe tăng, thả quả lựu đạn vào trong lòng xe. Anh Bộ đội từ nóc xe nhẩy xuống đất vừa xong, xe tăng nổ và bốc cháy???

Trong đợt học tập này, có một sự kiện rất đặc biệt không ai quên được. Đoàn Cán bộ Trung ương đã dẫn theo ông PHẠM KHẮC HOÈ, nguyên làm Ngự Tiền Văn Phòng của Hoàng đế Bảo Đại. Ông này đã giác ngộ, dứt bỏ giai cấp quan lại của mình trong Triều đình nhà Nguyễn, theo Cách mạng từ mùa Thu 1945. Hiện nay đang là người Cộng sản chính tông, đến nói chuyện tâm tình với Tù cấp Đại tá, thuộc giai cấp cầm quyền như ông Hoè trước kia trong “Ngụy quyền phản động”.
Ông Hoè khoe rằng, chính ông ấy đã khuyên và đốc thúc Hoàng đế Bảo Đại thoái vị Vua vào tháng 8 năm 1945. Nhờ thế, đã được Cách mạng trọng dụng từ bấy đến nay, không hề bị kỳ thị vì quá khứ của mình.

Khi chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ vào tháng 12 năm 1946, ông ấy bị Pháp bắt giam tại nhà tù Hoả Lò Hànội. Tháng 1 năm 1947 được đưa vào Saigon và Đàlạt để tiếp xúc với một số nhân sĩ : Vương quang Nhường, Phan huy Đán, Đinh xuân Quảng, Trần trọng Kim, Nguyễn văn Sâm, Trịnh đình Thảo, và Nam Phương Hoàng hậu. Đến giữa tháng 4 năm 1947, Pháp đưa trở ra Hànội và trả tự do cho ông ấy. Tháng 8 năm 1947, ông ấy bỏ Hànội ra Chiến khu theo Việt Minh. Tháng 9 được gặp Cụ Hồ, và ở lại theo Cách mạng luôn kể từ đó.

Ông ấy cũng đã được Nhà nước Cộng sản Bắc Việt, cho cái vinh dự làm một trong các thành viên tham dự Hội nghị Genève 1954, chia cắt đất nước Việt Nam làm hai miền Nam Bắc tại Vĩ tuyến 17.
Ông Hoè nói rất nhiều để sau cùng kết luận, nhờ suốt mấy chục năm trời theo Cách mạng, chỉ học được có 2 điều “cơ bản chính yếu” : YÊU và GHÉT.

“Ghét Giai cấp Thống trị, vì là kẻ thù bóc lột Giai cấp Vô sản.
Ghét ăn bám vào xã hội, nhờ thế mới biết Yêu Lao động.
Yêu Lao động tức là yêu Xã hội Chủ nghiã.
Yêu Xã hội Chủ nghiã mới là yêu Nước.”

Qua sự kiện này ai cũng thấy được, người ta đưa ông Hoè đến với mục đích chính yếu duy nhất, trình diện nhân chứng sống bằng xương bằng thịt. Cho mọi người nghe tận tai, thấy tận mắt, tấm gương của một người trước kia thuộc Giai cấp thù địch với Giai cấp Vô sản, biết giác ngộ, nhiệt thành hối cải, tận tụy theo Cách mạng lập công chuộc tội, đã được đối xử bình đẳng trong giai cấp Lãnh đạo của Cộng sản như thế nào. Tù hãy yên tâm noi gương mà cố gắng cải tạo.“Đường đi khó không vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”, đấy là câu ông Hoè đã dùng để kết thúc buổi nói chuyện tâm tình thật dài của ông ấy, với các Tù Đại tá Quân lực Việt Nam Cộng hoà, đang bị tập trung cải tạo tại Liên trại 1, xã Việt Cường, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn.Trong kỳ học tập này, Đoàn Cán bộ Trung Ương còn cho phát thanh một cuộn băng nhựa, ghi âm bài phát biểu ý kiến của Tướng Nguyễn vĩnh Nghi, gửi anh chị em Chiến sĩ thuộc Chế độ Việt Nam Cộng hoà cũ. Tướng Nghi nguyên là Tư lệnh Bộ Chỉ huy Tiền phương của Quân đoàn III, bị quân Cộng sản Bắc Việt bắt tại mặt trận Phan Rang trước khi Saigon thất thủ, và đã bị Cộng sản Bắc Việt tuyên án tù chung thân,
Không biết kỹ thuật thâu băng dở, hay máy phát âm của Trại dở, mà âm thanh phát ra lúc rè, lúc nhỏ, lúc lạo xạo pha trộn các nhiễu âm, rất khó nghe. Tôi không nghe được đầy đủ nội dung nói những gì.

Nhưng sau buổi học tập, nhiều anh em cực đoan khó tánh, kín đáo thì thầm với nhau, có ý bất bình về những lời nói của Tướng Nghi. Đa số còn lại chỉ nhè nhẹ thở dài yên lặng, giữ thái độ “Im lặng là vàng” không biểu lộ ý kiến gì. Tôi thuộc nhóm thứ 2, cũng có vài suy nghĩ riêng, nhưng không nói ra trong lúc đó. Giả dụ như, Tướng Nghi có tự nguyện ngỏ lời kêu gọi khuyên anh em cố gắng cải tạo, lập thành tích đái công chuộc tội… để sớm được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Cộng sản đi nữa, cũng chẳng có gì đáng trách.

“Gặp thời thế, thế thời phải thế.” Chính quyền miền Nam đã hoàn toàn xụp đổ. Quân lực Việt Nam Cộng hoà tan rã. Đồng minh bỏ rơi, cuốn gói chạy. Các Đại cường tham gia ký Hiệp Ước Paris 1973, im hơi lặng tiếng, làm ngơ trước sự vi phạm trắng trợn của Cộng sản trong suốt 2 năm qua. Trong hoàn cảnh vô vọng, mỗi người phải tự lo cho số phận riêng của mình. Tôi nghĩ, trong thâm tâm Tướng Nghi không muốn làm việc đó, nhưng vì bị áp lực cách nào đó ghê gớm lắm, mới chẳng đặng đừng, phải cắn răng nhịn nhục làm vậy thôi.

Chắc ai cũng nhớ rằng, sau mỗi buổi học rời Hội trường trở về Láng, mọi người bị buộc phải ngồi bên nhau mổ xẻ đào sâu thêm về đề tài đã được nghe, trước sự hiện diện theo dõi của Cán bộ. Mỗi người bị buộc phải thay phiên nhau, tự kiểm điểm và liên hệ với bản thân, tìm cho ra những sai trái của mình, của Chế độ mình đã phục vụ trước kia. Phải tự buộc tội mình, để mà hối hận, mà xin Cách mạng khoan hồng tha chết. Mọi ý kiến phát biểu đều phải kết thúc bằng lời hứa, quyết tâm cải tạo cho thật tốt, để sớm được về đoàn tụ với vợ con. Mặc dù chính mình cũng biết, trong các bài thuyết giảng có rất nhiều điều phi lý, suy luận một chiều, sai sự thật, nhưng chẳng ai dám có ý kiến ngược lại. Bởi vì làm như vậy, cả Đội sẽ phải tiếp tục ngồi xây dựng cho nhau hoài không được nghỉ. Cho đến khi nào Cán bộ thấy mọi người tỏ ra “thành khẩn” nhiệt liệt công nhận, “hào hứng” góp ý kiến tán tụng, những điều ghi trong tài liệu học tập là rất chính xác khoa học, mới được coi là “đạt mục đích yêu cầu”, “kết quả thâu hoạch tốt”, và cho ngưng thảo luận để nghỉ ngơi.

Đã có lần ở trong Đội chúng tôi, một anh bạo gan góp ý kiến thành thật, theo đúng tinh thần Dân chủ mà Nhà nước Cộng sản thường rêu rao. Lập tức được Quản giáo Đội (Trung úy Khảm) nhắc khéo rằng : “Một hai bộ óc dù có thông minh đến đâu, cũng không thể bằng cả trăm cả ngàn bộ óc của Bộ Chính trị Trung ương Đảng được. Các anh phải “nắm cho thật vững” điều đó. Chính vì “bản chất đại ngoan cố” như vậy, mà các anh đã lạc đường phản lại Cách mạng. Học tập đến giờ này mà còn chưa “giác ngộ”, bao giờ mới “tiến bộ” được tha về với Vợ Con?”

Nhờ có đợt học tập này, 3 anh Quế, Huề, và Thi, đang bị cùm trong nhà kỷ luật bên truồng heo của K2, suốt từ hồi trốn trại cuối năm 1976 bị bắt lại đến nay, được khoan hồng ân xá cho ra khỏi nhà kỷ luật. Mỗi người được biên chế vào một Đội khác nhau, để tiếp tục đi lao động với anh em như thường. Thấy hiện trạng cơ thể suy nhược của các anh ấy mà xót xa. Thương cho bạn mà cũng lo cho chính bản thân mình, cứ cái ngữ lao động cực khổ, đói ăn như vầy, rồi đây chắc cũng chẳng hơn gì.

Sau đợt học tập, anh em tiếp tục chuẩn bị làm vụ lúa Thu Đông. Đội chúng tôi được giao trách nhiệm đi lấy “cây cứt lợn” một loại thảo, mọc từng bụi cao cỡ 1 mét, có hoa từng chùm nhỏ mầu vàng, nhụy đỏ, mùi hôi hôi, hắc hắc như phân lợn, thân và lá có lông li ti đụng vào da làm ngứa ngáy như bị rôm cắn. Hàng ngày, mỗi người phải chặt 2 gánh nặng cỡ 40 kílô đem về bỏ tại khu ruộng của Trại. Có Đội khác ngồi đó chuyên lo bằm nhỏ, vãi xuống ruộng đầy nước cho mục rữa lần ra thành phân bón trước khi cấy mạ.

Đến tháng 10 năm 1977, mọi việc hàng ngày đang tiến hành êm ả. Bỗng dưng vào một hôm đẹp trời, toàn thể Tù K2 chúng tôi, không phải xuất Trại lao động buổi chiều, tập trung tất cả nơi sân tập họp trước Thư viện. Trại trưởng xuất hiện, thông báo tên một số người được lựa đưa đi lao động cải tạo thật sự. Ai nấy hồi hộp chờ đợi, hy vọng có tên mình trong danh sách.

Khoảng 2 chục người có tên, toàn là dân Chiến tranh Chính trị, An ninh Quân đội, Phòng Nhì, Tuyên Úy, Tỉnh trưởng, Xây dựng nông thôn, và Ban Liên hiệp Quân sự 4 bên. Đội chúng tôi có tới 4 người, gồm các anh Dương Hiếu Nghiã, Võ hữu Bá, Tôn thất Hùng và Tôi (Nguyễn-huy Hùng).

Bữa ăn tối, cả K2 “đột xuất” được đặc biệt tăng cường thịt heo, do chính Toán Chăn Nuôi của K2 chăm vỗ bấy lâu nay. Trại trưởng cho biết : “Đây là dịp “công khai” thanh toán sòng phẳng tiền dư thực, cho mọi người cùng hưởng trước khi chia tay nhau”. Mọi người được phép nấu nướng ăn uống đãi đằng, hàn huyên tiễn biệt nhau thong thả từ chiều tối cho đến giờ đi ngủ. Bạn bè kẻ ở người đi bồn chồn quấn quýt.

Đây cũng là lần đầu tiên, Tù được phép qua lại giữa các Láng ở, để nói chuyện chào tiễn biệt bạn bè thân quen của mình. Tại K2 của chúng tôi, có cả mấy vị Linh mục, Mục sư Tuyên Úy Quân đội, mang cấp bậc Đại tá nhiệm chức, nên cũng bị bắt đi cải tạo.

KẺ Ở NGƯỜI ĐI.
Giúp nhau chuẩn bị lên đường,
Thì thầm chia xẻ tình thương bạn bè.
Mai này cách trở sơn khê,
Chừng nào có được ngày về gặp nhau.
Bao năm cùng khoác chiến bào,
Sa cơ thất thế cùng vào Tập trung.
Bên nhau hứng chịu bão bùng,
Trăm chiều nhục nhã cực cùng khổ đau.
Còn đêm nay nữa bên nhau,
Dặn dò nhắn gửi hết câu chân tình.
Ai may sớm gặp gia đình,
Đừng quên tiếp tục công trình dở dang.
Đừng quên Quốc hận đang mang,
Đừng quên những kẻ đầu hàng cầu vinh.
Đừng quên tội phạm chiến tranh,
Là bầy lang sói đang hành hạ Dân.K2 (Trại Cây Khế) Liên Trại 1, cuối tháng 10-1977
 
 
Chương 19
 
VỀ MIỀN ĐẤT TỔ HÙNG VƯƠNG TRỞ THÀNH TÙ KHÔNG ÁN

Nhóm 20 anh em chúng tôi tại K2 (Trại Cây Khế) được lựa đưa đi, so với tổng số đang bị giam tại K2 chỉ bằng hơn mười phần trăm. Toàn những người thuộc thành phần bị Cộng sản liệt vào hạng nguy hiểm, “có nợ máu sâu đậm với Nhân dân” hơn các thành phần khác. Vì thế, đêm nằm thao thức suy nghĩ mung lung đủ thứ chuyện, không ngủ được.

Với Việt Cộng gian manh xảo quyệt, làm sao đoán được chuyện gì sẽ xẩy đến trong ngày mai. Lúc nào họ cũng “ngọt sớt mía lùi”, như sẵn sàng đổ thóc giống cho mình ăn. Thế rồi lại trơ trẽn nuốt lời ngay tức khắc, chả biết đâu mà lường mà tin cho được.

Trằn trọc mãi, vừa mới chợp được mắt, Cán bộ Quản giáo Đội đã tới, lôi chân những người phải ra đi thức dậy. Rồi dẫn xuống bếp, lãnh thực phẩm ăn đường cho cả ngày. Mỗi người lãnh phần ăn cho cả 3 bữa (sáng, trưa, tối), gồm cơm nắm và thịt heo kho, bọc sẵn trong lá chuối. Nước chín để uống được lấy thả giàn, 2, 3 Gô hoặc Bi đông tùy theo khả năng cơ hữu của mỗi người. Không hạn chế như ngày thường, mỗi buổi chỉ được lãnh 1 Gô hay 1 Bi đông mà thôi.

Trời còn tối, chưa tới giờ báo thức của cả Trại. Anh em ra đi lục đục thu dọn hành trang, khiến các bạn nằm gần bên cũng bị thức giấc. Bạn bè thân xúm xít tiếp tay người ra đi, gói ghém hành trang cho thật gọn gàng, và luôn mồm nhắc nhở coi kỹ xem còn sót gì không.

Hai anh bạn cùng Tổ rất thương mến giúp đỡ Tôi xưa nay (các Đại tá Nguyễn quang Chiểu và Vũ quang Chiêm, trước 30-4-1975 làm ở Phủ Tổng Thống), đến gần giúi cho bọc kẹo lạc và bọc bánh quy, gia đình gửi cho từ hôm trước Tết còn để dành chưa ăn hết. Cả 2 người cùng xúc động, ôm ghì lấy Tôi chúc lên đường bình an, may mắn. Tôi nghẹn ngào, rưng rưng lệ nói những lời cám ơn chân tình. (Từ ngày đến định cư tỵ nạn Cộng sản tại California, Tôi có dịp gặp anh Nguyễn quang Chiểu cũng đang định cư tỵ nạn tại đây. Nghe nói Anh Vũ Quang Chiêm cũng đã sang định cư tỵ nạn tại California, nhưng Tôi chưa có dịp gặp lại.)

Cán bộ hối lên đường, và dẫn mấy anh em phải ra đi, tay xách vai mang tư trang rời Láng, xuống tập trung nơi cổng Trại. Đến nơi tập trung, thấy trong nhóm phải ra đi, có cả Linh mục Nguyễn văn Thịnh, Giám đốc Nha Tuyên úy Công giáo, và Mục sư Dương Kỳ, Giám đốc Nha Tuyên úy Tin Lành thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Sau khi Phó trưởng trại, trưởng Toán áp tải dặn dò mọi người về “Quy luật phải thi hành trong khi hành quân” xong xuôi, còn nhắn nhủ thêm : “Đến nơi mới, các anh phải thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau, để mà cải tạo cho nó tốt”. Những điều này làm Tôi suy tư lo lắng. Xưa nay, ông ta vốn là người xuề xoà dễ tính đối với anh em. Nay nhắc nhở như vậy, chắc chắn trong những ngày sắp tới, sẽ có nhiều điều không may đến với chúng tôi.

Các bộ đội áp giải hối chúng tôi : “Lên đường! Khẩn trương!”. Anh em khệ nệ vác hành trang, kẻ trước người sau nối đuôi nhau đi bộ 1 cây số từ K2 (Trại Cây Khế) ra đường cái. Tới ngã 3, nơi có Bệnh xá Liên trại, rẽ sang phải chừng nửa cây số, thấy một đoàn 4 xe tải Molotova có căng mui và bạt 2 bên hông, đang đậu chờ chúng tôi.

Đến đây, gặp thêm một nhóm anh em ở trong K3 (Trại Cốc), cũng bị đưa đi một lượt với chúng tôi. Trời còn tối mờ sương, không nhận được mặt nhau, trừ những người cùng đi chung trên một xe.
Cán bộ áp tải của K2 và K3 bấm đèn Pin, đi quanh kiểm điểm nhân số Tù xong, ra lệnh 15 người lên một xe. Mỗi xe có 3 cảnh vệ mang súng AK đi áp tải. Một người ngồi nơi buồng lái bên cạnh tài xế. Hai người còn lại ngồi phiá sau xe với Tù, chặn ngay nơi bửng lên xuống.

Hành lý của Tù xếp gọn thành một đống, phiá trong cùng thùng xe nơi sát buồng lái. Anh em ngồi bệt xuống sàn, tập trung ở khoảng giữa, không được ngồi gần phiá bửng sau xe, nơi Cảnh vệ ngồi trấn tại đó.

Đặc biệt lần di chuyển này, tấm bạt phiá sau xe được cuốn lên để cho thoáng hơi. Nhờ thế, anh em có thể trông thấy được rõ ràng, cảnh rừng núi 2 bên đường lùi xa dần phiá sau xe.

Sau hồi còi lệnh của trưởng đoàn áp tải, đoàn xe nổ máy, bật “đèn mắt mèo”, chuyển bánh và lần lần tăng tốc độ. Vài phút sau bắt đầu lao đi vùn vụt, lắc qua lắc lại, vòng vèo xuống dốc theo các sườn núi, rừng rậm mịt mù trong sương đêm lành lạnh.

Trời còn tối chẳng trông thấy gì, mệt mỏi ngồi ôm gối, tựa lưng nhau, mắt nhắm nghỉ ngơi, mặc cho thời gian trôi. Tiếng động cơ và không khí do lực chuyển động của chiếc xe tạo nên, reo đều đều, ù ù, vụt vụt, ào ào, ru anh em thiêm thiếp chìm vào giấc ngủ.

Chẳng biết thời gian ngủ được bao lâu. Bỗng dưng xe giảm tốc độ đột ngột, làm mọi người bị xô dồn về phiá trước tỉnh giấc. Mở mắt nhìn ra ngoài, thấy mặt trời đã lên khá cao. Đoàn xe đang di chuyển ngang qua một dẫy phố, có lẫn lộn nhà ngói nhà tranh.

Người hàng phố thưa thớt, đứng ngó đoàn xe chạy ngang, dơ tay vẫy vẫy. Chắc họ tưởng đoàn Bộ đội nào đi công tác miền núi trở về. Cả chiều dài của khu phố chỉ khoảng 200 mét. Đằng sau các căn nhà là những bụi tre và cây cối um tùm. Chắc đây là khu trụ sở Xã hay Hợp Tác Xã nào đó, thuộc vùng ráp ranh miền núi và đồng bằng.

Qua khỏi khu phố nhỏ, đoàn xe tiếp tục lấy tốc độ trở lại, vùn vụt tung bụi mù, băng ngang những cánh đồng không người.

Khoảng xế trưa lại gặp một Thị trấn nhỏ khác. Nhà cửa nằm dọc dài theo một bên đường. Phiá bên kia đường là những thửa ruộng, đang có người cầy bừa.

Không phải các toán máy cầy hay máy bừa đất, như trong các cuốn truyện mà anh em đã đọc tại Thư viện của Liên trại 1. Mà là những hàng người khòm lưng kéo cầy thay trâu. Họ đứng thành 2 hàng ngang. Hàng trước cách hàng sau chừng 3 mét. Hàng sau là 5 người cầm 5 chiếc cầy. Phiá trước hàng người cầm cầy, là một hàng người đông gấp đôi, quàng vào vai những sợi dây kéo cầy. Những hàng người này cứ thong thả theo nhau, đi vòng hết ruộng này qua ruộng khác. Từ xa trông như những người máy, đã được hiệu chỉnh cho di chuyển tự động. Rất nhiều nhóm người làm việc như vậy, rải rác trên khắp các thửa ruộng. Chẳng thấy bóng dáng một con trâu nào.
Đoàn xe chạy qua Thị trấn được chừng mươi phút, thấy nơi giữa đồng có một khu nhà tiền chế 2 tầng bằng tôn, cửa sổ dát kính phản chiếu ánh mặt trời sáng loáng. Gần bên có một bồn chứa nước lớn cao khoảng 7, 8 mét, và mấy dẫy nhà gạch 2 tầng lợp tôn, trông như một chung cư hay cơ xưởng sản xuất nhỏ. Theo Bộ đội áp tải nói : “Đấy là khu nhà của Cố vấn Liên Sô, và chung cư của công nhân.”

Đoàn xe tiếp tục, băng qua một vùng 2 bên đồng khô, rồi vòng vèo theo các triền núi đồi, cây cối cằn cỗi pha lẫn tre gai sơ xác. Đến lúc mặt trời chiếu xéo hông xe, đoàn xe ngừng lại. Trên sườn núi ngay bên đường, có một xóm nhà tranh, không thấy bóng người. Cán bộ cho Tù xuống tiểu tiện, nếu ai có nhu cầu, còn không thì cứ ngồi yên trên xe. Thực ra nhu cầu chính yếu không phải vậy. Cần ngưng để xe đầu đợi các xe sau đến, tập trung đầy đủ trước khi tiếp tục di chuyển. Đồng thời lợi dụng thời gian này, cho Tù và Cán bộ áp giải, xuống đất giải quyết nhu cầu vệ sinh cá nhân, vì đã phải nín suốt cả chục tiếng đồng hồ. Mọi người ào ào nhẩy xuống xe, kề ngay vào các bụi lau, cây dại bên đường xả “xúp bắp”. Người tiểu tiện, kẻ đại tiện. Lúc này mới thấy rõ ý nghĩa xác thực, của 1 trong TỨ KHOÁI ở trên đời (ăn, ngủ, đụ, ỉa), dân gian thường truyền tụng.

Ngừng xe hút chưa tàn điếu thuốc, lại có lệnh lên xe tiếp tục cuộc hành trình. Để tiết kiệm, những người đang hút dở phải dụi tắt điếu thuốc bỏ vào bao, để sau này hút tiếp cho khỏi uổng. Chẳng như hồi trước 30-4-1975, dù là thuốc “3 con 5” (555) mới bập có vài hơi, khi không thích hút nữa là quẳng ngay không luyến tiếc.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, đoàn xe chạy ngang một xóm có nhiều nhà ở dọc 2 bên đường. Quanh nhà nào cũng có hàng rào cây gai và cổng tre. Phiá sau nhà có những bụi chuối um tùm. Nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy bóng người nào qua lại trên đường.

Qua khỏi xóm dân cư chừng 2 cây số, xa xa bên phiá trái cách đường khoảng 1 cây số, thấy một khu nhà tôn nhà ngói lẫn lộn, trông như một cơ sở Hợp tác xã. Phiá trước khu nhà có một cổng lớn, với chiếc Bảng hiệu to tướng đề hàng chữ “Công an Nhân dân”. Gần bên khu nhà này khoảng 300 mét, là một khu bao quanh bởi một hàng tường cao, có giăng giây kẽm gai trên đỉnh. Sau hàng tường thấy những mái nhà tôn san sát bên nhau, xếp theo hàng lối dọc ngang đều đặn. Nơi góc các dẫy tường đụng nhau, có những tròi canh mái lợp tôn, có người mặc áo mầu vàng ôm súng ngồi. Chắc hẳn đây là khu trại giam tù.

Trước khi đoàn xe bắt đầu chui vào quãng đường vòng vèo, leo theo sườn núi 2 bên dầy đặc cây rừng rậm rạp âm u, lại thấy xa xa bên kia bờ sông, một khu trại giam khác kiến trúc tương tự. Đoàn xe chúng tôi không rẽ vào 2 nơi này, tiếp tục chạy. Chừng 45 phút di chuyển vòng vèo trong rừng, đoàn xe dừng hẳn lại trước một khu trại, cũng có tường cao bao quanh với hàng dây kẽm gai giăng trên đỉnh, y như 2 trại đã thấy trước.

Chúng tôi phải ngồi yên trên xe chờ khoảng 10 phút, mới được lệnh xuống xe. Mọi người vác hành trang theo nhau hàng một, vào qua khung cửa nhỏ của chiếc cổng sắt lớn. Cán bộ mặc đồ kaki mầu vàng đứng tại buồng canh, đếm đầu kiểm ghi tổng số người vào trại.

Ngay phiá sau cổng là một sân tập họp hình chữ nhật thật lớn, đủ chỗ ngồi cho cả ngàn người. Anh em chúng tôi được lệnh ngồi tập trung thành 2 hàng dọc, vào một góc sân. Một hàng rào Công an cầm súng, đứng vây quanh cách chúng tôi chừng 5 mét để canh chừng. Đoàn bộ đội áp tải ngồi lại bên xe, đậu phiá ngoài cổng trại.

Nơi cuối sân, thấy một nhóm khác cả trăm người không biết từ đâu đến. Họ cũng phải ngồi theo hàng lối, bên cạnh những gói tư trang, chờ như chúng tôi. Có bạn trong nhóm chúng tôi nhìn thấy người quen, mới biết là cùng “Phe Ta” với nhau. Nhóm anh em ấy thuộc cấp bậc Trung tá, Thiếu tá.

Trong khi ngồi chờ đợi Trưởng toán áp tải đi “làm việc” với Ban Chỉ huy, chúng tôi có thì giờ quan sát cảnh trí bên trong trại giam. Phiá cuối sân tập họp có một toà nhà lớn lợp tôn, chắc là Hội trường. Trại giam được chia ra 2 khu giam riêng biệt. Khu bên phải, có một dẫy tường cao 3 mét, suốt chiều dài của sân. Khoảng giữa bức tường, có 2 cửa nhỏ rộng 1 mét, cao 2 mét để ra vào. Trong khu này có những dẫy nhà vách gỗ mái tôn, và gần sát tường phiá cổng lớn có dẫy nhà gạch. Bên phiá sân đối diện, có 1 hàng rào kẽm gai cao 2 mét, để ngăn cách năm sáu dẫy nhà vách gỗ mái tôn với sân tập họp.

Ngồi đợi khoảng một tiếng đồng hồ tại sân tập họp, chúng tôi nghe một hồi kẻng oang oang nổi lên phiá ngoài cổng. Sau đó thấy 2 cánh cửa sắt lớn được mở rộng ra, và lục tục từ ngoài cổng trại, từng Đội, từng Đội Tù nối đuôi nhau đi vào. Họ phải bỏ nón ra khỏi đầu, khi đi ngang điếm canh tại cổng.

Những Đội đi vào phiá Phải, khu có tường quây, gồm toàn những Tù tuổi sồn sồn, dáng mệt mỏi, lặng lẽ cặp đôi, theo nhau rảo bước vào khu giam. Có vài người chỉ trỏ về phiá đám Tù đang ngồi giữa sân vẫy vẫy tay, chắc là nhận được mặt người quen.

Những Đội rẽ vào bên trái, khu nhà sau hàng rào kẽm gai, tuổi cỡ choai choai trên dưới 20, nói năng xấc láo, ồn ào, cũng có đôi người lớn tuổi. Sau này mới biết đó là đám Tù Hình sự, chuyên trộm cắp giết người cướp của, hãm hiếp phụ nữ, in bạc Cụ Hồ giả, băng đảng chém giết nhau… Chúng là loại “tù chuyên nghiệp”, từng ra vào khám nhiều lần. Những đứa trẻ tuổi, bị giam nhiều năm trong trại giáo hoá thiếu nhi phạm pháp. Khi đến tuổi trưởng thành, chúng bị chuyển qua trại tù của người lớn, tiếp tục thi hành nốt những năm còn lại của bản án, đã tuyên phạt từ hồi còn vị thành niên.

Chúng tôi phải tiếp tục ngồi chờ cho đến sẩm tối. Sau hồi kẻng điểm danh, nhốt hết Tù cũ vào các phòng giam của họ xong, Cán bộ Công an và mấy người “Trật tự”, mới đến dẫn chúng tôi vào 1 dẫy nhà trống, trong Khu có tường bao quanh.

Cán bộ Công an, mặt lạnh lùng chẳng nói chẳng rằng. Nhưng mấy người “Trật tự” đi theo, cầm xâu khoá và chià thì luôn mồm hối thúc “khẩn trương”. Sau này mới biết họ là Tù bên khu Hình Sự, được tin cậy lựa chọn chỉ định làm “Thi Đua”, đi theo để đôn đốc Tù thi hành lệnh sai bảo của Cán bộ. Họ còn có trách nhiệm, nghe ngóng thâu nhặt những tin tức sinh hoạt của Tù, qua hệ thống “ăng ten” riêng để báo cáo cho Cán bộ.

Người sau cùng trong chúng tôi, vừa bước lọt chân vào qua ngưỡng cửa, nghe một tiếng rầm phiá sau lưng. Hai cánh cửa sắt duy nhất ra vào nhà bị đóng lại, gài thanh sắt chận ngang bên ngoài và móc ổ khoá. Mọi người bàng hoàng xúc động tái tê đôi phút. Không ngờ kể từ giờ phút này, mình chính thức trở thành Tù. Mặc dù chưa hề nghe đọc, hoặc nhìn thấy mặt mũi cái án lệnh dành cho mình như thế nào, hình thể mầu sắc của nó ra sao? Nhưng rồi ai nấy cũng bình tĩnh trở lại, mò mẫm thu xếp chỗ nằm, trong bầu không khí lạnh lùng tối tăm của NHÀ TÙ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ.
Một tiếng đồng hồ sau, bóng đèn điện treo ở giữa căn nhà bật sáng, anh em mới thấy rõ mặt nhau, ai cũng dáng vẻ bơ phờ mệt mỏi.

Nhờ có ánh sáng vàng vàng của chiếc bóng đèn điện, mới thấy được ở phiá cuối nhà có một ngăn riêng để 3 thùng gỗ cho Tù đại tiện, tiểu tiện ban đêm ngay trong nhà. Thật may mắn, đêm nay chắc là được ngủ yên, không bị đánh thức bởi những tiếng hô báo cáo đi tiểu tiện, đại tiện, của Tù như trong suốt 2 năm vừa qua.

Nhưng, qua đêm rồi mới biết mình mừng hụt, “thoát vỏ dưa, gặp phải vỏ dừa” còn tệ hơn. Bầy RỆP đói lâu ngày, trong kẽ sàn gỗ chui ra thi nhau hút máu. Đau nhoi nhói, hết chỗ này đến chỗ kia trên toàn thân thể, lo gãi ngứa rà rà giết rệp cả đêm không ngủ được.

Điện chỉ rọi sáng được một tiếng đồng hồ sau thì tắt, cùng một lúc với những tiếng kẻng trại báo giờ ngủ bắt đầu. Sau này mới biết mỗi tối có điện sáng 1 tiếng đồng hồ trước giờ ngủ, để từng Đội Tù ngồi tập họp trong buồng, “phê bình, kiểm thảo, xây dựng, giúp nhau sửa sai những lầm lỗi vi phạm nội quy trại trong ngày, để mọi người cùng cải tạo được mau tiến bộ”, chớ không phải để cho Tù có ánh sáng thu dọn chỗ ngủ.

Sáng ngày hôm sau, khi mọi Tù cũ ra khỏi phòng giam đi lao động hết, mới đến lượt chúng tôi được mở cửa cho ra, làm vệ sinh cá nhân và lãnh phần ăn sáng. Xong xuôi, lại đóng gói hành trang ra xếp hàng tại sân tập họp lớn của Trại, để trình diện làm thủ tục bàn giao giữa các Cán bộ Quân đội và Công an.

Họ gọi từng người lên, trả lại giấy biên nhận giữ các vật tư của Tù (đồng hồ, nhẫn, dây truyền vàng bạc…) do Trại cũ cấp, lãnh giấy biên nhận của Trại mới. Những gói Âu Dược riêng của anh em buộc phải gửi Trại cũ giữ, nay 2 nhóm Cán bộ chuyển giao cho nhau. Sau này mất luôn, Tù chẳng bao giờ được sử dụng để trị bệnh riêng mỗi khi cần, như hồi còn ở bên Trại Quân đội quản lý.

Nhờ vậy biết được đây là phân trại K1, thuộc Trại Tân Lập, Tỉnh Vĩnh Phú. Ban chỉ huy Trại Tân Lập đóng tại K5, Khu trại có tấm bảng hiệu “Công an Nhân dân”, đoàn xe của chúng tôi đã chạy ngang, hồi chiều hôm qua trước khi đến đây.

Tỉnh Vĩnh Phú là nơi có đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương, của Dân tộc Việt Nam từ mấy ngàn năm nay. Tôi nhớ có đọc, tại Thư viện Liên trại 1, một tài liệu tâng bốc Hồ Chí Minh của một văn nô Cộng sản Việt Nam, ghi lại câu chuyện Hồ Chí Minh đến thăm Đền Hùng. Anh ta nói khi viếng Đền Hùng, Bác Hồ có tức cảnh đề mấy vần thơ, trong đó có đoạn dùng những từ ngữ rất hỗn xược ngạo mạn như sau : “…Ngày xưa Bác dựng nước, Ngày nay Tôi giữ nước…”

Bàn giao xong, Bộ đội Cụ Hồ phủi tay ra đi, để chúng tôi ở lại cho Công an Nhân dân quản lý. Họ bắt đầu đọc tên “biên chế” thành Đội mới. Nhóm chúng tôi có anh Dương Hiếu Nghĩa được cử làm Đội trưởng Đội làm gạch, gồm toàn Linh mục, Thượng Tọa, Đại Đức Tuyên úy Quân đội VNCH. Linh mục Nguyễn văn Thịnh cũng sang Đội gạch với anh Nghĩa, còn Mục sư Dương Kỳ thì ở lại với nhóm chúng tôi.

Nhóm chúng tôi được chỉ định là Đội Nông Nghiệp, và được tăng cường thêm 3 người lạ : 1 Trung úy Bộ binh, 1 Đại úy Công binh, và 1 Đại úy Cảnh sát Quốc gia (Tôi không nhớ rõ Họ Tên của các bạn này).

Chúng tôi được dẫn vào giam tại dẫy nhà “cách ly”, trong khu giam Tù miền Nam có tường bao quanh. Dẫy nhà gạch này được chia ra 3 ngăn có lối vào riêng, có tường gạch phân cách giữa các ngăn không thông thương được với nhau, cũng như cách biệt hẳn với các dẫy nhà gỗ trong khu.
Đội chúng tôi bị giam ở ngăn giữa. Đội Gạch của các vị Tuyên úy trong ngăn bên phải, phiá sát gần sân tập họp lớn. Ngăn bên trái chúng tôi, là Phòng Kỷ Luật giam những Tù vi phạm các Điều lệ Nọâi quy Trại giam. Cửa vào ngăn này, ở phía đằng sau dẫy nhà, phiá ngoài tường rào của khu.
Ngăn giam chúng tôi, chỉ có một cửa ra vào bằng sắt, có chốt móc khoá cửa ở phiá bên ngoài. Bên trong, có 2 dẫy sàn nằm 2 tầng chồng lên nhau bằng gỗ. Phiá cuối ngăn, có một phòng nhỏ bề ngang 1 mét rưỡi, để một thùng gỗ đựng phân, cho Tù giải quyết nhu cầu vệ sinh ban đêm.
Chúng tôi ở đây được một tuần lễ, bỗng một buổi sáng đang ngồi tập họp chờ gọi xuất trại đi lao động, anh em rì rầm truyền tai nhau, tin Linh mục Hiệu chết trong Nhà Kỷ Luật. Biết được là nhờ anh em Đội Mộc, hồi đêm có người phải “đột xuất” ra xưởng đóng áo quan, cho một nhóm Tù khác đem chôn. Trại phao tin Linh mục Hiệu tự tử chết. Theo anh em Công giáo, đây là tin bịa đặt hoàn toàn, vì hành động này không bao giờ có thể xẩy ra đối với một Linh mục.

NHÀ TÙ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

Tự do thâu gọn một căn nhà,
Cửa sắt ngăn đường chặn lối ra.
Quanh Láng nhởn nhơ toàn bóng Qủy.
Đêm dài lởn vởn đặc hình Ma.
Không gian co cụm sau tường gạch.
Không khí bao trùm chục thước vuông.
Sàn gỗ hai tầng, người sáu tấc.
Theo nhau tha thẩn Rệp đầy buồng.
Tù Người Tù Rệp nằm chung ván,
Tranh đấu ngày đêm chẳng nhịn nhường.
Rệp hút máu Người no để sống,
Người lo diệt Rệp nát như tương.
Người, Rệp, chung nhau cảnh đoạn trường,
Không cùng lý tưởng, hoá không thương.
Rệp chuyên hút máu, nên Người diệt,
Để tránh cho đời, nọc bệnh vương.

TÙ KHÔNG ÁN.

Từ đây cách trở sơn khê,
Kiếp Tù không án, ngày về hẳn xa.
Trầm luân đâu một mình Ta,
Trăm ngàn chiến sĩ Cộng hoà chịu chung.
Bên nhau trong bước đường cùng,
Giữ sao khí phách anh hùng không phai.
Mặc cho Quỷ Đỏ thị oai,
Kệ thây bầy thú vô loài dương uy.
Vượng, Suy, Trời định có kỳ,
“Sắc không, không sắc”, lo chi!… nản lòng?

K1, Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, tháng 11-1977.

 
Chương 20
 
ỐC ĐẢO TÂN LẬP (VĨNH PHÚ) – ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Kẻng báo thức sáng, Cán bộ Trực Trại dẫn “Thi Đua” đi mở cửa các nhà giam. Họ đi vòng hết nhà này đến nhà kia, mãi 30 phút sau mới đến lượt Đội Đại tá chúng tôi được mở cửa cho ra sau cùng. Anh Trực Nhà và 2 anh trực phụ (thay phiên hàng ngày), tất tưởi dắt nhau chạy đi lãnh phần ăn sáng và nước uống chín về chia cho anh em.

Chia vội vã vừa xong, kẻng tập họp đi lao động cũng bắt đầu gióng lên. Ai nấy cầm phần ăn của mình, vừa đi ra sân tập họp vừa ăn. Người nào ăn chưa kịp hết, phải bỏ vào túi, chờ lúc ra khỏi cổng trại vừa đi vừa ăn tiếp. Nếu không ăn như vậy, ra tới hiện trường phải lao động ngay, đói không làm việc được “năng nổ”, tối về sẽ bị “phê bình xây dựng”. Nếu bị anh em góp ý kiến “xây dựng” hoài, hậu quả tai hại sẽ đến với bản thân.

Phần “sắn duôi” ăn sáng chẳng được bao nhiêu, ém gọn lại được vừa bằng một nắm tay. Chỉ đôi người có dạ dầy yếu, phải nhai chậm rãi như Tôi mới gặp trở ngại. Còn nhiều bạn khác bụng dạ khoẻ, ăn uống nhậm lẹ thì chả thấm tháp gì.

Sáng nào cũng vậy, trong thời gian ngồi chờ Cán bộ Trực Trại, đến đọc lệnh gọi các Đội lần lượt xuất trại, mấy người “Thi Đua” đi vòng “kiểm tra” xem áo quần của ai chưa đóng dấu sơn “ám số Trại”. Họ đem con dấu bằng gỗ to dài hơn bàn tay, tẩm sơn đen pha lẫn dầu, đến đóng lên lưng áo và 2 bên ống quần. Người nào quầo áo đã đóng dấu, nhưng lâu ngày sơn bị phai bạc mờ đi, thì đóng chồng lên cho được rõ ràng. Đây là biện pháp phân biệt Tù với người thường ngoài trại, và dễ lùng bắt nếu Tù trốn trại.

Đội chúng tôi và nhóm anh em mới tới, xuất trại lao động lần đầu tiên, được “Thi Đua” “quan tâm” “chiếu cố” trước nhất. Họ đến đóng dấu sơn “ám số trại” lên quần áo chúng tôi, ngay khi chúng tôi vừa tới ngồi tại sân tập họp.

Sau này Trại phát cho mọi người, loại quần áo Tù bằng vải thô Nam Định. Cả áo lẫn quần đều bị may ghép lẫn lộn, bằng những mảnh vải nhuộm 2 mầu khác nhau. Nếu nửa thân và tay áo bên Phải mầu xanh nước biển, thì nửa thân và tay áo bên Trái mầu trắng. Quần cũng một ống trắng, một ống xanh. Thật rõ ràng lồ lộ chẳng lẩn đi đâu lọt, thế mà cả quần lẫn áo vẫn phải đóng dấu “ám số trại”. Cứ mỗi 6 tháng được lãnh 1 bộ. Nếu rách sớm hơn thời gian quy định, phải vá víu mà mặc. Có thể dùng quần áo riêng của mình, nhưng phải đóng dấu sơn “ám số trại” lên trên.

Đội chúng tôi bắt đầu tham gia lao động tại K1, Trại Tân lập, bằng công tác đi chặt cây xim và cây muông, đem về làm củi đun cho Nhà Bếp. Xim được chặt trên những ngọn đồi cách trại 3 cây số, bó gánh về chất đống dài sát tường phiá ngoài cổng trại giam. Nhà Bếp Tù ra lấy vào dùng, đun nấu thực phẩm và nước uống chín phát cho Tù. Nhà bếp của Cán bộ canh Tù, cũng lấy củi ở đây về dùng.

Trước khi lên đường, anh em phải ghé vào đống củi cao như núi bên cạnh tường ngoài cổng trại, lấy mỗi người 1 cây dài 2 mét, đường kính khoảng 10 phân, đem theo làm đòn gánh củi mang về.
Củi xim thân cây nhỏ, cỡ lớn nhất chỉ bằng ngón chân cái, xum xuê cành con và nhiều lá, cao chừng 1 mét rưỡi. Chặt củi chẳng khó khăn gì. Nhưng muốn có dây để cột củi thành từng bó, phải cắt cỏ tranh dài, bện, nối lại với nhau. Không biết cách cột cho chắc, khi xốc đòn vào đưa lên vai bó củi sẽ xổ tung ra, hoặc rơi vãi từ từ dọc đường rất phiền phức. Nhờ hồi còn nhỏ Tôi tham gia Đoàn Hướng Đạo Sinh, đã có dịp học cách bện dây và cột bó củi, nên mọi việc hoàn tất suông sẻ. Làm phần mình xong, Tôi lén đến tiếp tay các bạn, đang lúng túng vì chưa làm bao giờ. Anh Trịnh Đình Đăng (Tôi quen từ hồi ở Trại Suối Máu, Tam Hiệp, Biên Hoà) cũng rất thạo việc này, cũng đã giúp đỡ nhiều anh em khác hết mình. Chúng tôi phải làm lén, vì nếu Cán bộ thấy được sẽ bị “kỷ luật”.

Gom xếp một gánh củi nặng độ 2 chục kí lô, với 2 bó nhỏ, vừa với sự chịu đựng của bắp thịt vai mình, thì coi không được. Cán bộ nhìn thấy chỉ trích là : “Bó củi gì mà chỉ bằng nắm tay, trẻ con nó còn chê nhẹ”. Nếu gom bó đủ lớn coi cho vừa mắt, dọc đường về sẽ bị chiếc đòn gánh, và sức nặng của 2 bó củi, hiệp nhau hành hạ bắp thịt vai, cổ, cột xương sống lưng của mình đau đớn chịu không nổi.

Không biết gánh, lúc nào cũng phải gồng vai, gân cổ lên chịu sức nặng, cắn răng bước đi dồn dập như chạy. Mỗi bước chân đạp xuống đường là một nhát dao cứa trên vai, đau buốt vào óc, dồn xương sống, mỏi hông ngang thắt lưng. Ráng hết sức, cũng chỉ đi được khoảng trăm mét, lại phải quăng gánh củi xuống đất để nghỉ. Sau mỗi lần nghỉ, lúc đưa gánh củi lên vai đi tiếp cho kịp bạn bè, là một lần khổ nạn. Cảm thấy hình như gánh củi nặng gấp đôi trước, bắp vai nóng rát đau chẳng khác nào bị vọp bẻ (chuột rút), chịu hết muốn nổi. Bị bắt buộc phải làm mãi, rút kinh nghiệm lần rồi cũng “giác ngộ” biết được, khi gánh phải hơi cúi đầu khòm lưng về phiá trước, để cho đòn gánh đè tréo từ giữa bả vai bên này, qua u thịt sau cổ, sang gần bả vai bên kia, bắp thịt vai sẽ không bị đau. Bước đi phải nhịp nhàng, theo đà nhún nhẩy lên xuống của 2 bó củi, ở 2 đầu đòn gánh.
Nhiều bạn cả đời chưa có dịp phải gồng gánh, thấy những người buôn thúng bán bưng làm hàng ngày, cứ tưởng dễ dàng như mình ngồi lái xe hơi. Nay phải làm mới thấm thiá, và thán phục cái tài xốc vác chịu đựng của những người “lao động chân tay” trần ai cực nhọc đến mức nào.
Đi cắt củi được hơn một tuần lễ, Trại phát động Kế hoạch “Thi đua làm Cách mạng xanh”. “Mục đích yêu cầu” là làm cho tất cả những khoảng đồi núi trong phạm vi đất dành cho Trại, đang trơ trụi không cây cối, phải được phủ kín bằng một mầu xanh của các ruộng sắn (khoai mì gồm 2 loại khác nhau : 1.-công nghiệp, 2.-để ăn), và miá re (thân nhỏ, vỏ cứng, nhưng rất ngọt, ép lấy nước cô thành “mật đường” để cất rượu trắng). Đây là “kế hoạch làm kinh tế” để Trại tự túc, có tiền nuôi Tù và Cán bộ canh Tù, theo lệnh Nhà nước ban hành từ hồi đầu năm 1977.

Đội chúng tôi phải đi đào hố trồng sắn, ngay trên những ngọn đồi đã chặt củi xim. Mỗi buổi lao động, sáng cũng như chiều, mỗi người phải đào 15 hố, vuông cạnh 70 phân, sâu 80 phân. Các hố phải đào cách nhau một mét. Trên mặt đồi, cỏ dại cỏ tranh dầy đặc cao cả thước, phải phát sạch trước khi đào hố. Đất đỉnh đồi cứng chắc nịch, lẫn đá lổn nhổn. Không có xẻng, mỗi người phải múc đất từ dưới lòng hố lên bằng cuốc của mình. Vất vả vô cùng cho những người lãnh phải cây cuốc cũ, lưỡi bị mòn nhỏ, cùn hoặc xứt mẻ. Chỉ có 3 anh bạn Tù cấp úy tăng cường nhân số Đội, và vài người khác khoẻ như anh Đội trưởng Lê Đình Luân, Mục sư Dương Kỳ, Tôn Thất Hùng… là đạt chỉ tiêu quy định. Buổi lao động nào họ cũng dư ít phút ngồi nghỉ ngơi. Còn đa số anh em, chẳng bao giờ hoàn tất đủ “chỉ tiêu” trước lúc mãn giờ lao động.

Mỗi người tham gia lao động, được Quản giáo Đội “ghi điểm tính công” hàng ngày. Ai đau ốm nghỉ bệnh nhiều, không tham gia đủ số ngày công, hay lao động hàng ngày không “đạt chỉ tiêu”, sẽ bị phạt giảm mức ăn quy định hàng tháng xuống. Những người lao động “năng nổ vượt chỉ tiêu”, hàng đêm được anh em trong Đội “bình bầu” là “gương mẫu” nhiều lần, sẽ được Quản giáo quyết định thưởng tăng phần ăn. Người được thưởng sẽ được ăn tăng thêm 2 kí lô một tháng. Người bị phạt, phải giảm mức ăn xuống còn 11 kí lô, tức là bớt đi 1 kí lô. Mức ăn quy định cho mỗi người bình thường, hàng tháng là 12 kí lô ngũ cốc (gạo, hoặc các loại khác như : bột mì, hột bo bo, sắn, bắp, khoai).

Thời gian chúng tôi tới trại này, phần gạo được thay thế bằng “sắn duôi”, theo tiêu chuẩn một đổi một, tức là 1 kí lô “sắn duôi” khô, tính bằng trị giá 1 kí lô gạo. “Sắn duôi” là sắn tươi bào thành sợi nhỏ như sợi bánh phở, sấy hoặc phơi khô cho bốc hết hơi nước. Tôi không biết tại sao gọi là “sắn duôi”, nghe anh em Tù cũ tại đây gọi vậy, thì nhận biết như vậy. Để làm cho “sắn duôi” chín, người ta để vào các vỉ tre đan, hấp từng trồng nhiều vỉ một lượt, trên những vạc nước đun sôi. Lúc còn sống “sắn duôi” mầu trắng đục rời rạc như gạo. Khi chín, trở thành trong và dính quện với nhau như cơm nếp. Những sợi sắn không chín, vẫn giữ nguyên mầu trắng đục. Không biết tại sao, lúc nào “sắn duôi” hấp cũng bị nửa chín nửa sống.

Phần “sắn duôi” ăn sáng, được nấu cùng lúc với phần ăn chiều, đong riêng ra để qua đêm đến sáng mới phát. Gặp mùa lạnh thì không sao. Đến mùa nắng thời tiết oi nồng qua đêm, “sắn duôi” bị thiu nhơn nhớt và có mùi chua, ăn vào nhiều người yếu dạ bị đau bụng tiêu chẩy. Tù vẫn phải lãnh về ăn, vì chẳng có gì khác để nhồi vào bao tử, cho có sức chịu đựng mà lao động.

Việc hớt tóc cho Tù ở K1 trại Tân Lập này, khác hẳn với bên các Trại do Quân đội quản lý. Ở đây, Trại mua 1 bộ đồ hớt tóc, gồm Tông-đơ, kéo và lược, trao cho Ban “Thi Đua” cất giữ. Hàng ngày, theo lịch trình quy định luân phiên cho các Đội mượn, đem ra “hiện trường lao động” hớt tóc cho nhau. Hồi còn ở K2 – Liên trại 1 – Việt Cường Yên Bái, sau khi bị sốt vàng da hành không chết, Tôi mất sức nhiều không ra ngoài lao động nặng được. Quản giáo Đội đã trình Phân trại trưởng, cho Tôi ở trong trại phụ trách phòng hớt tóc một thời gian. Anh em trong cùng Đội hiện nay, ai cũng biết. Do đó, ngày nào đến phiên Đội được xử dụng bộ đồ hớt tóc, anh Đội trưởng cũng trình Quản giáo Đội cho Tôi miễn lao động, để hớt tóc cho anh em.

Quản giáo bằng lòng, nhưng buộc anh em trong Đội, phải gồng mình làm bù đắp phần của Tôi, nhằm “bảo đảm chỉ tiêu chung” của Đội phải “đạt” trong ngày. Giống hệt trường hợp anh phụ trách nấu nước chín tại “hiện trường lao động”, anh em cũng phải làm nhiều hơn để bao phần “chỉ tiêu” hàng ngày của anh ấy.

Việc hớt tóc giữa trời, có nhiều kỷ niệm khó quên, cho cả thợ hớt và người được hớt. Không có ghế cho khách ngồi, nên cả thợ lẫn khách đều phải đứng. Hai người cao xấp xỉ ngang nhau, do đó khách buộc phải đứng dưới ruộng hoặc rãnh bên luống, chịu đựng ướt chân và quần, nhường cho thợ đứng trên bờ đất cao, không phải vói tay nghển cổ mới hớt được dễ dàng.

Thời tiết dù mưa hay nắng, cả 2 người cùng phải đứng giữa đồng mà hớt cho nhau, không có một tán cây bóng mát nào để núp. Lúc nắng còn đỡ, gặp trời mưa thì thật là một cực hình cho cả 2 người, mặc dù ai cũng có khoác áo mưa. Khách phải để đầu trần, nước mưa xối xả trôi qua cổ áo vào trong người, làm ướt hết cả áo trong lẫn áo ngoài lạnh cóng. Thợ luôn luôn phải giơ 2 tay cao ngang vai, nước mưa cũng tự do theo 2 cổ tay áo trôi vào nách, làm ướt mọi lớp áo và mình, lạnh chẳng thua gì khách.

Chúng tôi đến đây được hơn một tháng, bắt đầu có dịch kiết lỵ lan tràn trong trại. Các khu vệ sinh công cộng dùng thùng đựng phân lộ thiên, ruồi nhặng sinh sôi nẩy nở nhanh chóng, bay đi khắp trại, nhất là khu nhà bếp. Có thể trăm phần trăm nhân số Tù mắc bệnh. Những người khoẻ sức đề kháng trong cơ thể còn mạnh, chỉ bị sơ sơ vài 3 ngày rồi hết. Những người suy nhược nhiều sức đề kháng yếu, bệnh ngày một tăng, từ đi đại tiện có phân, lần lần chỉ còn nước nhờn và máu. Ngày đêm đi liên tục cả 2, 3, 4 chục lần, mệt mỏi hốc hác tiều tụy mà vẫn phải đi lao động như thường. Chỉ những ai ngày đêm đi từ trên năm mươi lần ra toàn máu, và thêm sốt nóng lết đi không nổi nữa, Đội trưởng mới ghi danh cho đi khám bệnh.

Khi nộp sổ khám bệnh, Tù “Thi đua” làm Y tá tại Bệnh xá buộc phải ra góc sân, rặn ra mũi và máu còn nóng hổi trình cho Cán bộ Y tế thấy rõ ràng, mới được cho vào Bệnh xá nằm chữa trị. Rất nhiều anh em khai bệnh, nhưng không được Cán bộ Y tế cho vào điều trị tại Bệnh Xá, chỉ được cấp thuốc uống tại chỗ, rồi theo Đội tiếp tục đi lao động, mặc dù họ rất mệt mỏi đuối sức.

Những người bị kiết lỵ nặng, nhưng không bị phù thũng thì có hy vọng sống. Còn những ai vừa kiết lỵ vừa phù thũng, thì chỉ ít ngày sau là đi về với Tổ tiên. Cũng có người chỉ bị phù thũng vì thiếu dinh dưỡng chớ không bị kiết lỵ. Tôi đã bị ở trong trường hợp kiết lỵ và sốt nặng, đến nỗi bị ngất xỉu bên thùng phân trong phòng giam ban đêm, phải kêu cấp cứu mới được đưa vào Bệnh xá nằm điều trị.

Bệnh xá có 2 phòng, mỗi phòng rộng khoảng 16 mét vuông. Mỗi phòng có 5 giường nhỏ loại 1 người nằm. Tôi và những người kiết lỵ nằm trong phòng “bệnh truyền nhiễm”. Lúc cấp cứu đưa vào, Tôi phải nằm tạm dưới đất, vì tất cả 5 giường đều đã có 2 người nằm chung. Gần sáng có người chết, sau khi bệnh nhân khiêng anh ấy ra túp lều chứa xác chết, nơi giữa bãi đất trống phiá sau Bệnh xá, Tôi được lên giường nằm thế vào đó.

Thuốc chữa trị hàng ngày, chỉ là 1 bát nước đủ loại lá thuốc Nam do nhân viên bệnh xá lên rừng kiếm về, băm nhỏ, phơi khô, bỏ vào vạc ninh nhừ để qua đêm, đến sáng phát cho bệnh nhân. Đây là loại thuốc trị Bá Bệnh. Ai đau ốm ra sao không cần biết, hễ cứ đến xin khám bệnh là được cho uống 1 bát. Nếu ai có sốt thì được thêm dăm chục viên Xuyên Tâm Liên, mầu vàng xậm như nghệ trộn với gì không biết, vê viên tròn nhỏ bằng hột đậu xanh, mùi vị hắc hắc the the lưỡi.

Ban ngày, mưa cũng như nắng, ở góc sân Bệnh xá phiá sau gần bếp có một thùng gỗ, để cho bệnh nhân ra xếp hàng thay phiên nhau ngồi rặn è è, ôm bụng rên đau quằn quại. Còn ban đêm, cửa các phòng bệnh bị khoá trái bên ngoài y như các láng giam, nên có một thùng gỗ để nơi góc phòng. Lúc nào cũng có 4, 5 người ngồi chồm hổm ôm bụng, chụm đít quanh thùng nhăn nhó rặn, cổ bạnh ra mặt mũi đỏ gay.

Tại Bệnh xá, có anh Tù Hình Sự được Cán bộ Y tế dùng làm “Thi Đua”, cho ở thường xuyên ngày đêm trong Bệnh xá kiểm soát bệnh nhân thay Cán bộ. Nếu bệnh nhân nào không gọi anh ta là Bác sĩ, hoặc không khéo lời tâng bốc anh ta, thì dù bệnh tình chưa thuyên giảm, cũng sẽ bị đề nghị cho xuất viện ngay để nhường chỗ cho người khác. Ai biết điều và nịnh bợ anh ấy, thì dù đã hết bệnh rồi cũng vẫn được ở nghỉ thêm vài 3 ngày mới phải rời Bệnh Xá.

Theo tin tức thâu lượm được qua những anh em nằm tại Bệnh xá trước Tôi, và phối kiểm qua những lời ba hoa của anh ta trong thời gian Tôi nằm tại Bệnh xá, biết được anh Tù Hình Sự này bị án tù trung thân, vì tội “làm giấy bạc Cụ Hồ giả”. Hồi còn ở ngoài xã hội, anh ta làm nghề Chăn Nuôi, chuyên trách về thiến Heo, thiến Gà trống, nên anh ta tự coi mình là Bác sĩ Thú Y.

Có một chuyện ly kỳ liên quan đến anh “Thi Đua” này, làm anh em Đội chúng tôi hoảng sợ không bao giờ quên được. Số là, Đại tá Tô văn Vân phụ trách nấu nước ngoài “hiện trường lao động” của Đội chúng tôi, một đêm kia tự nhiên bị đau bụng giữ dội phiá bên Phải, nghi là sưng ruột dư, phải kêu cấp cứu và được đưa vào Bệnh xá.

Sáng hôm sau, là ngày Chủ nhật nghỉ lao động, Đội chúng tôi bị tập họp lên Hội trường, để nghe anh “Thi Đua” này cùng Cán bộ Y tế, nói cho nghe về tình trạng nguy kịch của anh Vân, cần phải giải phẫu gấp nếu không thì chết. Họ đưa ra “phương án hành động khẩn trương, thực hiện ca mổ ngay tại Phân trại”, vì thời gian chuyển qua K5 (Trại trung ương) làm thủ tục đưa ra Tỉnh e không còn kịp. Họ tỏ ra rất tự tin, nhờø có rất nhiều kinh nghiệm về mổ sẻ súc vật (cũng chẳng khác gì người ta), nên rất bảo đảm không có gì phải lo ngại.

Họ yêu cầu chúng tôi góp ý kiến quyết định, đồng thời hỏi ai có lưỡi dao bào râu còn mới, thì cung cấp cho họ xử dụng làm dao mổ. Chúng tôi ngỡ ngàng, dứt khoát xin miễn góp ý kiến, vì mạng sống của anh Vân không thuộc phần trách nhiệm của chúng tôi quyết định. Đây là việc thuộc quyền quyết định của Nhà nước và thân nhân của anh ấy. Hơn nữa, trong chúng tôi không ai có lưỡi dao bào râu còn mới để cung cấp.

Buổi trưa ngày hôm sau là Thứ Hai, khi anh em đi lao động về, anh Trực Buồng cho biết, hồi sáng lúc đi ngang qua khu Bệnh Xá xuống bếp lãnh thực phẩm cho bữa trưa, đã gặp anh Vân đứng bên bờ rào Bệnh xá. Anh Vân cho biết đã hết đau, nhờ hồi hôm mửa ra mấy nùi giun đũa, trước khi mửa có con đã chui ra từ lỗ mũi. Thật khủng khiếp !!! Sau khi hết đau bụng, không biết anh Vân làm cách nào, được “biên chế” vào Bệnh xá phụ giúp anh “Thi đua” nấu thuốc, cháo, và nước uống chín cho Tù nằm điều trị tại đây.

Trong thời gian nằm tại Bệnh xá, Tôi còn phải chứng kiến một anh kiết lỵ nằm chung giường, chết rất thương tâm. Anh ấy được đưa vào nằm cạnh Tôi sau giờ khám bệnh buổi chiều, đến nửa đêm thì chết. Ngay sau khi được vào Bệnh xá, anh ấy mở vali quần áo ra kiểm điểm lại mọi thứ. Cầm những lá thư và ảnh của Vợ Con ra khoe Tôi, và chăm chú đọc lại rất vui vẻ, yêu đời.

Tôi thấy anh ấy còn giữ 2 hộp sữa bò đặc hiệu con chim, và một hộp bánh quy. Tôi nói chúng ta bị bệnh là do thiếu dinh dưỡng mà ra, sao anh không dùng sữa và bánh mà “bồi dưỡng” cho nó khoẻ, để dành làm gì. Lỡ chết vì đói kiệt sức cơ thể không chống nổi bệnh hoạn, thì chẳng phụ lòng Vợ Con lắm sao? Anh ấy cười trả lời chưa cần, Tôi còn đủ sức chịu đựng mà!

Đến khuya anh ấy lên cơn sốt nóng như lửa, rồi mê man. Tôi phải kêu cứu và xuống đất nằm, để nhường nguyên chiếc giường cho anh ấy. Anh “Thi Đua” nằm ở phòng khám bệnh kế bên, nói vọng sang trả lời để sáng sẽ tính. Đến gần sáng, anh Tù bệnh lịm dần, không nghe tiếng rên rỉ nữa. Anh ấy đã ra đi vĩnh viễn. Anh ấy là một Sĩ quan cấp Úy thuộc Công binh, Tôi không nhớ tên và đơn vị.
Phải đợi đến kẻng báo thức sáng, Cán bộ Trực Trại vào mở khoá cửa phòng giam bệnh, và Cán bộ Y tế đến lập biên bản xong, mới ra lệnh cho chúng tôi, để anh chết nằm vào chiếc chăn dạ của anh ấy, khiêng ra bỏ tại túp lều tranh chứa xác giữa bãi cỏ hoang, cách Bệnh xá khoảng một trăm mét. Người ta đem anh ấy đi chôn lúc nào không ai thấy, chắc là ban đêm.

Tôi nằm Bệnh xá được một tuần lễ thì bệnh kiết lỵ thuyên giảm. Không biết nhờ 2 bát nước thuốc Nam và 60 viên Xuyên Tâm Liên mỗi ngày, hay nhờ 2 bát cháo gạo lỏng nêm muối, Bệnh xá cho Tù bệnh ăn thay vì “sắn duôi”, hay nhờ được nghỉ không phải lao động?

Theo quy định của trại, Tù bệnh nằm điều trị tại Bệnh xá, được phát mỗi bữa 3 muổng đường để ăn với cháo. Nhưng anh “Thi Đua” chặn lấy dùng riêng, và nói rằng kiết lỵ mà ăn đường bệnh sẽ tăng chữa không được. Chẳng ai dám tố cáo, vì sợ bị anh “Thi Đua” hại ngầm thì thiệt thân. Tôi biết được là nhờ anh Tô văn Vân, nói nhỏ lúc anh em gặp nhau tại bếp của Bệnh xá. (Anh Vân và Tôi biết nhau từ năm 1967, khi anh ấy còn là Thiếu tá được đưa về làm Chánh văn phòng cho Đại tá Hoàng Gia Cầu Tổng cục Trưởng Địa phương quân và Nghĩa quân tại Bộ Tổng Tham mưu, thay thế Đại tá Trương văn Xương thuyên chuyển đi Vùng 4 Chiến thuật ở Cần Thơ. Lúc đó Tôi đang giữ chức vụ Tổng cục Phó.)

Những người nằm điều trị kiết lỵ trước Tôi, khi nào họ hết hẳn không đi cầu ra máu nữa thì mới phải ra viện. Nhưng phần Tôi, không biết vì sao bệnh chỉ mới thuyên giảm chưa dứt, ngày đêm vẫn còn đại tiện ra mũi và máu khoảng 6, 7 lần, gầy ốm hốc hác, mệt đi bộ xa chưa nổi. Thế mà Cán bộ Y tế nói là Cán bộ Quản giáo Đội đến yêu cầu, phải cho Tôi ra khỏi Bệnh xá theo Đội đi lao động để bảo đảm ngày công quy định.

Tôi ra theo Đội đi phát cỏ và vun gốc sắn. Trong thời gian này, các anh Phạm Tài Điệt, Trần văn Thăng (An ninh quân đội), Nguyễn văn Phúc (Chính huấn Tổng cục Chiến tranh Chính trị) vì lao động lơ là kém năng xuất, và Tôi (Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị, Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến) còn thêm cái tội nằm Bệnh xá lâu không bảo đảm đủ ngày công, nên bị phạt giảm mức ăn hàng tháng xuống còn 11 kí lô. Hai người khác trong Đội “lao động năng nổ”, được thưởng tăng mức ăn lên 13 kí lô là Mục Sư Dương Kỳ và anh Tôn Thất Hùng.

Bốn người bị phạt giảm mức ăn, để tăng mức ăn cho 2 người lao động giỏi được thưởng, thật là bất ngờ làm mọi người xửng sốt. Người bị phạt buồn đã đành, người được thưởng cũng xốn xang áy náy.

Thoạt đầu các vị này chỉ muốn cố gắng “năng nổ lao động” để được coi là “ cải tạo tiến bộ” sớm được tha. Đâu ngờ Cách Mạng lại thâm độc áp dụng luật bù trừ, lấy của người bị phạt thưởng cho người “lao động năng nổ”, để gây thù hận chia rẽ giữa anh em Tù với nhau.

Việc xẩy ra rồi, 2 người được thưởng mới tỏ ra hối hận, vì biết đã bị lừa mắc bẫy của “Vẹm” (chữ lóng dân chúng dùng để ám chỉ Việt Minh từ hồi 1946). Anh Tôn Thất Hùng thỉnh thoảng đưa nguyên phần ăn một bữa của anh ấy, tăng cường cho chúng tôi để tỏ lòng hối hận. Còn Mục sư Kỳ thì không dám. Ông nói qua trung gian cho anh em biết, sợ làm như anh Hùng, Cán bộ bắt được sẽ buộc tội vi phạm Nội quy, Điều lệ của Trại, nguy hiểm cho cả người nhận lẫn người cho.

Mới tới K1 Tân Lập được khoảng 2 tháng, ai nấy đã hốc hác, nhất là sau dịch kiết lỵ phù thủng. Mọi người suy xụp rõ ràng, chỉ còn da bọc xương, bơ phờ. Ai cũng sụt đi phân nửa cân nặng của mình, trông chẳng khác nào những hình “nộm bù nhìn” trong những bộ quần áo tế thần lụng thụng. Ngày đi trình diện tập trung Tôi cân nặng 67 Kí lô, đến lúc này chỉ còn được 30 kí. Chiếc thắt lưng da mang theo, bây giờ muốn dùng để giữ quần cho khỏi bị tụt xuống, phải đục thêm lỗ cách lỗ cũ khoảng 20 phân. Biết chắc là mình chỉ còn nặng đúng 30 kí lô, vì thời gian Đội chúng tôi phụ trách phơi đong cân thóc cất vào kho, anh em đã lén đứng lên chiếc cân bàn để cân, trước khi cân các bao thóc.

Lúc nào cũng đói, lại phải lao động vất vả với “chỉ tiêu” cao, thiếu dinh dưỡng trầm trọng, nên trong khi lao động ở ngoài đồng, hễ thấy sinh vật nào nhúc nhích ăn được là vồ ngay. Ngoé, nhái, ễnh ương, chằng hiêu, cóc, thằn lằn, rắn, cào cào, châu chấu, rế cơm, rế mèn, chuột nhắt, gì cũng chộp hết, ngoại trừ điả và giun. Mặc dù biết làm như vậy là vi phạm Điều lệ, Nội quy Trại giam, mọi người đã phải học thuộc lòng, nhưng vẫn làm. Thà mưu sinh để sống còn cho tới ngày được cứu thoát, còn hơn tôn trọng Nội quy để chết, trước khi thấy “ánh sáng ló dạng nơi cuối đường hầm”.

Thoạt đầu, bắt được nhái ngoé còn bỏ túi chờ tới giờ giải lao, mò đến chỗ nấu nước giả bộ hút thuốc lào, để bỏ vào đống than nướng chín rồi mới ăn. Nhưng về sau, anh nấu nước sợ vạ lây không cho, đành lột da ăn sống tại chỗ, hoặc nhét vào túi đem về ngâm nước muối trại phát 3 thià canh mỗi bữa, ăn với “sắn duôi”. Ăn vào thấy cũng rất ngon chẳng khác gì thịt gà cá gỏi.

Có lẽ trong số anh em mưu sinh linh tinh bất hợp pháp này, Tôi là người “năng nổ” nhất. Nên thỉnh thoảng được anh Tổ trưởng (trước 30 tháng 4 năm 1975 làm Tỉnh trưởng Bình Dương) thương, lo lắng cho sức khoẻ của Tôi, chiếu cố xây dựng hoài trong các giờ họp “kiểm thảo, phê và tự phê” trong Đội ban đêm, luôn luôn có sự rình nghe của “Thi Đua” và Quản giáo Đội từ phiá ngoài cửa sổ phòng giam.

Anh ấy cũng thường xuyên bị anh em bắt gặp, lén mưu sinh như Tôi và nhiều bạn khác, nhưng chẳng ai góp ý kiến “xây dựng” anh ấy bao giờ. Có lẽ anh ấy làm như vậy, vì phải thi hành trọn vẹn trách nhiệm do Quản giáo giao phó cho các Tổ trưởng và Đội trưởng, là phải theo sát anh em trong Đội để báo cáo thì mới được coi là “cải tạo tiến bộ”. Tuy nhiên, anh ấy cũng rất khôn. Mỗi lần “xây dựng” Tôi mưu sinh linh tinh, anh ấy “tự phê” trước, nhận rằng bản thân cũng có vi phạm, nhưng hứa sẽ “khắc phục” không tái phạm. Anh ấy cũng phân bua, sở dĩ phải “xây dựng” anh em vì thương, muốn anh em giữ được sức khoẻ tốt, “cải tạo cho mau tiến bộ” để về với Vợ Con.

Qua đầu năm 1979, chúng tôi bị chuyển về K5 (nơi có Ban Chỉ huy Trung ương Trại Tân Lập). Vài tháng sau thì anh ấy bị cảm sốt nặng, được vào Bệnh xá điều trị không hết, lại biến chứng ho sưng phổi, rồi chết vì ngộp không thở được. Người ta phải đâm kim vào ngực rút nước ở buồng phổi ra để cứu nhưng vô hiệu.

Vấn đề vệ sinh cá nhân ở K1, mỗi tuần lễ Tù chỉ được đưa ra sông, cách trại khoảng 2 cây số để tắm rửa giặt giũ quần áo có một lần, vào sau giờ lao động chiều thứ bẩy. Ngày thường, sau buổi lao động chiều, Tù được đưa tới hồ nước bên Đội Gạch cách trại 2 cây số để tắm rửa. Đây là hầm lấy đất làm gạch, lâu ngày sâu dần xuống và rộng ra thành hồ chứa nước mưa tù đọng, rong rêu cỏ rác đủ thứ xà bần dơ bẩn hôi tanh. Thế mà vẫn phải nhào xuống tắm rửa, cho sạch mồ hôi bụi bặm và bùn đất bám đầy chân tay mặt mũi, sau cả ngày lao động vất vả. Cả ngàn con người chờ đợi nối đuôi nhau. Mỗi đợt chỉ cho 2 Đội cỡ 80 người xuống, trong vòng 5 phút là phải lên. Những người xuống sau bao giờ cũng phải tắm rửa nước bùn đục ngầu. Vì phải đứng gần ven bờ, ra xa một chút là hụt chân ngập đầu không đứng được.

Làm xong các ruộng sắn, Đội chúng tôi đổi công tác. Đến kho phụ trách việc đập, vò, đạp các bó luá cho thóc rơi ra, ban mỏng trên sân gạch, phơi cho khô, dồn vào bao, cân và cất vô kho. Trước khi dồn thóc vào bao, còn phải quạt bỏ thóc lép. Một người xúc thóc vào thúng, nâng để lên một bên vai, từ từ nghiêng thúng cho thóc chẩy xuống đất. Người khác đứng kế bên, 2 tay cầm chiếc mẹt quạt liên tục, cho thóc lép bay ra khỏi dòng thóc mẩy đang chẩy xuống. Công việc phải làm giữa sân gạch nắng chang chang cả ngày, bụi bặm bám đầy người, phải dùng khăn bịt mồm mũi để bảo vệ buồng phổi. Những bó rơm đã rụng hết thóc, phải chất thành đống cao cả chục mét ở góc sân, gọi là cây rơm, sau này dùng làm gì không biết.

Lúa thóc do Tù reo, cấy, trồng, gặt, đập, phơi khô, xay xát ra gạo, cho Cán bộ canh Tù ăn hàng ngày. Còn Tù thì quanh năm ăn toàn sắn, bắp. Trong mùa thâu hoạch ồ ạt sắn, bắp, thì một phần cấp cho Tù ăn tươi hàng ngày. Phần còn lại, bắp thì phơi khô tách hạt ra khỏi cùi, sắn thì lột vỏ sắt lát mỏng hoặc chặt thành những khúc ngắn sấy khô, xong xuôi đem cất kho, phát ra ăn dần về sau.

Sau khi hết lúa để đập, để phơi, Đội chúng tôi được chỉ định vào quét dọn hót cám lẫn trấu, trong nhà máy cà xát lúa ra gạo, nhồi vào bao tải. Cả ngày chìm đắm trong bụi bậm mịt mù, vất vả hơn đập phơi lúa ngoài sân rất nhiều. Nhưng được cái may, hàng ngày mỗi người được “bồi dưỡng” một túi cám lẫn trấu, đem về sàng rây bỏ trấu đi, còn lại cám lẫn tấm nấu chín mà ăn.

Quản giáo Đội cho phép anh đun nước, giúp anh em nấu chín trong giờ lao động. Ai muốn nhờ thì đổ tấm cám và nước vào Gô riêng, giao cho anh nấu nước vào lúc đầu giờ lao động. Đến giờ nghỉ giải lao giữa buổi, là có cháo bột tấm cám chín sền sệt để ăn. Mùi vị hơi đăng đắng hôi hôi khó ăn, nhưng phải ráng mà nuốt, cho cơ thể có thêm chất bổ của cám để chống phù thũng.

Một tai họa thảm thương đã xẩy ra, làm ai nấy đau đớn và lo sợ vô cùng. Có anh ở một đội khác bị trướng bao tử, nghẽn ruột và chết vì ăn cám. Trong khi anh em chúng tôi cũng ăn, mà chưa có người nào làm sao cả. Sau này có tin từ Bệnh xá loan ra cho biết, anh bạn tử nạn vì không rây bỏ trấu vụn lẫn trong cám tấm, cứ để nguyên như vậy nấu ăn cho được nhiều, trấu không tiêu làm nghẽn đường tiêu hoá bể ruột chết. Cũng kể từ đấy, Tù không được mót cám về “bồi dưỡng” nữa.
Kho vừa hết “sắn duôi” cung cấp cho Nhà Bếp, thì vừa đúng mùa thâu hoạch sắn tươi. Mọi người được ăn sắn tươi luộc dài dài, ngày 3 bữa. Sắn tươi dùng thay gạo theo tiêu chuẩn 4 kí lô sắn còn cả vỏ bằng 1 kí lô gạo. Ăn sắn tươi có một số người bị say. Nghe anh em nói, sắn trồng trên đồi tranh, củ nào bị rễ tranh xuyên qua, ai chẳng may ăn phải những củ này thì khoảng 2 tiếng đồng hồ sau khi ăn là bị say. Khi say sắn, cơ thể cảm thấy nao nao buồn tiểu đại tiện, nôn khan, hoa mắt chóng mặt, người bải hoải như bị trúng gió. Say nặng có thể ngất xỉu vài phút sau mới tỉnh lại. Tôi chẳng may bị say sắn tới 2 lần.

Lần đầu vào khoảng 9 giờ đêm, lúc mọi người chuẩn bị đi ngủ. Tôi mót đại tiện, mò vào góc nhà, khu để thùng cho Tù đi vệ sinh ban đêm, đứng xếp hàng chờ. Tự nhiên Tôi thấy ánh sáng ngọn đèn dầu đổi mầu, từ vàng trong sang vàng đục, rồi đỏ và tối xầm đi, không biết gì nữa. Anh bạn đứng sau, thấy Tôi đang đứng bỗng dưng xỉu và ngã gục xuống đất, phải xốc nách bế đặt đại lên một chỗ nằm kế đó, hô hoán kêu mọi người xúm lại cạo gió cấp cứu, vài phút sau thì tỉnh lại.
Lần thứ 2 nguy hiểm hơn, nó xẩy ra vào khoảng quá nửa đêm. Chỗ ngủ của Tôi ở sàn gỗ trên cao cách mặt đất 2 mét, đang ngủ tự nhiên thấy bụng quặn đau mót đại tiện.Tôi chui ra khỏi mùng, bò men theo bià sạp, phiá chân của 3 bạn nằm bên, để tới cái cột có các cục gỗ nhỏ làm thang, bấu chân vào tụt xuống đất. Sau khi đạp được đầu bàn chân trái lên mẩu gỗ thứ nhất, bắt đầu xoay người tụt xuống để đặt đầu bàn chân phải lên cục gỗ kế theo, thì Tôi thấy choáng váng, chân tay bủn rủn không kiểm soát được và rớt xuống đất cái rầm, rung động cả nền nhà làm mọi người giật mình thức giấc, tưởng có động đất.

Tai nạn này đã làm cổ chân phải của Tôi sưng vù, đau đớn không đứng được bằng 2 chân, và cũng không leo lên chỗ ngủ ở tầng sạp trên cao của Tôi được. Anh Đội trưởng đã phải nói khó với các bạn nằm ở sạp dưới, vui lòng đổi chỗ cho Tôi nằm tạm qua đêm.

Sau vài phút im lặng, có một bạn tốt bụng đã đáp ứng lời yêu cầu, khiến Tôi vô cùng cảm kích, và nhớ ơn bạn ấy đến bây giờ vẫn chưa quên. Ngày hôm sau, bạn ấy còn quyết định cho Tôi nằm tạm trên chiếc nệm cao su bơm hơi của bạn ấy thêm mấy ngày, đến khi Tôi chống gậy đi và leo lên sàn cao được mới thôi. Người tốt bụng này là Đại tá Nguyễn văn Hãn (An ninh Quân đội). Tôi chưa có dịp quen trước 30-4-1975. Anh Hãn không những bị cận thị nặng hơn Tôi nhiều, mà lại còn bị loạn thị nữa, thật vất vả, làm gì cũng phải sờ sờ mò mò gần như người khiếm thị vậy.

Mỗi buổi sáng, ngay sau khi cửa phòng giam được mở, Tôi phải 2 tay vịn chiếc đòn gánh dư của anh trực nhà cho mượn, co chân phải lên, cà nhắc nhẩy từng bước một với chân trái, để xuống Bệnh xá khám bệnh. Khám xong lại vội vã cà nhắc nhẩy về sân tập họp, trình sổ khám bệnh cho anh Đội trưởng biết là mình được nghỉ lao động ngày hôm đó.

Những Tù bệnh được nghỉ không phải theo Đội ra ngoài lao động. Nhưng sau khi các Đội xuất trại hết, phải tập trung vào một nhà giam riêng ở cuối sân bên khu Hình Sự, cửa khóa trái bên ngoài, cho đến hết giờ lao động các Đội trở về nghỉ mới được thả ra.

Khoảng 2 tuần lễ sau, tình trạng chân của Tôi hết sưng, có thể đi lại với chiếc gậy nạng, Cán bộ Y tế coi là lành không cho nghỉ nữa, phải theo Đội đi lao động. Cũng may, lúc này Đội không còn làm Nông Nghiệp nữa, mà phụ trách Cưa xẻ và Lò rèn, ở sát ngay bên cạnh Đội Mộc (đóng giường, tủ, bàn, ghế…) cách cổng Trại giam chừng 500 mét. Chúng tôi xẻ những cây gỗ to tướng ra ván cung cấp cho Đội Mộc, và nung sắt làm cuốc, xẻng, dao… theo “yêu cầu” của Trại. Tôi được cử vào toán Rèn do anh Đại úy gốc Cảnh sát làm Toán trưởng. Anh Trịnh Đình Đăng phụ tá quai buá tạ. Tôi lo nhóm Lò, kéo Bễ thổi lửa cho than đá lúc nào cũng hồng, đủ độ nóng để nung sắt.

Ít lâu sau, cổ chân của Tôi bình thường trở lại. Tổ Rèn không còn nhiều việc để làm, Tôi được chuyển qua Tổ Cưa xẻ gỗ, cặp với anh Phan Trọng Thiện. Vì anh Thiện đã làm lâu rành kỹ thuật kéo cưa xẻ gỗ, nên đứng trên cao để giữ mực cưa đi được thẳng tắp, cho bề dầy của ván đều đặn. Còn Tôi mới vào nghề nên phải đứng phiá dưới, phụ nâng cưa lên và kéo cưa xuống cho được nhịp nhàng, đều đặn. Cái khổ của người đứng phiá dưới xúc gỗ đang xẻ là, từ lúc bắt đầu kéo cho đến khi ngưng, lúc nào cũng bị mạt cưa rớt ra bay phủ đầy người từ đầu xuống đến chân, miệng và mũi phải dùng khăn quàng bịt kín để lọc cho bụi không lọt vào phổi, nên rất khó thở và mau mệt.
Từ ngày làm trong xưởng, không còn dịp mưu sinh linh tinh các sinh vật ngó ngoáy ngoài đồng nữa, anh em chờ giờ giải lao chạy ra các bãi cỏ sát hàng rào quanh sân để mót rau má, rau tầu bay đem về ăn độn với “sắn nút chai”. Đây là sắn nguyên củ, sau khi lột bỏ vỏ, chặt thành từng khúc ngắn cỡ 2 đốt ngón tay, đem phơi hoặc sấy khô, cất kho. Những mẩu sắn khô đổi mầu từ trắng sang nâu xám, trông như những mẩu gỗ dùng để nút miệng chai. Muốn làm chín để ăn, người ta dùng nước luộc như luộc khoai. Thấy ngoài mặt các cục “sắn nút chai” luộc đổi mầu từ đục sang trong, tưởng là đã chín nhưng lúc ăn mới thấy, trong lõi cục nào cũng còn sống nguyên.

Mùa Hè năm 1978, có lẽ là mùa tử vong cao nhất tại K1 trại Tân Lập-Vĩnh Phú. Có hôm, trong khi các Đội ngồi phơi nắng cả tiếng đồng hồ, chờ gọi xuất trại lao động buổi chiều, có đến 3, 4 người ngất xỉu vì say nắng giữa sân tập họp, được anh em xốc nách đem vào Bệnh xá cấp cứu. Tối lao động về nghe tin 2 người đã chết. Một buổi khác, một anh Đội trưởng Nông Nghiệp cũng cải thiện linh tinh, ăn thịt Cóc và trứng Cóc vào bữa trưa, đến chiều ra tập họp đi lao động bị ngất xỉu. Anh em cõng vào Bệnh xá cấp cứu không được, anh ấy đã vĩnh viễn ra đi trước mọi người.

Đi lao động bị tai nạn chết tại K1, Tân Lập, Vĩnh Phú, có trường hợp Trung tá Hưng (trước 30-4-1975 làm Tham mưu trưởng Trường Đại học Chiến tranh Chính trị ĐàLạt). Nghe anh em bạn cùng đi với anh Hưng, theo xe tải của Trại công tác ngoài lãnh thổ trại giam trở về kể lại : “-Xong công tác, lúc xe quay trở về trại trời đã tối mịt. Xe phải lội qua khúc sông cạn đá lổn nhổn. Bánh xe bị kẹt ở giữa dòng sông nước chảy xiết, không nhúc nhích được. Anh em Tù phải xuống xúm chung quanh đẩy cho xe tiến tới, anh Hưng chẳng may bị hụt chân chìm mất tích. Mãi mấy ngày sau mới tìm được xác. Trại loan tin anh Hưng không biết bơi nên bị chết đuối.”

Nữ Văn sĩ Bích Huyền là vợ Trung tá Hưng, hiện đang định cư tỵ nạn tại Nam California, đã viết một tuyển tập “Lối cũ chẳng sao quên”. Trong đó có đoạn kể lại chuyện đi thăm nuôi anh Hưng tại K1 Tân Lập- Vĩnh Phú, phải lặn lội gian nan khổ cực như thế nào. Ít lâu sau có người nhắn tin về nhà cho biết là anh Hưng đã chết, chị ấy lại phải đi cùng 3 người anh ở Hà Nội (theo Cách mạng từ 1945) trở ra Tân Lập. Khi đến Phân Trại gặp anh Hưng lần trước, người ta nói anh Hưng đã chuyển trại, nhưng không cho biết tên trại mới. Mấy anh em phải chạy ngược chạy xuôi qua hết các Phân trại, chẳng nơi nào nhận đang “quản lý” anh Hưng. Sau cùng phải đến Ban chỉ huy Trại Tân Lập tại K5, mới xin được phép bốc hài cốt anh Hưng đem về cải táng. Vào đêm thứ Sáu, mồng 7 tháng 1 năm 1994, Bà Bích Huyền đã được Tổng Hội Ái hữu Chiến tranh Chính trị Quân lực Việt Nam Cộng hoà Hải ngoại tại Nam California, bảo trợ tổ chức Ra Mắt cuốn “Lối cũ chẳng sao quên” lần đầu tiên tại Vũ trường Ritz ở Quận Orange. Lúc đó Trung tá Nguyễn Ngọc Thông (còn sống) là Chủ tịch Tổng hội, Nhạc sĩ Nguyễn Hiền Phó Chủ tịch Nội vụ, và Tôi là Phó Chủ tịch Ngoại vụ. Nhân dịp tổ chức Dạ Vũ Ra Mắt sách này, Tôi đã cảm đề một bài Thơ tặng Bà Bích Huyền như sau:

DÒNG KỶ NIỆM ĐẸP
Bích Huyền “Lối cũ chẳng sao quên”,
Lẻ bóng duổi dong một chiếc thuyền.
Xã hội nhiễu nhương lòng sắt đá,
Tình đời trao đảo dạ trung kiên.
Chồng đền nợ nước gương anh dũng,
Vợ giữ gia phong tiếng nữ hiền.
Trí sáng khéo ghi dòng kỷ niệm,
Bút tài giỏi họa khúc chuân chiên.
Quận Cam, Nam Cali, 7-1-1994

Anh em Tù chết bệnh tại K1 thì nhiều, nhưng cấp bậc Đại tá chỉ có anh Phạm văn Sơn, tác giả cuốn “Việt Nam tranh đấu sử Cận đại”. Anh Sơn chết vì bệnh tiểu đường biến chứng. Trước 30-4-1975 anh Sơn là một trong những người có công lớn trong việc nghiên cứu, biên soạn, và ấn hành tập “Quân Sử Việt Nam Cộng hoà”, do Phòng 5 Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH chủ trương. Hiện nay thấy mấy tập Quân sử này được in lại và bầy bán tại các nhà sách trong Khu Little Saigon, Quận Cam, Nam California.
Sau đợt Trung Cộng tấn công các Tỉnh biên giới Bắc Việt vào năm 1978, rất nhiều Tù bị giam tại các vùng Sơn La, Lào Kay, được chuyển về K1. Nhờ thế Tôi có dịp gặp Trung úy Nguyễn Trung Hoà, bút hiệu Huy Vân, Chủ bút tờ Nhật báo Tiền Tuyến thời Tôi làm Chủ nhiệm trước 30-4-1975. Khoảng 1 tháng sau khi chúng tôi gặp nhau thì Huy Vân phải chuyển sang Phân trại khác cũng thuộc trại Tân Lập. Đến đầu năm 1979, Đội các Đại tá chúng tôi bị chuyển về K5, gặp Tù quen thuộc ngành Chiến tranh Chính trị cho biết, anh Huy Vân đã qua đời trong mùa Hè chết chóc kinh khủng vừa qua, vì bệnh không thuốc chữa.

NỖI LÒNG TÙ KHÔNG ÁN.

Hùng Vương Quốc Tổ thấy không ?
Đồng bào cùng giống Tiên Rồng diệt nhau.
Vì không thần phục Nga Tầu,
Không theo Bác Đảng làm trâu kéo cầy.
Sa cơ bắt nhốt vào đây,
Hoà mình chịu nhục cùng bầy ác gian.
Đọa đầy cực khổ cơ hàn,
Sức mòn lực tận tiêu tan xác phàm.
Người vì Chính nghĩa chịu giam,
Bọn vô nhân đạo lên làm Chủ dân.
Giang sơn gấm vóc tiêu lần,
Nhân tài yêu nước chung thân ngục tù.
Đình, Chùa, Lăng, Miếu, Nhà Thờ,
Hoang tàn vì thuyết Tam Vô bạo tàn.
Nhân dân đói khổ lầm than,
Bởi bầy Cộng sản ác gian lọc lừa.
Nỡ nào Quốc Tổ làm ngơ,
Để cho lang sói dòng Hồ hại dân ?

 
K1-Tân Lập -Vĩnh Phú, Mùa Đông 1978
Đại Tá Nguyễn Huy Hùng