Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 NHÂN NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG THỬ GIẢI TỎA VẤN NẠN: Phải chăng Việt Tộc và Hán Tộc có chung một Ông Tổ?

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

NHÂN NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG THỬ GIẢI TỎA VẤN NẠN: Phải chăng Việt Tộc và Hán Tộc có chung một Ông Tổ?

In PDF.

Như chúng ta đã biết họ Hồng Bàng thuộc về thời Huyền Sử - thời chưa có sử được viết -  nghĩa là thời đó hoặc chưa có chữ viết, hoặc là đã có chữ viết rồi nhưng những tài liệu về những sự kiện lịch sử đó đã bị mai một do thiên tai, chiến tranh hay bị một thế lực nào đó tiêu hủy do âm mưu thâm độc của kẻ thống trị để dễ đồng hóa! Đối với Việt Nam ta, quyển sử đầu tiên của Việt Nam viết về Họ Hồng Bàng là bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn năm 1479 dưới thời vua Lê Thánh Tông (1442-1497), phần Ngoại Kỷ có chép rằng: “Đế Minh cháu 3 đời của Viêm Đế Thần Nông đã sinh Đế Nghi, sau đó lại tuần du phương nam đến núi Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên Nữ sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục thông minh, dĩnh ngộ, văn võ song toàn rất được vua cha yêu, có ý nhường ngôi cho Lộc Tục. Nhưng Lộc Tục không nhận, nhường lại cho anh là Đế Nghi. Vì thế vua Đế Minh phong cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, lại phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam. Năm Nhâm Tuất 2879 BC, Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu là  Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quỷ, đóng đô ở Phong Châu (tỉnh Phú Thọ). Kinh Dương Vương kết hôn với con gái của Động Đình Quân là Thần Long Nữ sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi cha, lấy đế hiệu là LẠC LONG QUÂN, đổi tên nước là Văn Lang và kết hôn với con gái của đế Lai tên là ÂU CƠ sinh ra một cái bọc 100 trứng nở ra 100 con trai. Một ngày kia LẠC LONG QUÂN nói với bà ÂU CƠ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó" bèn chia tay nhau. Chia 50 con cho mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển; và phong cho con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi cha. Như vậy thời đại Hùng Vương bắt đầu từ năm 2879 BC, kéo dài 2622 năm, truyền được 18 đời vua. Chúng ta có thể diễn tả dòng dõi họ Hồng Bàng từ đời khởi thủy đến đời Lạc Long Quân như sau: 
 

Kết luận: Theo bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của sử gia Ngô Sĩ Liên soạn năm 1479, đời vua Lê Thánh Tông thì: Đế Nghi/Trưởng Nam/Anh/vua nước Tàu và Lộc Tục/Thứ nam/ Em/vua nước Việt đều là con của Đế Minh, cháu 4 đời của Viêm Đế Thần Nông. Tóm lại Hán Tộc và Việt Tộc đều có cùng một ông Tổ là VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG, Hán tộc vai anh, Việt tộc vai em!

Bây giờ chúng ta thử tìm lại những chứng tích Lịch Sử và các lãnh vực khác về Khảo Cổ Học có liên quan đến vấn đề nêu trên thử xem có đúng là HÁN TỘC VÀ VIỆT TỘC CÓ CÙNG MỘT ÔNG TỔ và HÁN TỘC LÀ ĐÀN ANH, VIỆT TỘC LÀ ĐÀN EM không?
 
1./ Sử liệu về huyền thoại họ Hồng Bàng: Như chúng ta đã biết, bộ sử ký đầu tiên của Việt Nam là bộ Đại Việt Sử Ký do Lê Văn Hưu soạn theo lệnh của vua Trần Thái Tông, được hoàn thành vào tháng giêng năm 1272 dưới thời vua Trần Nhân Tông, nhưng bộ sử ấy đã bị quân Minh lấy khi chúng xâm lăng nước ta vào đời  Hồ Quý Ly. Theo những tài liệu để lại thì bộ Đại Việt Sử Ký chỉ viết sử từ năm 207, năm Triệu Đà lập nên đế quốc Nam Việt cho đến cuối đời Lý Chiêu Hoàng chứ không đề cập gì đến phần Huyền sử của Họ Hồng Bàng. Như vậy Ngô Sĩ Liên phải lấy từ một nguồn sử khác, đó là viết theo sử Tàu vì Sử Ký Tư Mã Thiên, phần Ngoại Kỷ có chép về Họ Hồng Bàng(1) 

Đến đây có thể kết luận rằng, về Họ Hồng Bàng, sử gia Ngô Sĩ Liên đã lấy gần như nguyên văn trong Sử Ký Tư Mã Thiên. Tư Mã Thiên (145-86 TCN) là một sử gia nổi danh của nhà Hán. Năm 111 TCN vua Triệu Kiến Đức, vua cuối cùng của nhà Triệu đã thần phục nhà Hán, dâng đất Nam Việt cho vua Hán Quang Vũ. Lập tức Quang Vũ đưa quân binh sang chiếm đóng và cải tổ mọi mặt để cai trị nước Nam Việt như một nước chư hầu, mở đầu thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất. Mãi cho đến năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh đuổi tên Thái Thú Tô Định. Hai Bà xưng vương và lấy lại nền độc lập tự chủ cho dân tộc Việt.
   
Kể từ đó trở về sau, có nhiều vị đã viết lại sử Việt, nhưng phần về họ Hồng Bàng thì hoặc lấy nguyên đoạn sử trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, phần ngoại kỷ hoặc dựa vào đó mà viết. Tóm lại từ trước đến nay vua quan Việt Nam đều tin tưởng rằng Thủy tổ người Việt là con cháu của Thần Nông, người được Tàu tôn xưng là một trong Tam Hoàng, khai sinh ra nước Trung Hoa, chịu phận làm em út của Hoa tộc và chịu sự khai hóa của Trung Hoa mới trở nên văn minh tiến bộ! Quan niệm nầy không phải chỉ người Hoa và người Việt cho rằng nền văn minh tại Đông Nam Á trong đó có Việt Tộc được truyền từ phương Bắc xuống Nam, tức là do người Hoa truyền dạy lại, mà cả các nhà khảo cổ Tây phương cũng tin tưởng như thế!
   
2./ Vị trí và vai trò của Việt Tộc dưới những phát kiến mới của khoa học: Theo Giáo sư Cung Đình Thanh đúc kết trong quyển “Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học” sau khi khảo sát và tổng hợp các ngành Nhân Chủng Học, Khảo Cổ học, Ngôn Ngữ học, Hải Dương học, Di Truyền Học... Đặc biệt là ngành Khảo Cổ học đã áp dụng phóng xạ carbon C14 để xác định tuổi của các đối tượng cần khảo cứu như xương người, các chế hóa phẩm do người cổ tạo ra... và nhờ vào sự tiến bộ của môn Di Truyền học, ngày nay các nhà bác học đã xác định được con đường phát triển của loài người. Nhờ thế đã đưa đến một kết luận như sau: Người Hiện Đại (Homo Sapiens-Sapiens) phát sinh từ Đông Phi Châu tiến sang vùng Trung Đông rối chia làm 2 nhánh, một nhánh tiến về phía Châu Âu hình thành Đại chủng Europoid; nhánh thứ hai tiến về Đông Nam Á khoảng 60,000 năm trước TL và chia làm 2 ngã. Một số rẽ về hướng Đông thành người ở các hải đảo Thái Bình Dương từ Indonésia đến Úc Châu. Một số khác dừng lại định cư tại vùng đồng bằng bắc Trung Phần và Bắc Phần (Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam, trang 93-94). Thời đó mực nước biển thấp hơn bây giờ khoảng 100 mét, nên vùng đồng bằng bắc Trung Phần và Bắc Phần nối liền đến tận đảo Hải Nam lập thành một bình nguyên rất rộng và màu mỡ... do đó đoàn người nầy đã định cư tại đây lâu dài và xây dựng nên nền Văn Hóa Hòa Bình, cái nôi của của loài người tại phần nầy của quả đất. “Người Hòa Bình” là tiền thân của Đại Tộc Bách Việt, đã sớm biết trồng lúa nước, luyện kim để làm các dụng cụ và khí giới, dùng đất sét để chế tác đồ gốm và thuần hóa các con vật như trâu bò để phục vụ cho việc canh tác. Danh từ “Văn Hóa Hòa Bình” được quốc tế công nhận vào ngày 30/1/1932 do Đại Hội các nhà Tiền Sử họp tại Hà Nội thông qua. Chính người Hòa Bình còn để lại nhiều di vật suốt từ thời Đồ Đá Cũ đã được tìm thấy tại Thẩm Khuyên (Lạng Sơn) có niên đại C14 = 32,100, ở Mái Đá Điều (Thanh Hóa) có niên đại C14 =19,700 -+ 150 năm BC, đến thời Đồ Đá Mới. Về sau vùng nầy có Văn Hóa Đông Sơn thuộc thời Kim Khí mà đặc trưng là Trống Đồng, nổi danh nhất là Trống Đồng Ngọc Lũ, mũi tên bằng đồng và các loại vũ khí khác; Các loại đồ sứ, gốm được truyền bá khắp châu Á...
   
Sau đó một số người từ Đông Nam Á thuộc đại tộc Nam Mongoloid mang theo nền Văn Hóa Hòa Bình đã di chuyển về hướng bắc, đến Hoa Bắc khoảng 35,000 năm BC, sang Nhật Bản khoảng 30,000 năm BC và  băng qua eo Bering vào châu Mỹ khoảng 30.000 năm BC; Họ là tổ tông của người Da Đỏ tại Mỹ Châu sau này.
    
Về lớp người qua Châu Âu có một nhánh băng qua Bắc Âu, vào Tây Bắc Châu Á, đến Sơn Tây, Thiểm Tây (Trung Hoa) khoảng 20,000 năm BC. Chính lớp người nầy lai và đồng hóa lớp người gốc Đông Nam Á lên định cư tại đây từ 15,000 năm trước, thuộc chủng tộc Bắc Mongoloid. Họ chiếm cứ vùng bình nguyên sông Hoài lập nên nước Trung Hoa về sau (TVNG VMVN, trang 35). Giống người nầy trước đây là dân du mục nên giỏi cỡi ngựa, bắn cung, rất hiếu chiến, hung hãn tham tàn và nhiều tham vọng nên sau khi lập quốc họ lần lượt đánh chiếm đất đai của các dân tộc lân cận - vốn chuyên nghề trồng tỉa, chất phác, hiếu hòa - để mở rộng biên giới, trở thành một nước hùng mạnh nhất trong vùng. Chủ trương thâm độc bất di bất dịch của giống người Hoa là dùng vũ lực xâm lăng nước khác hầu chiếm cứ tài nguyên của cải, thâu tóm chiếm đoạt các sản phẩm về trí tuệ về làm của mình, tiêu hủy tất cả các di tích về văn hóa địa phương và cấm dân bị trị giữ nếp sinh hoạt cũ, bắt buộc họ phải học theo phong tục tập quán, chữ viết... của người Hoa để dễ đồng hóa. Ngoài tham vọng thôn tính đất đai, Hoa tộc còn chứng tỏ là một dân tộc hết sức kiêu ngạo và xảo trá(2). 
    
 Có lẽ để đối phó với tham vọng nầy của người Hoa thời bấy giờ nên các bộ tộc thuộc Đại Tộc Bách Việt phải đoàn kết với nhau lập nên nước Xích Quỷ, tôn xưng Kinh Dương Vương làm thủ lãnh chỉ huy để bảo vệ bờ cõi như sử sách truyền lại, được gọi là “thời Vua Hùng dựng nước”. 

Tuy nhiên trước chủ trương xâm lăng thường trực và trước áp lực quá lớn của đế quốc Trung Hoa, một số bộ tộc trong Đại Tộc Bách Việt nằm trên đất Trung Hoa ngày nay đã bị Hoa Hán xâm lăng và đồng hóa. Tính đến năm 938 khi Ngô Quyền đánh đuổi giặc Đông Hán giành độc lập thì Đại Tộc  Bách Việt chỉ còn lại Lạc Việt với lãnh thổ từ Quảng Bình trở ra đến ranh giới các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam của Tàu! Suốt thời kỳ hơn một nghìn năm độc lập tự chủ, giặc phương Bắc đều xua quân xâm lăng đất Việt mỗi khi Trung Hoa thay đổi vương triều, nhưng mỗi lần xâm lăng đều bị quân dân Việt đánh bại một cách nhục nhã! Nhờ sự anh dũng, kiên cường và bất khuất, Dân Tộc Việt vẫn an nhiên đứng sừng sững sát nách nước Trung Hoa hùng mạnh khổng lồ và kiêu ngạo như một thách thức khó quên đối với Hán tộc qua các thời đại, và mãi đến ngày nay mưu đồ xâm lăng hầu đồng hóa Việt Nam vẫn là cuồng vọng hàng đầu của Trung Cộng! Vì thế nhân dân ta không bao giờ dại dột như tập đoàn cầm quyền Việt cộng đang kết làm anh em với lũ lang sói Bắc phương !...
  
3./ Về ảnh hưởng của hiện tượng biển tiến đối với “người Hòa Bình”: Lần biển tiến cuối cùng xảy ra sau thời băng hà Wiirm cách nay khoảng 18,000 năm, mỗi năm biển tiến trung bình 10mm, đến khoảng cách nay 8,000 năm thì có sự đột biến mực nước dâng cao bất thường, sau đó nước biển vẫn tiếp tục dâng cao thêm 2,000 năm nữa, chôn vùi những công trình của nền Văn Hóa Hòa Bình dưới đáy biển. Cư dân tại vùng đồng bằng sông Mã, sông Hồng tức Người Hòa Bình đành phải đi lánh nạn, di chuyển lên những vùng cao lân cận hay đi về hướng Tây (biên giới Lào, Thái, Miến Điện và Trung Hoa và tỉnh Vân Nam, Quí Châu...) hoặc hướng Đông và Đông Bắc (Quảng Đông, Quảng Tây, Triết Giang... có thể đến tận Hồ Động Đình), họ mang theo các khí cụ và kinh nghiệm của nền Văn Hóa Hòa Bình truyền bá cho cư dân nơi mới lập nghiệp. Đến khoảng năm 5,500 nước bắt đầu rút (trang 315, sđd).  Khoảng từ 5,000 trở về sau có một số cư dân hậu duệ của Người Hòa Bình lánh nạn Hồng Thủy lần lượt trở về tái định cư tại vùng đồng bằng sông Hồng, khởi công xây dựng nền Văn Hóa Phùng Nguyên, tiếp đến là Văn Hóa Đông Sơn đồng thời với thời kỳ gầy dựng nhà nước Xích Quỷ và Văn Lang. Sau đó còn nhiều đợt “người Hòa Bình” lại rủ nhau trở về cố hương, xây dựng lại vùng đồng bằng Bắc Phần và bắc Trung Phần vừa được “thủy thần” trả lại cho họ. Có lẽ trong những đợt “hồi hương” nầy có ông cha của Âu Cơ. Sùng Lãm Lạc Long Quân đã gặp Âu Cơ trong hoàn cảnh nầy và kết hôn với bà. Theo truyền thuyết thì Mẹ Âu Cơ sinh ra 100 trứng nở 100 con trai. Có lẽ sau đó vì nước tiếp tục rút, đất liền mỗi ngày mỗi hiện nhiều thêm ra, nhu cầu cần người chăm lo đắp đê, tháo nước... biến những đầm lầy nầy thành ruộng nương để đủ cung ứng cho dân hồi cư mỗi ngày một nhiều trở nên vô cùng cấp bách! Với tư cách là “Cha Mẹ” phải có trách nhiệm lo cho cuộc sống của con cái nên Lạc Long Quân dành phải hy sinh, bàn với Mẹ Âu Cơ, rồi dẫn 50 con trai đi về “miền biển” lo khai hoang vỡ hóa xây dựng cơ nghiệp, để lại cho Mẹ Âu Cơ 50 con trai ở lại miền “đất cũ” gần vùng núi non miền trung du và thượng du Bắc Việt để sinh sống, sau khi đã phong cho người con trưởng làm vua Hùng Vương đời thứ nhất. Cũng có lẽ vì Lạc Long Quân và Âu Cơ đã coi trọng dân, quý trọng nước, dám hy sinh hạnh phúc cá nhân, chịu sống cảnh phân ly và làm lụng vừa vất vả vừa nguy hiểm để gầy dựng cơ nghiệp cho hậu thế nên dân chúng đã cảm kích, đồng lòng tôn xưng Lạc Long Quân là QUỐC TỔ, Âu Cơ là QUỐC MẪU thay vì Kinh Dương Vương và Thần Long Nữ và truyền lại cho con cháu đời đời nhớ ơn và thờ phượng HAI VỊ!...
   
Tóm lại, kinh qua đoạn huyền sử từ thời Kinh Dương Vương lập quốc và những kết quả do các tiến bộ mới của khoa học đem lại chúng ta có thể kết luận như sau:
     
1.- Mặc dù thời kỳ Lạc Long Quân dựng nước tuy là huyền sử nhưng đem so với những di tích tìm thấy được trên địa bàn vùng đồng bằng bắc Trung Phần, Bắc Phần và một dải đất Hoa Nam đến tận Hồ Động Đình vào thời điểm từ Văn Hóa Phùng Hưng đến Văn Hóa Đông Sơn, trùng khít với công trình dựng nước và khai khẩn vùng ven biển từ Thanh Hóa đến phía bắc khi nước biển vừa rút, để xây dựng nên nhà nước Văn Lang hùng vĩ là một Công Trình có thật. Chỉ có một điều không thật, đó là “kỷ Hồng Bàng Thị” thuộc phần Ngoại kỷ trong bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên. Đây rõ ràng là âm mưu thâm độc của Hán Quan Vũ sai Tư Mã Thiên dựng lên một đoạn sử hư cấu nhằm trói buộc Việt Tộc vào với Hán Tộc và chịu chấp nhận làm phận đàn em, nhất nhất phải tuân thủ lệnh của Huynh Trưởng là Hán tộc để dễ bề khống chế và lung lạc. Vì qua những chứng tích được khoa học xác định thì người Nam Mongoloid, tức Người Hòa Bình, tiền thân của Đại Tộc Bách Việt định cư tại vùng Hoa Bắc 15,000 năm trước khi người Hoa hình thành và chiếm cứ thung lũng sông Hoài. Vả lại theo sự khảo sát của các nhà Nhân Chủng học thì Sọ của người Việt (có chỉ số sọ là 81.13, dung lượng sọ là 1341.48 thuộc loại sọ tròn Brachycephal) và Sọ của người Hoa (có chỉ số là 76.51, dung lượng sọ là 1440, thuộc loại sọ dài) hoàn toàn khác nhau. Thêm vào đó về Di Truyền Học cũng xác định các chuỗi mtDNA của Việt tộc không thể tương hợp với Hoa tộc, thử hỏi làm thế nào Việt Tộc và Hoa Tộc có cùng ông tổ là Viêm Đế Thần Nông được? Hay nói cách khác, qua những minh chứng của khoa học hiện đại Việt tộc và Hoa tộc là 2 chủng tộc hoàn toàn khác nhau, không hề có liên hệ thân tộc với nhau! Đoạn sử “Kỷ Hồng Bàng Thị” trong Sử Ký Tư Mã Thiên là một điều sai quấy có chủ mưu không nên tin!
        
2.- Từ xưa đến nay, từ kinh sách cho đến các học giả người Việt hay Âu Tây đều quan niệm rằng tất cả các nền văn minh tại Á Đông đều phát xuất từ Trung Hoa. Và người Việt là một dân tộc thấp kém, lạc hậu, nhờ người Hoa Hán khai hóa mới có được nếp sống tương đối văn minh như ngày nay. Chính vì thế người Việt luôn luôn có mặc cảm chịu thua sút người Hoa Hán trên mọi phương diện, thậm chí đến nỗi dân ta xem cái gì của Tàu cũng hay cũng đúng, cũng tốt! Ví dụ như chữ Hán được các vị có học ngày xưa gọi là Chữ Nho, vì nó là phương tiện để người Hoa truyền “Đạo Nho” sang đất Việt. Nhiều người thời trước đã tôn vinh chữ Hán quá đáng, đã trân trọng gọi chữ Hán là “chữ Thánh Hiền”, sách viết bằng chữ Hán phải được để chỗ thật trang trọng chứ không được vất bừa bãi “không nên”! Rất may là hiện nay, chỉ riêng về lãnh vực Khảo Cổ học, nhờ ánh sáng mới của khoa học chúng ta mới tiếp cận được những sự thật mà trước đó chúng ta không dám tin, vì nó trái ngược với những nhận thức được truyền lại từ bao đời nay. Để quý độc giả có cái nhìn khác về quá khứ của dân tộc Việt, chúng tôi xin trích dẫn một đoạn trong một tác phẩm nổi tiếng của một bác sĩ người Anh, Stephen Oppenheimer(3), đã nhận định về thời cổ đại của những người là tiền thân của Việt Tộc, được thế giới ngưỡng mộ đặt cho cái tên là “Người Hòa Bình”.     

Bác sĩ Stephen Oppenheimer trong tác phẩm “Eden in the East: The Drowned  Continent of Southeast Asia” (Thiên Đàng ở Phương Đông: Lục địa chìm đắm của Đông Nam Á) đã xác định và thách thức các học giả nếu có ai thay đổi được những sự kiện ông đã trình bày trong tác phẩm trên ông sẽ tâm phục. Chúng tôi xin trích dẫn một vài điểm sau đây do ông đưa ra có liên quan đến vùng Đông Nam Á, nơi “Người Hòa Bình” (tiền thân của Đại Tộc Bách Việt) đã định cư khoảng 60,000 năm trước đây: 
  
1.-“Người sống tại Đông Nam Á (lục địa bị chìm đắm dưới đáy biển trong trận Hồng thủy cách đây khoảng 8,000 năm, (tức Người Nam Mongoloid/“Người Hòa Bình” tiền thân của Đại Tộc Bách Việt) chính là người gầy dựng nên nền Văn Hóa Tân Đồ Đá (neolithic Cultures) của Trung Hoa, Ấn Độ, Meso-potamia, Ai Cập và vùng Địa Trung Hải, và do đó họ là những người cha đẻ và vun đắp các nền văn minh vĩ đại ở phương Tây”. 
  
2.-“Những dân thuộc quần đảo Polynesian không phát xuất từ Trung Hoa, mà có nguồn gốc từ Đông Nam Á”. 
  
3.-“Người Trung Hoa không phải là người sáng chế ra kỹ thuật trồng lúa. Khoảng 9,000 đến 10,000 năm về trước, một số dân thuộc vùng Đông Nam Á đã là những nhà canh nông chuyên nghiệp đầu tiên  của nhân loại (chứ không chỉ sống bằng nghề săn bắn), họ đã phát triển kỹ thuật trồng khoai và qua đó làm một cuộc cách mạng nông nghiệp”. 
    
Thế mà từ hơn 2,000 năm nay dân Việt luôn bị Hán tộc miệt thị là dân “Mọi Rợ”, và chúng đã ăn cướp biết bao nhiêu sáng kiến kiệt xuất của dân Việt đem về sửa đổi lại vài tiểu tiết rồi hãnh diện công bố đó là sáng kiến của Hán tộc, trong đó có thể cả Hà Đồ, Lạc Thư, Kinh Dịch...     
     
Dưới ánh sáng mới của khoa học được áp dụng vào ngành Khảo Cổ học và các ngành liên hệ giúp cho việc truy tìm sự thật về quá trình phát sinh con người từ thời sơ khai, về hướng phát triển của họ qua các kỷ nguyên, về các nền văn minh, văn hóa mà họ đã xây dựng từ thời thượng cổ đã bị thời gian và những biến động do thiên nhiên hay nhân tạo vùi lấp trong lòng đất, đã trả lại cho nhân loại những sự thật mà con người chưa biết hay bị lầm lẫn vì những định kiến, những mưu toan... Và nhờ vào những khám phá đó đã trả lại cho dân tộc Việt một sự thật đã bị hiểu sai hay bị bóp méo... rằng Đại Tộc Bách Việt đã từng là chủ nhân của những công trình Văn Hóa sáng chói, đó là nền Văn Hóa Hòa Bình, chẳng những là cái nôi văn hóa của khu vực Đông Nam Á, Đông Bắc Á, của cả Châu Á mà còn là cái nôi của một nửa quả địa cầu vào thời cổ đại. 

Để thay lời kết, chúng tôi xin mượn một câu trong đoạn kết của Bình Ngô Đại Cáo:
   
“Vu dĩ tuyết thiên địa vô cùng chi sỉ!!!” (Nỗi nhục xưa đã sạch làu làu!!!)

Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm tạ Giáo sư Cung Đình Thanh với tác phẩm “TÌM VỀ NGUỒN GỐC VĂN MINH VIỆT NAM DƯỚI ÁNH SÁNG MỚI CỦA KHOA HỌC” đã giúp cho chúng tôi cái may mắn là đã hiểu được một phần nào về nền văn minh của Việt tộc từ thời thượng cổ đến thời Vua Hùng Dựng Nước...
                       
Charlotte nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 AL
(mồng 1 tháng 4 năm 2017)                                                               
NT1 Trần Kim Khôi. 
-----------------------------------
Cước chú:

(1).- (Sử Ký Tư Mã Thiên chép: HỒNG BÀNG THỊ: Kinh Dương Vương. Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông. Nhâm Tuất, năm thứ nhất. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Sau Đế Minh nhân đi tuần du phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên sinh ra vua (Kinh Dương Vương). Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương. Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm con trai (tục truyền sinh trăm trứng) là tổ của Bách Việt. Một hôm vua bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi. Năm mươi con theo cha về miền Nam, phong cho con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi vua).

(2).- Họ tự xem nước họ là “Trung Quốc” văn minh nhất trong “thiên hạ” - được gọi là “văn minh Hoa Hạ” - còn các dân tộc khác là man rợ, cần được thôn tính đề khai hóa theo châm ngôn “Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy tứ phương” (tức là lấy ân huệ của Trung Quốc để an định bốn phương) và “Dĩ Hạ biến di” (lấy văn minh Hoa Hạ để khai hóa các dân tộc mọi rợ). Họ còn xảo trá chiếm đoạt các sáng kiến của dân tộc khác, rồi dùng thủ đoạn ác độc để xóa sạch di tích. Sau khi đã sửa đổi chút ít, đợi một thời gian rất lâu về sau lại đem chính những sáng kiến đã chiếm đoạt được dạy lại cho lớp hậu duệ của dân tộc đó xem như đây là một ân huệ của chúng ban cho. Lạc Việt là dân tộc bị mang cái ơn “khai hóa” kiểu đó rất nhiều lần, một trong những sự giả nhân nghĩa đó là vào thế kỷ thứ 2, Tàu cho 2 viên Thái thú Tích Quan và Nhâm Diên “dạy” cho dân Giao Chỉ và Cửu Chân nghề làm ruộng trong khi chính tiền thân của Việt Tộc là người Hoà Bình đã thuần hóa cây lúa và biết trồng lúa nước từ 9,000 đến 10,000 năm trước (Theo Eden in the East của BS Stephen Oppenheimer, trang 471, sách đã dẫn).

(3).- BS Stephen Oppenheimer (sinh năm 1947), người Anh, là bác sĩ nhi khoa, nhà di truyền học, và nhà văn. Ông là thành viên của Green Templeton College, Oxford và thành viên danh dự của trường Y học Nhiệt đới Liverpool. Ông thực hiện và xuất bản các nghiên cứu trong lĩnh vực di truyền học và thời tiền sử của con người.

*(Quý vị nào muốn rõ hơn về nguồn gốc văn minh của Dân tộc Việt, xin đọc quyển “Tìm về nguồn gốc Văn Minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học” của Giáo sư Cung Đình Thanh, nhà xuất bản Tư Tưởng, Sydney, Autralia).