Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 Art Buchwald, Richard Nixon và Henry Kissinger

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Art Buchwald, Richard Nixon và Henry Kissinger

In PDF.
“...Chiến tranh chấm dứt đã hơn... năm, nhưng trên đỉnh một ngọn núi trong tỉnh Quảng Nam vẫn còn một G.I. đang cầm súng, tiếp tục cuộc chiến đấu bị bỏ dở...”
Đó là câu khởi đầu của một bài báo tôi đọc cách đây hơn  44 năm. 
Tháng 3 năm 1973, hai tháng sau ngày chính thức im tiếng súng trong cuộc chiến Nam Bắc ở Việt Nam. BTL/SĐ23BB đóng tại thị xã Ban Mê Thuột và tôi là sĩ quan CTCT, thuộc Khối CTCT/SĐ. Không khí chiến tranh, công việc hàng ngày của một Sư Đoàn tác chiến vẫn “đều đều” không có nét gì thay đổi: Bộ Tham Mưu Sư Đoàn, các Trung đoàn chưa  rút về hậu cứ, tiếp tục có mặt tại Tân Phú, Eo Gió, Hàm Rồng...
Quân đội Hoa Kỳ tiếp tục rút quân theo Hiệp định Paris. Lực lượng địch vẫn đóng quân tại chỗ như trước ngày Ngưng bắn và “lấn đất”.
 
Với tựa đề “NAM VIỆT NAM: Những trận đánh sau cùng và cuộc vây hãm mới”, tuần báo TIME số đề ngày Thứ hai,  mồng 5 tháng Hai năm 1973, viết: 
...“Sàigòn treo cờ vàng ba sọc đỏ khắp mọi nơi, các biểu ngữ mang hàng chữ MIỀN NAM TẤT THẮNG như một lời tuyên cáo hoặc mạnh mẽ hơn nữa là câu: TOÀN DÂN ĐÓN CHÀO NGƯNG BẮN”. Song, vẫn không thấy ai tỏ ra hân hoan, hoặc thở phào nhẹ nhõm. Sáng Chủ nhật này, dù có hay không có ngừng bắn,  Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh toàn thể đồng bào của ông ta cứ sinh hoạt như thường ngày. Ý muốn nói chẳng có chuyện gì phải ăn mừng vì mọi sự có gì mới mẻ đâu - chỗ này ông đã nói đi nói lại nhiều lần trong bài nói chuyện nẩy lửa trên Truyền hình quốc gia. Ông nói “Vẫn chưa có một nền hòa bình. Đây chỉ là một cuộc ngừng bắn tại chỗ. Nếu bọn Cộng sản vi phạm nhỏ chúng ta sẽ đáp trả nhỏ. Nếu chúng đánh lớn, chúng ta  sẽ  đáp trả tương ứng”.
...“Ngay cả trước khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, những chỉ dấu lệnh này đã xuất hiện ở phi trường Tân Sơn Nhứt Sàigòn. Trong số những người Hoa Kỳ đầu tiên lên phi cơ có 110 nhân viên dân chính trước đây từng huấn luyện Cảnh sát Việt Nam, và không lâu sau đó toàn thể nhân viên Quốc phòng dân chính cũng sẽ rút theo, để lại một số lượng giảm sút liên tục gồm 1,800 nhân viên dân chính phục vụ với tư cách là những cố vấn trong nghành giáo dục và cải cách điền địa hoặc những nhân viên hợp đồng trong các lãnh vực công hay tư. Các quân đội đồng minh của VNCH đều đã sẵn sàng rút lui trong vòng 60 ngày theo quy định của lệnh ngưng bắn. Đội quân Đại Hàn chừng 35 ngàn người đang chờ lệnh. Đợt rút quân đầu tiên khá lớn gồm 23,700 quân nhân Hoa Kỳ sẽ xẩy ra trong tuần này. Tại Bộ Tư Lệnh MACV, người ta dán trên Bảng thông tin một câu lưu ý cũ nhưng rất thức thời: AI RA SAU CÙNG, XIN TẮT HẾT ĐÈN”.
Lúc bấy giờ tại thị xã Ban Mê Thuột, chỉ có một hay hai tiệm bán báo chí bằng tiếng Việt, như Nhà sách Văn Hóa trên đường...... gần rạp chiếu bóng...... Quân nhân chúng tôi không mấy ai có tiền hoặc có giờ mua và đọc các tờ báo này. Ai thích thì cứ mua các tạp chí như Bách Khoa, Văn, Mã Thượng...; ít có ai mua thẳng từ Sàigòn.
Tháng 3 năm 1973, tức là một vài tháng sau ngày Ngưng Bắn, tôi nhận được một tờ tuần báo, nay không còn nhớ rõ là TIME hay NEWSWEEK, trong đó có bài văn mà câu mở đầu  tôi ghi phía trên. 
Xin cho tôi nói thêm một chút về hai tờ tuần báo nổi danh này. 
TIME do Henry Luce xuất bản năm 1923, bìa khung màu đỏ, giấy mỏng gọi là giấy Thánh kinh. Bài vở có vẻ bảo thủ, nhưng lượng thông tin rất cao, nên đọc rất thích.
 
NEWSWEEK do Thomas J.C Martin xuất bản năm 1933. Một khung hình chữ nhật nằm ngang phía trên đầu trang bìa, in một màu xanh, lục, đỏ v.v... trên chạy tên NEWSWEEK màu trắng. Giấy dày hơn giấy in báo TIME, bài vở không bảo thủ, có thiên hướng điều tra, sắc sảo và hay gây tranh luận.
Chiến tranh ngày càng dữ dội, trước khi ngưng bắn, cũng giống tình trạng các báo, tạp chí Việt ngữ khác, chính phủ VNCH cũng có lúc kiểm duyệt kín đáo các tờ báo, tuần báo của Hoa Kỳ. Bằng chứng là nhiều tuần, chúng ta không thấy TIME hay NEWSWEEK gởi về nhà cho độc giả mua dài hạn. Tôi đặt mua tuần báo TIME hay NEWSWEEK, mỗi năm đâu khoảng $1.500VN. Măng-đa đề tên Bookstore tại Passage Eden, Sàigòn. Tôi đã mua báo TIME hay NEWSWEEK lúc đó? Như sau đây các bạn sẽ thấy, tôi không chắc chắn là thứ nào.  
Ừ thì cứ cho là tờ TIME đi vì trong ký ức, lúc nào tôi cũng  ngửi thấy mùi thơm thơm của giấy và mong manh của tờ TIME cả.
 
Tuần có, tuần không, tờ tuần báo là niềm vui nho nhỏ, mang chút không khí phương xa đến chốn xa xôi. Tôi có thói quen đọc TIME từ lúc còn dạy học ở Nha Trang. Đến khi vào Trường Đại Học CTCT, tôi vẫn có dịp đọc theo dõi hàng tuần công cuộc tìm bắt “Che” Guevara khắp thế giới và sau cùng chộp được hắn ở Bolivia, Nam Mỹ. 
Tuần lễ đó, đi làm về tôi nhận được tuần báo, rất mừng là không bị mất ở đâu đó. Các bạn nên nhớ nhé, lúc đó, tuy đã có lệnh ngưng bắn, Sư Đoàn chúng tôi vẫn còn đóng quân mạn Bắc Quân Khu II, chiến tranh  chưa ra khỏi tâm trí mỗi người. 
“...Chiến tranh chấm dứt đã hơn... năm, nhưng trên đỉnh một ngọn núi trong tỉnh Quảng Nam vẫn còn một G.I. đang cầm súng, tiếp tục cuộc chiến đấu bị bỏ dở...”
Đọc câu chuyện bắt đầu như trên, được in trên một trang khổ 73/4 x 101/2 về một anh lính Mỹ một mình tiếp tục chiến đấu trên núi cao, sau khi đồng đội đã rút vế nước - nhiều năm rồi và chiến tranh cũng đã chấm dứt từ lâu rồi - nghe thật là bi hài. 
Chính nét bi hài này làm câu chuyện - nếu gọi được như thế! - cứ theo tôi từ đó đến nay, kể cả những ngày trong trại tù. Có một điểm khác làm tôi lưu ý: Art Buchwald, ông này là ai? và loại văn này vừa khôi hài vừa thời sự ta gọi là gì?
Art Buchwald (1925-2007), tác giả bài viết, là một người giữ mục “Paris After Dark” cho nhật báo New York Herald Tribune (1949) và mục “Mostly About People”(1951) là hai cột mục rất ăn khách các độc giả đôi bờ Đại Tây dương. Năm 1962, Buchwald trở về Hoa Kỳ, viết cho tờ The Washington Post và các bài viết của ông đã ký bán cho hơn 550 tờ báo lớn nhỏ khắp nước. 

Buchwald có tài đặc biệt viết châm biếm chính trị, dùng lời lẽ châm chọc nhiều lớp chính trị gia, những quan sát “không giống ai” của ông, making Buchwald an icon to millions of readers . Hai nhân vật sau này Buchwald hay nhắc đến là Richard Nixon và Henry Kissinger. Nói về R. Nixon, Buchwald viết:“Tôi tôn thờ cả khoảnh đất lún dưới bước chân của ông ta”. Cho nên trong lời nói cuối cùng của một Tổng thống, Nixon nói:“Từ này tôi không còn là quả bóng ai muốn đá đi đâu thì đá nữa...”.
Còn nhân vật thứ hai; Henry Kissinger, Buchwald không xem thường nhưng cũng không kính trọng. Xem các bài viết về ông này, chúng ta thấy Buchwald không bỏ lỡ cơ hội để mô tả mọi tính cách, thói quen hay ngôn ngữ của Kissinger. Kể cả chuyện tình ái... hào nhoáng của nhân vật  này. 
Dưới con mắt của người Việt - “nạn nhân” của nhà ngoại giao lừng lẫy thời chiến tranh - Kissinger là người chuyên xài bá đạo; miệng không bao giờ nói chuyện nhân nghĩa hão như tự do cho những dân tộc muốn dân chủ, bảo vệ người nghèo, chống xâm lược... Ai không nhớ câu nói bất hủ năm 1975, khi miền Nam Việt Nam sắp sửa rơi vào tay Bắc Việt: “Sao chúng không chết đi cho rồi!”.
Xin nói qua một chút về cái ta thường gọi là cột mục (column) trong một tờ báo hàng ngày. Báo ngày khổ lớn thường được chia ra nhiếu nhất là 6 cột. Báo ngày hoặc tuần khổ bằng nửa báo ngày (tabloid) mang khoảng 4 cột là nhiều nhất. Một cột báo được viết theo hai hướng chính: hoặc chuyên về một lãnh vực đặc biệt chuyên môn như thời trang, canh nông, sưu tầm tem... và hướng khác là sinh hoạt hằng ngày: hội hè, đình đám, chính trường, các sự kiện mọi người đang nói tới... 
Với hướng thứ nhất, người phụ trách không cần một tài năng đặc biệt gì miễn viết đúng văn phạm, kiến thức liên quan được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, có một chút dí dỏm thì càng tốt.  

Hướng thứ hai thì khác. Vì là chuyện đời hàng ngày nên người viết khó viết cho thực “ăn khách” nếu không có kiến thức rộng rãi, không quen biết nhiều người - đặc biệt là những người nổi danh tốt hoặc xấu (famous hay notorious) - và nhất là phải có cách nhìn, cánh đánh giá, cách suy luận không-giống-ai . Ngày xưa, ở miền Nam Việt Nam, chúng ta từng đọc các mục “Ao thả vịt”, “Tư Trời biển”, “Nói hay đừng”... Cho đến nay, những bài báo nho nhỏ ấy không thấy ai thu thập và in lại thành tác phẩm, và cũng không có ai nổi danh chuyên viết “loại” văn châm biếm này. 
 
Ở Hoa Kỳ này thì khác. Mà nổi tiếng nhất là hai người: Art Buchwald và Erma Bombeck.
Tôi chưa từng đọc Erma Bombeck, nhưng tôi có đọc và mua rất nhiều sách của Buchwald.
Có gì lạ đâu! 
Chả là nhớ lại chuyện xưa cũ, những gì tôi đã sống qua, vui buồn trong đời thường cũng như đời quân ngũ, lúc ở quê nhà, lúc ở trại tỵ nạn; những bài báo, những cuốn sách từng đọc;  những khuôn mặt không thể nào quên. Cũng như các bạn của chúng tôi, tôi mất rất nhiều thứ khi chiến tranh chấm dứt!
Sang quê hương mới, tự nhiên tôi rơi vào hoàn cảnh “à la recherche du temps perdu” .
Bạn cũ, có người tôi tìm và liên lạc được; sách vở tôi từng có trong tay, lại cũng có khi may mắn kiếm được.
Không ở đâu sách vở viết bằng tiếng Anh - loại sách cũ, đã có người đọc rồi, theo tôi, - rẻ như ở Hoa Kỳ này! Ví dụ trong thời gian ngắn, tôi cần sách của Art Buchwald, tôi đã mua hơn  chục cuốn qua internet!
Mua làm gì mà nhiều vậy, có thể các bạn của tôi sẽ hỏi thế.
Xin thưa: Mua để tìm cho được bài báo năm xưa có câu chuyện người G.I tôi kể phía trên đây.
Sau khi tìm mà không thấy, tôi bèn đến thư viện thành phố. Thư viện Anoka nằm bên kia sông Mississippi, TB Minnesota, có một số microfilm chụp đầy đủ các số báo Time và Newsweek những năm 1973, 1974... Tôi đã cố ý tập trung vào năm 1973, tháng 3, 4 và tháng 5.
Hai, ba lần đến đều mang lại thất vọng: Time và Newsweek  hàng tuần trước đây và có thể cả bây giờ, phát hành toàn thế giới bằng 3 hoặc 4 ấn bản, mỗi ấn bản in tại mỗi khu vực như Á châu, Âu châu, Phi châu (?). Thời chiến tranh ở Việt Nam, ấn bản Time hoặc Newsweek được in tại nhà máy in (?) Toppan, đặt ở Hongkong. 
Do đó, có thể nội dung mỗi ấn bản có khi khác nhau, tôi không tìm ra bài tôi muốn tìm. Chuyện xem ra có lý nhưng cũng không có lý vì đề tài đâu phải là không thích hợp cho độc giả Hoa Kỳ?
Tôi lại thử tìm trong Hồ sơ lưu trữ (Archives Vault) các số báo Time từ năm 1923 trên internet. Từng tuần một, tôi đều đọc lướt qua. Vẫn không thấy. Cuối cùng, tôi kết luận: Nó phải được đăng trên tờ Newsweek mà thôi! Thực ra, nhớ lại, tôi đã order tờ Newsweek khi còn ở Ban Mê Thuột.
Tôi lại thu hẹp cuộc truy tìm. Tôi lại suy luận, tôi lại, tôi lại...
Các bạn sẽ tự hỏi: Thằng cha này khùng hay sao mà lại đi tìm một bài báo nhỏ mọn, chẳng ai chú ý và xưa đến hơn 40 năm?  
Câu chuyện nó như thế này:
“Chiến tranh chấm dứt đã hơn... năm, nhưng trên ngọn núi...  trong tỉnh Quảng Nam vẫn còn một G.I. đang cầm súng, tiếp tục cuộc chiến đấu bị bỏ dở. Chính phủ Việt Nam mới, tìm mọi cách đế nói với anh G.I. ngoan cố rằng thì là chiến tranh chúng mày đã thua rồi, hãy bỏ súng xuống và cút về nước đi. Anh G.I. vẫn không chịu buông súng và hễ “địch” tiến lên anh đều bắn không sót một tên nào!
Thấy vậy, Việt Nam mới liên lạc và mời người mẹ của anh G.I. đến thuyết phục hầu dẫn con về xứ. Người ta đưa người mẹ lên gặp con. Hai mẹ con đối đáp như sau:
- Thôi con à! Chiến tranh đã chấm dứt mấy mươi năm nay rôi. Con hãy về với mẹ đi con!
- Không được đâu mẹ à! - Người con nói - Con phải chống bọn Cộng sản để bảo vệ nước Hoa Kỳ của con...
- Con không bảo vệ được đâu! - Người mẹ nói nhanh.
- Vậy thì con chiến đấu để bảo vệ bờ biển của chúng ta.
- Cũng không được đâu con, vì chúng chiếm các bờ biển của chúng ta rồi.
- Con chiến đấu để giữ các trường đại học...
- Cũng không được đâu con. Chúng đã đến đó rồi!
- Để giữ các sân dã cầu...
- Chúng cũng đến những chỗ đó rối! - Người mẹ chán nản trả lời.
Nghe đến đây, người G.I. cuối cùng bật khóc và thỏ thẻ với người mẹ thân yêu:
- Đã vậy rồi, mẹ con mình đi về thôi!
- Ấy! Đâu có được con! 
Anh G.I. thắc mắc hỏi:
- Tại sao vậy mẹ?
Người mẹ ôn tồn trả lời:
- Chúng ta phải bay ra Hà Nội để dự lễ khánh thành pho tượng Kissinger!!”.
Một câu chuyện như thế này chắc chắn phải do Art Buchwald viết. Có điều đến nay, tôi vẫn không cách nào tìm ra được nguyên bản nên chỉ kể lại theo trí nhớ.
Nhưng chắc chắn nó phải có thật, đã in trên báo, tại Á châu, trong chiến tranh, năm 1973, sau Ngừng bắn.
Chỉ có vậy thôi mà cũng ồn ào!
                                                                   
Nguyễn Tư-Cao
3/2017