Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 VẤN ĐỀ BẢO VỆ SĨ DIỆN QUỐC GIA

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

VẤN ĐỀ BẢO VỆ SĨ DIỆN QUỐC GIA

In PDF.
Bất cứ một đất nước nào dù lớn, dù nhỏ, dù giàu, dù nghèo cũng đều được cư dân của mình tôn trọng và yêu quý. Sự trân quý của dân chúng đối với quốc gia là một tình cảm thiêng liêng và tự nhiên mà không một dân tộc nào không có. Vì thế việc bảo vệ thanh danh của đất nước mình là một nghĩa vụ đối với mọi người dân. Trong trường hợp danh dự của đất nước bị xâm phạm thì người dân phải đứng ra bảo vệ bằng mọi cách, mọi giá. Có khi phải chịu hy sinh chính bản thân mình để bảo vệ. Sự hy sinh nầy là một việc làm cao quý, nên được mọi người trân trọng.
  
Riêng đối với đất nước Việt Nam chúng ta, một đất nước không may nằm sát một nước lớn gấp nhiều lần, lại kiêu ngạo và đầy tham vọng, đó là nước Trung Hoa, thường được dân Việt gọi là Tàu. Nước Tàu, sau thời gian đô hộ nước Việt trên một ngàn năm, với chế độ cai trị vô cùng hà khắc và âm mưu thâm độc tiêu diệt mọi văn hóa Việt tộc hầu mong đồng hóa, nhưng trước sự đấu tranh kiên cường của Tổ Tiên ta, họ đã thất bại. Từ đó nước Tàu luôn dòm ngó nước Việt ta, cho nên việc bảo vệ  đất nước là một nhiệm vụ trường kỳ, không lúc nào thiếu cảnh giác. Sự bảo vệ nầy thường được thể hiện dưới hai hình thức chính:Võ và Văn. 
    
- Võ: Dùng quân sự để ngăn chận sự xâm lăng của Hán tộc - dân tộc Tàu/Trung Hoa phát xuất từ đời nhà Hán (203TCN - 220), về sau từ “Hán tộc” được đồng hóa là dân tộc đông nhất và quan trọng nhất nắm quyền cai trị nước Trung Hoa từ thời bấy giờ đến mãi về sau nầy - hầu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Đại Việt.
   
Về chiến tranh thì từ trận Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, chém thái tử Hoằng Thao trên sông Bạch đằng năm 938 mãi đến thời Quang Trung Nguyễn Huệ đánh tan 30 vạn quân Thanh năm 1789, triều đại nào của Tàu chúng cũng xua quân xâm lăng nước ta nhưng đều bị thảm bại. Như: Đời nhà Lý: Tháng 10 năm 1075 Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân đánh chiếm 2 châu Ung và châu Khâm. Tháng 12/1075 vây hãm châu Liêm. Tháng 2/1077 quân ta lại thắng trận Sông Như Nguyệt khiến Triệu Tiết và Quách Quỳ phải xin giảng hòa. Đời nhà Trần 3 lần thắng quân Nguyên: Lần thứ nhất: Đánh tan quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu khiến Ngột Lương Hợp Thai phải vội rút quân về. Lần thứ hai: Tháng 5/1285 đánh tan 50 vạn quân Nguyên ở Chương Dương, Tây Kết, Hàm Tử, Thăng Long, chém Toa Đô trên sông Bạch Đằng, Thoát Hoan phải rúc vào ống Đồng nhờ quân lính khiêng đi mới thoát thân được. Lần thứ ba: Tháng 4/1288 lại thắng quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, Ô Mã Nhi bị bắt, Thoát Hoan chạy thoát về Tàu.

Đời nhà Lê: Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn năm 1418. Năm 1426 vây hảm Tổng binh Vương Thông tại thành Đông Quan. Tháng 9-10/1427 chém Liễu Thăng tại núi Mã Yên, Chi lăng và đánh tan tác 10 vạn quân Minh tại Lạng Giang, Lạng Sơn, Xương Giang, Bình Than. Quân Minh phải xin giảng hòa, kết thúc chiến tranh. Lê Lợi cấp hạm và ngựa cho tù binh Tàu hồi hương.
      
- Văn: Về văn học thì trong suốt quá trình lịch sử từ thời nhà Lý trở đi, nước đại Việt theo đường lối ngoại giao uyển chuyển nên tiếp tục thông sứ với Tàu. Trong những lần trao đổi sứ, 2 bên thường dùng văn chương chữ nghĩa để thử tài nhau đồng thời cũng nhân đó “khẩu chiến” để “sát phạt” nhau. Vua quan Tàu luôn luôn làm Thơ hay ra câu đối để chế nhạo nước ta là một nước nhỏ phải thần phục nước Tàu, còn sứ thần nước ta thì luôn luôn tìm cách ứng đối để xiểng dương tinh thần bất khuất của Dân Tộc Việt, bảo vệ thể diện quốc gia dân tộc Việt!

Sau đây là một số sự kiện:
  
* Năm 987 nhà Tống sai Lý Giác đi sứ nước ta. Vua Lê Đại Hành sai thiền sư Pháp Thuận cải trang thành người lái đò để chở sứ Lý Giác sang sông. Khi đang ngồi trên thuyền qua sông Lý Giác thấy cặp ngỗng trắng thảnh thơi bơi lội, đầu ngẫng cao. Lý Giác ứng khẩu đọc 2 câu thơ:
                                     
“Nga nga lưỡng nga nga
“Ngưỡng diện hướng thiên nhai”
 Ngỗng ngỗng hai con ngỗng, 
Ngước mặt nhìn về phía chân trời (phương bắc).

Ý muốn ví dân chúng Đại Việt như 2 con ngỗng đang ngẩng đầu hướng về (bái yết) thiên triều. Biết ý của Lý Giác, thiền sư Pháp Thuận bèn đọc tiếp 2 câu:
                                     
“Bạch mao phô lục thủy                                     
Hồng trạo bãi thanh ba”

Bộ lông trắng phô bày trên giòng nước xanh, 
Hai mái chèo hồng làm chao động làn sóng biếc.

Hai câu thơ tiếp theo của thiền sư Pháp Thuận đã làm thay đổi ý đồ của Lý Giác, thay vì để đề cao sự tôn quý của “thiên triều”, buộc thần dân khắp “thiên hạ” phải hướng về để ngưỡng phục, trở thành một bài thơ tả cảnh rất nên thơ: Đôi ngỗng bơi lờ lững trên sông, đầu ngẩng lên trời, phô hai bộ lông trắng nuột trên giòng nước xanh lơ, đôi mái chèo xinh xắn màu hồng đang khua động làn sóng biếc! Một trận “khẩu chiến” thật ôn nhu, thanh thoát khiến Lý Giác phải tâm phục không còn dám mở lời khinh thị! 

* Có giai thoại kể rằng: Vào thời chúa Trịnh sứ nhà Thanh sang nước ta. Chúa Trịnh biết sứ nhà Thanh thường kiêu ngạo và hống hách nên phải chọn người đón khách. Biết Cống/Trạng Quỳnh và bà Đoàn thị Điểm là hai nhân vật thông minh lại “đáo để” nên chúa bèn sai đi đón sứ Tàu. Bà Điểm đóng vai cô hàng nước, trạng Quỳnh đóng vai lão chèo đò.
   
Vì sứ nhà Thanh đi dường xa đã thấm mệt bèn ghé vào quán nước để giải lao, nhìn thấy cô hàng nước đang độ thanh xuân, dễ nhìn nhưng trông có vẻ khó bắt chuyện, sứ bèn giở thói kênh kiệu đọc một câu đối để châm chọc cô hàng:
      
“Nam bang nhất thốn thổ, Thiên hạ kỷ nhân canh?”
Nước Nam có một tấc đất không biết đã bao nhiêu người cày.

Nghe sứ dùng lời sống sượng đối với nữ lưu, bà Điểm quyết ra đòn cay độc để trả đũa, bèn đối lại:
     

“Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất”.

Các quan to của nước ở phương bắc [nước Tàu] thảy đểu từ chỗ ấy chui ra.

Sứ nhà Thanh không ngờ môt cô bán hàng nước ven đường lại thông minh tài giỏi và có khẩu khí ngoan cường đến thế, nên dù bị đánh trả một vố quá đau, sứ nhà Thanh vẫn phải vừa thán phục vừa gườm con gái nước Nam. Tuy đã bị cô hàng nước cho chui từ trong “đồ” ra, nhưng sứ vẫn không chừa thói kiêu căng xấc láo, nên khi đi đò qua sông sứ lại cố “đánh rắm” một tiếng thật to rồi buộc miệng nói:
     
“Lôi động nam bang”.  
Sấm dậy nước nam.

Quỳnh thấy sứ xổ ngón thấp hèn, hạ cấp nên không còn cả nể nữa bèn vén quần quay người về phương bắc đái vòng cầu rổn rảng xuống sông, miệng hô to:
      
“Vũ qua Bắc quốc”. 
 Mưa tuôn đất bắc.

Ăn miếng trả miếng, nhưng miếng trả của cô hàng nước Đoàn Thị Điểm và chú lái đò trạng Quỳnh còn nặng hơn “bom tấn” thời nay! Thật đáng đời mấy tên “con trời” hợm hĩnh, xất láo!
     
* Đi sứ Tàu: Vì nước ta quá nhỏ so với nước Tàu, nên dù mỗi khi giặc Tàu phương bắc xâm lăng nước ta đều bị vua quan ta đánh cho tơi tả, thế nhưng sau đó vẫn phải làm hòa với chúng và lắm lúc còn phải tiến cống một số loại phẩm vật cho chúng để giữ hòa khí, giúp cho dân chúng được an cư lạc nghiệp. Để thi hành các hoạt động ngoại giao tế nhị đó vua nước ta phải chọn những người học cao hiểu rộng và nhạy bén trong việc ứng đối với vua quan nước Tàu vì chúng luôn luôn hách dịch, tìm cách hạ nhục nước ta. Trong một vải trường hợp vị sứ giả của ta phải bị giam cầm hay bị bức tử vì can đảm chống lại các hành vi xúc phạm đến danh dự của vua nước ta. Xin đơn cử 2 vị sứ giả nổi tiếng của nước ta khi đi sứ sang Tàu đó là Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi và Song Nguyên Thám Hoa Giang Văn Minh .

1./ Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi (1280 -1346): Mạc Đỉnh Chi là một người thông minh xuất chúng, văn tài lỗi lạc và ứng đối thần tình. Ông đỗ đầu khoa thi Thái Học Sinh năm 1304 dưới thời vua Trần Anh Tông nên được xưng tụng là Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi. Tuy thông minh quán thế nhưng tướng ông xấu nên vua Trần Anh Tông chê không phong chức. Ông bèn làm bài phú “Ngọc tỉnh Liên” tự ví mính là cây sen trong giếng ngọc dâng lên vua, vua Trần Anh Tông xem xong khen hay liền thăng làm Thái học sinh dũng thủ, sung chức Nội thư gia.

Năm 1308 Mạc Đĩnh Chi được vua sai đi sứ nhà Nguyên. Tiếng tăm của ông vang dậy đến cả bắc phương nên vua quan nhà Nguyên đã sửa soạn sẵn những câu đối hóc búa trước để thử tài ông, và cũng nhân dịp đó để hạ nhục ông, làm ô danh nước Đại Việt nếu ông không ứng đối được. Nhưng với khí phách và tài năng xuất chúng, Mạc Đỉnh Chi đã khuất phục được vua quan triều Nguyên, do đó ông được Nguyên Vũ Tông ban cho học vị Trạng nguyên nên Mạc Đỉnh Chi được gọi là Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.
  
Sau đây là một số giai thoại về việc đối đáp với vua quan Nguyên triều trong thời gian trạng Mạc Đỉnh Chi đi sứ  sang Tàu.
     
- Thử tài ngay tại cửa ải: Khi ông dẫn đoàn tùy tùng đến ải Pha Lũy (ải Nam Quan về sau) trình giấy tờ xin qua ải thì viên tiểu quan gác cửa ải đưa cho ông một câu đối viết sẵn trên giấy, nói với ông rằng quan Trấn ải có dặn nếu ông đối được thì mới mở cửa cho ông qua ải.

Câu đối ra như sau:

“Quá quan trì, Quan quan bế, thỉnh quá khách quá quan”.
Qua cửa ải trễ, quan coi cửa ải đóng cửa, mời khách qua cửa. 

Câu nầy có 3 chữ “quá” và 4 chữ “quan”, rất khó đối. Tuy nhiên với tài ứng biến ông liền đọc một câu đáp lại:

“Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối”. 
Ra câu đối thì dễ, đối câu đối thì khó, mời tiên sinh đối trước. 

Câu nầy có 2 chữ “tiên” và 4 chữ “đối” giống như để đáp lại câu đối được ra tức là về hình thức thì là một câu đối để đáp lại câu đối được ra của viên quan, nhưng theo phép đối thì không chỉnh, vì câu “xuất” nói về tình trạng qua cửa ải trễ, nên câu đối đáp lại cũng nói về một tình trạng nào đó tương tự mới đúng cách! Do đó Mạc Đỉnh Chi đã khôn khéo không xem đây là một câu đối, mà chỉ “luận” về sự khó dễ của câu đối “xuất” cùng câu đối đáp lại, và mời “tiên sinh” đối trước câu đối đã ra. Do đó viên quan coi cửa ải không thể bắt bẻ ông đối không “trúng cách”. Vả lại, nếu xét về sự thông minh quyền biến thì cũng phải phục ông vì chỉ trong chốc lác mà ông đã nghĩ ra một câu “đối” khá hay. {Tuy còn kém câu ra vì câu “xuất” (của viên quan coi cửa) có đến 3 chữ “quá”, đáng lẽ phải đối lại đủ 3 chữ “tiên”! Nên có người đề nghị câu đối như sau: “Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên sinh tiên đối”. Câu nầy chỉ “khá” hơn nhờ tìm đủ 3 chữ “tiên”, tuy nhiên xét về ý nghĩa thì không ổn! Vì nếu dùng “tiên đối dị” thì đoạn tiếp phải là “hậu đối nan” mới chỉnh. Vả lại câu nầy không rõ ràng, có thể hiểu lầm rằng có nhiều người cùng “đối” câu đối “xuất” của viên quan coi ải!}
    
- Khi đến kinh đô, ông dùng lừa đi thăm thú các thắng cảnh thì bị một viên quan địa phương (có lẽ là người Hán chứ không phải người Mãn Thanh) có vẻ ngạo mạn, gò ngựa đi sát bên ông và đọc một câu đối: 

“Xúc ngã kỵ mã, Đông di chi nhân giả, Tây di chi nhân giả”. 
Đụng con ngựa của ta, đó là người rợ phương Đông hay rợ phương Tây? 

Vì người Hoa rất kiêu ngạo, họ tự coi mình ở “trung nguyên” mới là người văn minh, còn bốn phía đều là mọi rợ. Nên họ gọi khinh miệt các dân tôc đó là: Đông di, Tây nhung (khuyển nhung), Nam man, Bắc địch (狄: có bộ khuyển bên cạnh)…
  
Ông bèn đối lại chỉ sau một phút suy nghĩ:

“Át dư thừa lư, Nam phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư?”   
Lấn con lừa ta cỡi, xem thử Nam phương mạnh hay Bắc phương mạnh?

(Nếu Bắc phương mạnh thì sao bao nhiêu lần xâm lăng đều bị quân dân ta đánh cho chạy trối chết!?). Vẫn là khẩu khí của một dân tộc bất khuất, tuy có kín đáo nhưng không mất đi vẻ tự hào tiềm ẩn!
     
- Khi vào triều đình nhà Nguyên để yết kiến vua Nguyên là Nguyên Vũ Tông. Trong khi chờ đợi vua lâm triều, triều thần nhà Nguyên xúm nhau ra câu đối để thử tài ông. Chỉ xin đơn cử vài câu đối có ý lăng mạ, xỏ xiên ông hay dèm pha nước ta. 
    
* Một viên quan đại phu thấy ông nhỏ con, tướng mạo không lấy gì làm oai vệ bèn ra câu đối “chiết tự” như sau:                    
  
“Lỵ (魑), Mỵ (魅), võng(魍),lượng(魎) tứ tiểu quỷ” (Đây là tên của 4 con quỷ, nhưng có ý bỡn cợt ông nên ra câu đối: Lỵ, mỵ, võng, lượng là 4 con quỷ nhỏ), vì các chữ lỵ, mỵ, võng, lượng trong mỗi chữ đều có một chữ quỷ (鬼) nhỏ nằm bên trái. Ý của viên quan nầy chê tướng mạo của Mạc Đĩnh Chi loét choét, xấu như con quỷ nhỏ.
  
Mạc Đỉnh chi đáp ngay:
  
“Cầm (琴], sắt [瑟], tì bà [琵 琶]) bát đại vương” (Cầm, sắt, tì bà 8 ông vua lớn). Cầm, sắt, tì bà là tên các loại đàn, trong mỗi chữ lại có 2 chữ vương (王) nằm ở trên. Vì câu xuất có “tứ tiểu quỷ” là 4 con quỷ nhỏ nên ông đối lại là “bát đại vương” ý ông nói là ông có đến 8 ông vua mà là “đại vương” cả chứ không phải “tiểu quỷ” như các ngươi chế nhạo đâu!
       
* Một viên quan khác đầy vẻ tự đắc ra một câu đối rất hóc búa: 
  
“Quých tập chi đầu đàm Luận Ngữ: Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri!” (nghĩa là: bầy chim chích đậu trên cành cây nói chuyện về Luận ngữ: tri chi vi tri chi...) ý mỉa mai tiếng nước Việt ta nói như chim chích kêu “chích chích chi chi...”. 

Câu đối nầy ra rất khó vì lấy trong sách Luận Ngữ của Khổng tử có nghĩa là: “biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, ấy là biết vậy!” nhưng âm tiết lại toàn là âm (i) giống như tiếng chim chích kêu. Quần thần nhà Nguyên đều rất đắc ý vì khó mà tìm được một câu nào trong sách có âm tiết tương tự trong một thời gian ngắn để đối lại.(Câu nầy hẳn viên quan Tàu đã tốn khá nhiểu thì giờ để tìm tòi, và chắc là sẽ vô cùng đắc ý nếu có trường hợp đem ra thi thố tài năng! Y nghĩ rằng nếu cho thời gian rộng rãi thì may ra mới có người tìm được câu gì đó tương tự! Chứ dù gặp một người có nổi tiếng như Mạc Đỉnh Chi, mà trong chốc lác cũng chắc gì đối được!). Quần thần Nguyên triều tin chắc rằng Mạc Đĩnh Chi sẽ bí! Không ngờ sau vài phút suy nghĩ Mạc Đĩnh Chi liền đối:
  
“Oa minh trì thượng luận Trâu thư: Lạc dữ thiểu lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc?” (nghĩa là: Đàn ếch kêu trên bờ ao như luận Trâu thư: Vui cùng ít người (thì) nhạc vui, vui cùng nhiều người (thì) nhạc vui, đằng nào vui hơn?). 

Câu nầy rút ra trong Trâu thư (tức sách của Mạnh Tử, người nước Trâu thời Chiến quốc) phần luận về tấu nhạc: Nên tấu cho ít hay cho nhiều người nghe thì vui. Cái khó là trong một thời gian ngắn mà Mạc Đĩnh Chi tìm được câu nầy, đúng là một tay học rộng, tài cao, thông minh tuyệt đỉnh và có trí nhớ siêu phàm! Thêm cái hay và thâm thúy là âm “ạc” trong mấy chữ “lạc, nhạc..” đặt liên tiếp nhau, khi đọc lên nghe một tràng  tiếng “oạc, oạc” giống như ếch kêu, mà lại cũng giống như tiếng một nhóm người Tàu đang ồn ào nói chuyện với nhau! Ví người Tàu nói chuyện như tiếng ếch kêu ngay trong triều đình nhà Nguyên thật là can đảm và thú vị! (triều thần bọn bây nói chuyện ồn ào như một bầy ếch đang kêu ộp oạp!).

(Có sách ghi 2 câu nầy như sau “Quích tập chi đầu đàm LỖ LUẬN... Oa minh trì thượng độc CHÂU THƯ”. Câu nầy không đúng vì không có tập sách nào của Trung Hoa có tên là LỖ LUẬN và CHÂU THƯ cả. Có lẽ người nầy không biết Trâu Thư là gì, nghĩ là ai đó viết sai nên sửa lại là CHÂU THƯ, vì suy luận Mạnh Tử người nước Châu. Sự thực là Mạnh Tử sinh vào thời Chu Liệt Vương nhà Châu, nhưng ông là người nước Trâu, một nước nhỏ cạnh nước Lỗ, về sau bị Lỗ thôn tính. Trâu Thư là để chỉ tác phẩm của Mạnh Tử (Như trên đây người nầy dùng chữ LỖ LUẬN vì Luận Ngữ là của Khổng Tử, người nước Lỗ. Đây là một lối suy luận gượng ép mà các nhà khảo cứu XNCHVN hay áp dụng bất kể đúng/sai!).
    
* Khi yết kiến vua nhà Nguyên là Nguyên Vũ Tông, Nguyên đế có ra câu đối hàm ý rất hách dịch:

“Nhật lô vân hỏa, bạch đán thiêu tàn ngọc thố” (nghĩa là: Lấy mặt trời làm lò, lấy mây làm lửa, buổi sáng sớm sẽ đốt cháy ngọc thố,  tức con thỏ ngọc, được ví là mặt trăng). 

Vì ánh sáng ban mai sẽ làm nhòa đi mặt trăng. Ý của vua Nguyên là nước lớn như nước Tàu sẽ đốt thiêu nước nhỏ như Đại Việt một cách dễ dàng.

Mạc Đỉnh Chi bình thản đối lại:
  
“Nguyệt Cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô” [Dùng mặt trăng làm cung, sao làm đạn, chiều tối sẽ bắn rụng mặt trời. (Trăng lưỡi liền có hình giống như hình cái cung, Các ngôi sao trông như hình những viên đạn)]. 
Vì khi trăng lên thì mặt trời lặn mất (kim ô là con quạ vàng, để chỉ mặt trời). Hàm ý nói nước Việt dù nhỏ vẫn có thể đối địch được với nước lớn như Tàu! 

Lời đối đáp chứng tỏ Mạc Đĩnh Chi là người có khí phách hiên ngang không chịu nhượng bộ vua Nguyên. Tuy Nguyên Vũ Tông bực tức nhưng câu đối rất chuẩn không thể thừa cớ để bắt tội.

  2./ Thám Hoa Giang Văn Minh (1573-1639): Ông đỗ Đình Nguyên Thám Hoa khoa Mậu Thìn (1628) dưới đời vua Lê Thần Tông. Năm 1637 ông được vua cử làm phó sứ sang Tàu. Khi sang yết kiến vua nhà Minh là Sùng Trinh Minh Tư Tông, ông vẫn giữ thái độ bình thản, không tỏ ra kiếp nhược trước Hoàng đế Tàu. Thấy thái độ hiên ngang của ông, Minh Tư Tông không ưa bèn ra câu đối để dằn mặt ông như sau:
     
“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Trụ đồng đến ngày nay hẳn đã xanh rêu). Ý muốn chế nhạo nước ta. Vì sau khi thắng 2 Bà Trưng, Mã Viện đã ra lệnh tịch thu các vũ khí làm bằng đồng kể cả trống đồng của Lạc Việt đem đúc thành một cây trụ đồng dựng trên đất Giao Chỉ, trên trụ có khắc hàng chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Trụ đồng mà bị gãy, dân Giao Chỉ sẽ bị tiêu diệt). Nay Minh Tư Tông nhắc đến “trụ đồng Mã Viện” là có ý hạ nhục đất nước/dân tộc ta. Trước sự hống hách đe dọa của vua Sùng Trinh ông khẳng khái đối lại:
    
“Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (Sông Bạch Đằng từ xưa vốn nước đã nhuộm đỏ). Hàm ý rằng sông Bạch Đằng từ xưa đã hai lần nhuộm đầy máu quân Tàu xâm lăng.
    
Ý nghĩa câu đối nầy chứng tỏ Giang văn Minh không hề nể nang Hoàng đế Sùng Trinh trước mặt bá quan văn võ, do đó Minh Tư Tông nổi giận sai lấy đường nấu sôi trám vào mắt và miệng ông rồi sai người mổ bụng ông để xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”, bất chấp luật lệ ngoại giao là phải tôn trọng sứ thần. Ông bị vua Minh hành quyết ngày 2 tháng 6 năm Kỷ Mão 1639. Xong sai lấy bột thủy ngân ướp xác ông rồi cho đưa thi hài ông trả về nước.  Khi thi hài ông về đến kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cửu ông và truy phong chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, ban tặng câu: “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng”. Ông được an táng tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm,  thọ 65 tuổi.
   
Trên đây là hai câu chuyện kể về hai vị sứ Việt rất thông minh tài trí và can đảm bất khuất là Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi và Song Nguyên Thám Hoa Giang Văn Minh nhận mệnh vua đi sứ sang Tàu, dù bị vua quan Tàu tìm mọi cách để làm nhục quốc thể nước Việt, nhưng cả 2 vị sứ đều hiên ngang đối đáp vua quan Tàu với lời lẽ khi thì khẳng khái, khi thì nhu thuận nhưng luôn luôn tỏ vẻ bất khuất, dù như Thám Hoa Giang Văn Minh sẵn sàng chịu hành hạ, kể cả lấy cái chết để bảo vệ sĩ diện quốc gia vẫn hiên ngang chấp nhận! Thật là Thiên Cổ Anh Hùng!
   
Đó là chuyện ngày xưa. Thời cận đại và hiện đại cũng có 2 vị đại diện cho quốc gia đi công tác ở nước ngoài, cũng bị nước ngoài xỏ xiên hay hạ nhục nhưng 2 vị nầy không đủ tài trí, đảm lược và bản lĩnh để ứng đối, làm uy tín quốc gia bị tổn thương. Đó là các vị:
   
1./ Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ (thời Đệ Nhị Cộng Hòa): Ngày 7/12/1967, ông Kỳ dẫn một phái đoàn gồm 40 chuyên viên tham dự Hòa đàm Paris. Theo báo chí thuật lại, khi phó TT Nguyễn Cao Kỳ yết kiến Tổng thống Pháp là Charles De Gaulle, De Gaulle bèn chơi chữ hỏi: “Qui est Ky?” (Kỳ là ai? Là thằng nào?), ông trả lời “Không cần biết Ky là ai, nhưng là người có vợ đẹp!”. Một câu trả lời không ăn nhập gì vào đâu cả! Chứng tỏ là người thiếu can đảm, không có bản lãnh, không biết ứng phó! Rất tiếc là đã bỏ mất một cơ hội tốt để “sửa lưng” TT Charles De Gaulle. Lý do cần sửa lưng De Gaulle là vì sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thành lập, Tổng thống Ngô Đình Diệm, với tư cách đại diện cho nhân dân Việt Nam yêu cầu quân đội Pháp rút hết khỏi Việt Nam, trả lại nền ĐỘC LẬP cho nhân dân Việt Nam. Từ đó De Gaulle trở mặt, công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CSBV), giao hảo với Cộng sản Bắc Việt và đặt tòa Đại sứ tại Hà Nội. De Gaulle thân thiện và giúp đỡ CSBV, chiều chuộng, dành nhiều ưu đãi đối với Bắc Việt nguyên là cựu thù và luôn tìm cơ hội để phá bĩnh VNCH. Câu “Qui est Ky?” là câu hỏi xỏ xiên, không xem người đại diện cho VNCH ra gì cả. Đó là một cách làm nhục quốc thể VNCH. Nếu phó TT Nguyễn Cao Kỳ là người tài trí và đảm lược sẽ trả lời De Gaulle rằng: “Tôi là người đã chiến đấu để giành độc lập cho Nhân dân Việt Nam và đã “mời” người của ông ra khỏi nước tôi!”
 
2./ Tổng thống Hoa Kỳ Obama: Ngày 4/9/2016, TT Hoa Kỳ Obama được Trung Cộng mời đến thành phố Hàng Châu để dự Hội nghị G20, nhưng khi máy bay Air Force One đáp xuống phi trường Hàng Châu thì TT Hoa Kỳ Obama và đoàn tùy tùng bị nhân viên tại phi trường nầy làm khó dễ, cãi vã, quát mắng nhân viên và cả chính vị cố vấn của Tổng thống. Họ viện lý do không có đủ thang cao để TT Obama đi xuống máy bay bằng cửa trước như mọi đại diện quốc gia khác, mà phải đi thang thấp xuống bằng cửa sau và không có trải thảm đỏ. Đây là một hành động có tính toán trước nhằm hạ thấp hình ảnh và uy thế của Hoa Kỳ, một tiểu xảo của Tập Cận Bình để làm bỉ mặt Obama và nước Mỹ. Thế mà TT Obama không đủ khôn ngoan và bản lĩnh để trả đũa Tập Cận Bình nhân dịp nầy cho cả thế giới thấy sự yếu kém thấp hèn của Trung Cộng. Trong trường hợp đó, xin đề nghị biện pháp trả đũa như sau:
 
Trước hết TT Obama ra lệnh cho tất cả nhân viên lên lại máy bay, đóng cửa lại và ra lệnh cho phần hành thông tin phải liên lạc với Tập Cận Bình để TT nói chuyện. Đồng thời cho báo chí Tòa Bạch Ốc ra một thông cáo phổ biến cho tất cả các hãng thông tấn toàn cầu biết là Trung Cộng, vì lý do kinh tế bị khủng hoảng nên không còn đủ tiền để sắm đủ thang cao theo tiêu chuẩn ngoại giao đã quy định. Chính phủ Hoa Kỳ thông cảm sự yếu kém nầy của nền kinh tế TC, nên không chấp trách sự thiếu sót nầy, và đồng ý phái đoàn Hoa Kỳ sẽ chờ trên máy bay Air Force One trong một tiếng đồng hồ để TC tìm thang đúng tiêu chuẩn đem đến cho phái đoàn Hoa Kỳ xuống máy bay đi dự họp. Để khỏi trở ngại cho việc họp, phái đoàn Hoa Kỳ có thể tham dự họp bằng telecon. Nếu TC không còn cách nào xoay xở để có thang cao đúng tiêu chuẩn, Hoa Kỳ sẽ điều động phương tiện thích ứng để chở thang máy bay từ Hoa Kỳ sang hay mượn của Nhật Bản. Phái đoàn Hoa Kỳ chỉ xuống máy bay khi nào TC cung cấp thang đúng tiêu chuẩn ngoại giao quốc tế và các thủ tục cần thiết khác như đã trao đổi giữa hai phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ và Trung Cộng trước khi TT Obama chấp thuận đến dự Hội nghị G20. Và đề nghị nước chủ nhà hãy trình bày thật những yếu kém, khó khăn đang gặp phải để hoặc đích thân Hoa Kỳ cứu giúp hoặc vận động thế giới mở rộng vòng tay giúp đỡ cho...
     
Phải có hành động đáp trả thích đáng như thế mới “dạy” cho Tập Cận Bình bài học xứng đáng để y bỏ trò tiểu xảo thấp kém đồng thời cũng để dằn mặt TC về thói kiêu ngạo lỗi thời nầy. 
   
Thân là một nguyên thủ quốc gia có vị thế đứng đầu thế giới, bị Tàu chơi trò tiểu xảo “xỏ lá” mà Obama vẫn ngậm miệng chịu đựng là tự mình làm mất thể diện quốc gia chứ không phải chỉ mất mặt riêng cho cá nhân ông như Obama đã nghĩ và hành động! Được biết Obama tiếp xúc với các nguyên thủ quốc gia khác thường tỏ thái độ “khúm núm” qua cử chỉ “khấu đầu” học lóm của văn hóa phương Đông. Đây là một hành động không cần thiết, không nên làm! Báo chí gọi lối “trình diễn” khấu đầu khi bắt tay của Obama là “chính sách khấu đầu” (“Obama’s Kowtow policy”) chính sách nầy đã làm cho các nước như Nga và Tàu lên mặt, khinh rẻ Hoa Kỳ ra mặt!

Để tỏ sự bất bình với hành động nầy của Obama, Mona Charen bình luận: “Tàu đá cát vào mặt Mỹ và chính phủ Obama vất vả che đậy cho chúng? Tích sản lớn nhất mà Hoa Kỳ sở đắc là uy tín tinh thần trong các quan hệ quốc tế. Dù họ có thích chúng ta hay không, các quốc gia trên thế giới thừa nhận, đôi khi chỉ nói bóng gió, rằng nền dân chủ của chúng ta là chân chính và cam kết của chúng ta cho tự do và nhân bản là vô địch. Năng lực của chúng ta trao tính chính danh (legitimacy) cho người khác cũng là độc nhất. Khấu đầu trước Tàu, chính phủ Obama đã quăng bỏ tích sản quý báu ấy đi” (“The great Obama Kowtow” - 17/2/12 - Trích từ bài “Hắc Bạch Phân Minh” của Kim Bảng; Nguyệt San gười Dân số 314, Tháng 10/2016, trang 11). 
     
Có lẽ Obama cố ý nhún mình xuống và kéo cả nước Mỹ xuống thấp cùng ông để thế giới thấy sự “nhún nhường vĩ đại” của mình! Chủ trương “khấu đầu” không đúng chỗ, không đúng lúc và không đúng đối tượng của Obama là nguyên do để Tập Cận Bình xem Obama như là một “thằng bé dễ bắt nạt”, bị họ Tập dùng làm trò hề để đề cao uy thế của mình trước đám thần dân lạc hậu của y sáng ngày 4/9/16 tại Hàng Châu.
    
Thể diện quốc gia (quốc sỉ) là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong bang giao quốc tế. Không có nước nào tự làm mất thể diện của nước mình cả, chỉ trừ một nước duy nhất xem nhẹ sĩ diện quốc gia khi thường xuyên cho đám con gái nước mình cởi truồng như nhộng, ra đứng sắp hàng cho bọn đàn ông vô sỉ nước ngoài đến rờ nắm để chọn vợ! Hoặc cho phụ nữ nước mình đi làm đĩ, ở đợ tại nước ngoài... Chính vì chính sách coi thường sĩ diện quốc gia nên con dân nước đó (kể cả viên chức nhà nước) khi ra nước ngoài thường phạm tội buôn lậu, ăn cắp, lườn đảo và lén lút trồng cần sa... Đất nước đáng khinh bỉ nầy có tên là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam! Một nỗi xót xa, ray rứt, hổ thẹn... đối với những người Việt còn nghĩ đến tiền đồ Dân Tộc! Ngày nào chưa giải thể được chế độ cộng sản côn đồ, ngu muội và độc ác, ngày đó  nhân dân Việt Nam chưa trả xong món nợ đối với Tổ Quốc Việt Nam!

Charlotte đêm Lễ Hội Ma Quỷ 2016.
Trần Khương Bình.
********************************************