Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 Ông Vua Cầm Súng

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Ông Vua Cầm Súng

In PDF.
Câu chuyện sau cùng này có thể xem như kết từ của sách. Tuy chỉ vừa xẩy ra thôi nhưng, tôi kết thúc nó vì ước mong nó sẽ mở ra một chương mới cuốn sử về chiến tranh Việt Nam cùng với những gì đi theo sau đó. Tháng 11 năm 1982, tôi đến Washington D.C, tham dự ngày khánh thành Bức tường Tưởng niệm Cựu Chiến binh Chiến tranh Việt Nam. Từ khắp mọi miền Hoa Kỳ, hàng ngàn các cựu chiến binh đổ về cho nên tôi muốn mình phải có mặt tại đó.
Tôi phải đi vì nhiều lý do. Tôi muốn vinh danh những người đã hy sinh và đặc biệt là những người tôi từng khăng khít. Tôi muốn nếm trải mùi vị của tình đồng đội và ý nghĩa của công cuộc chiến đâu nay dường như chỉ còn là một kỷ niệm đang dần mờ nhạt trong tôi. Tôi muốn chính mắt nhìn thấy Bức tường tưởng niệm: tôi muốn sờ mấy tên tử sĩ khắc trên mặt đá cẩm thạch bóng loáng và cuối cùng tôi muốn, rất muốn mình có cuộc diễu hành mong chờ từ lâu nay.
Ngày đầu, tôi nằm trong thành phần những người xướng danh các tử sĩ trong Quốc gia Thánh đường. Tôi là một trong hàng  bao nhiêu người nối nhau đọc tên kéo dài trong suốt ba ngày “đốt nến” theo bản báo cáo tổn thất nhân mạng cho đến tên thứ 57,937 cuối cùng mới thôi. Tôi xem việc này cùng việc xướng danh tử sĩ trong sự yên ắng dưới vòm mái cong của ngôi thánh đường là một niềm vinh dự.
Chúng tôi từng căp hai người xướng danh. Người đứng với tôi là một cụ già có con đã hy sinh ở Việt Nam. Ông và tôi đọc khoảng nửa giờ đồng hồ mà chỉ đọc từ họ Bianconi tới họ Blunkall. Thật là một trải nghiệm nhiều xúc động. Có lúc đọc không được khi tôi nhìn xuống cử tọa, thấy có mấy người khóc hay lau nước mắt. Trong cổ họng tôi như có cái gì đó chặn lại,  và nước mắt cứ tuôn ra. Rõ ràng tôi thấy tôi đang đọc tên những con người thật, có gia đình thật, có người thương thật, có những ước mơ thật. Tôi rất xúc động vì không khí thánh đường, vì sự trang trọng của nghi thức, và sự sâu lắng của ưu phiền. Lòng tôi nhẹ nhõm vì cuối cùng thì sự vinh danh cũng đã đến với chúng ta.

***
Thật cảm động không sao tả xiết khi gặp lại tất cả các G.I. Hàng ngàn người đến đây trong bộ quân phục tác chiến cũ xưa, hay chỉ một chiếc quân hoặc chiếc áo lẻ loi, lôi từ trong hốc tủ, hốc nhà ra. Họ là những cựu chiến binh từ mọi miền của Liên bang. Họ tới bằng tàu bay, tàu lửa, xe hơi và xe buýt. Một vài người đi theo từng chặng đường, lại có người nhờ người khác cho quá giang đi thẳng một mạch từ nhà tới đây. Tôi chẳng cần biết họ thuộc quân binh chủng nào, cấp bậc nào - tôi vẫn yêu mến từng người. Tôi nghĩ chúng tôi đếu cảm thấy tình đồng đội sâu xa. Mỗi cái bắt tay đều phải có các ngón tay đan chéo như một biểu tượng của tình huynh đệ. Mọi người chắc phải cảm thấy mình như những anh hùng. 
Ai cũng đi tìm những người mình quen thuở trước. Người ta đi vòng vòng, mắt dõi tìm. Mắt không lộ vẻ vui hay buồn, cảm xúc, không bày tỏ ra ngoài trừ niềm hy vọng người sẽ gặp kế tiếp sẽ làm mọi thứ tuôn trào. Khi hai người bạn cũ cuối cùng nhìn thấy nhau, bao nhiêu cảm xúc đều vỡ òa. Họ la to, họ ôm nhau, họ khóc vì sau hơn một thập kỷ những người từng chia nhau một góc địa ngục, nay lại được gặp nhau. 
Những ai không tìm được bạn quen cũ, họ bèn nói chuyện với những người cùng một lữ đoàn hay có khi cùng một sư đoàn cũng là thỏa lòng rồi. Ngay cả khi cùng một đơn vị nhưng không thân với nhau, cả hai đếu thấy mình đã trải qua cùng một thời gian chiến đấu chung, cũng cùng khủng khiếp như nhau và khốn khổ như nhau. Hai người ôm nhau và khóc vì hờn giận, vì ưu phiền vì bất lực trong hơn mười năm qua, không phải là cảnh hiếm thấy tại đây.

***
Tôi đi xuống phía Bức tường Tưởng niệm trong ngày đầu khi tới đây. Đó là ngày thứ tư trước ngày chính thức khánh thành vào ngày thứ bảy tới, ngày 13 tháng 11. Các cựu chiến binh cũng đang từ từ đến; chúng tôi cũng vừa mới bắt đầu xướng danh các tử sĩ trong Quốc gia Thánh đường. Tôi thật không thích công trình tưởng niệm. Tôi từng thấy bức phác họa nên không mấy ưa nó. Tôi từng nghe những phê phán mạnh mẽ chung quanh hình mẫu. Cho nên tôi suy nghĩ lung lắm khi bước theo con dốc nhỏ trong Khu Quảng trường hình chữ nhật gần Đài tưởng niệm Abraham Lincoln. Tôi biết từ đỉnh con dốc này, tôi có thể nhìn xuống bờ đất thoai thoải, tôi sẽ thấy bức tường cẩm thạch màu đen hình chữ V ép chặt vào sườn đồi. Tôi biết mỗi một mảnh tường đá mỏng đánh bóng ghép thành hình lon hạ sĩ như thế phải có những hàng tên tất cả các tử sĩ tử trận ở Việt Nam. Tôi cũng đã từng bực mình khi nghe người ta gọi chỗ này là “Thung lũng Thần chết”. Tôi không biết cảm nghĩ mình sẽ ra sao đây.
Tôi đã lên tới đỉnh đồi và tôi đã nhìn xuống. Môt vạt đá hoa cương màu đen chém chéo một vùng cỏ mới trồng. Tôi liền dừng chân để nhìn quang cảnh từ xa. Tôi liền tức khắc thấy mình  không còn chê nó nữa. Tôi thấy nó trang nghiêm, nó không diêm dúa, nó chỉ trao cho chúng ta một thông điệp duy nhất, đó là tên người người đã khuất. Nếu như thế thôi thì đây là một công trình không phải là không thích hợp. Tôi không nghĩ bức tường dài đến thế nên nó khiến tôi liên tưởng đến tường bọc quanh ụ súng pháo binh. Tôi không biết có ai nghĩ giống như tôi không.  

Tôi bước xuống phía bức tường bóng loáng. Một nhóm nhỏ cựu chiến binh đang đứng xem, im lặng hay nói nho nhỏ với nhau từng hai hay ba người. Một số người khá đông đứng sát mặt tường, đọc các danh sách dài thòng các tên người, cố tìm tên người bạn đã chết từ lâu. Tìm được tên sẽ là một niềm thanh thỏa nào đó. Những người đàn ông khuôn mặt cọc cằn, áo quần trận cũ mèm, mắt đỏ hoe nhìn trừng trừng, đầu gục gặc khi tìm được tên người từng chiến đấu bên mình ngày xưa. Mầy người vừa đứng tại đây một lúc, vừa hết xúc cảm ban đầu, thấy người khác vừa mới tới, họ đã bước tới ôm choàng, trông thật não lòng.
Tôi e ngại tìm tên những người tôi từng quen biết là thuộc hạ cũ của tôi. Tôi sợ khi tôi tìm được họ thì họ sẽ nhảy ra khỏi bức tường đá đen này, tống vào mặt tôi một cú như trời giáng. Tôi sợ nỗi khổ đau. Tôi nghĩ như vậy mà đúng. Khi tôi tìm được tên mấy người, tôi đã bật khóc. Thật là đau đớn tột cùng khi thấy tên những người bạn năm xưa vừa mới được khắc lên bức tường đá. Tôi đưa tay sờ từng tên một, cố chạm họ xuyên qua thời gian và xuyên qua cõi chết. Đó là cách thức bắt lại tay họ, nghe lại giọng nói, thấy lại nụ cười, và nói cho họ biết rằng David Donovan vẫn còn nhớ đến họ.
Tôi phải lưu lại đấy mấy giờ liền, cốt là đi vòng vòng, nhìn mặt người, nhìn bức tường tưởng niệm, rồi quay lại chỗ có tên mấy người vừa tìm được để tất cả như thấm vào người mình. Không gian dành một sự tôn kính lặng lẽ, an bình và trang nghiêm cho người chết. Tôi ngồi một mình rất lâu trên bờ cỏ trước mặt công trình, suy nghĩ và phân tách những xúc cảm của mình hôm nay. Tôi cần biết tôi thích hay không thích công trình này.
Sau cùng, tôi có kết luận. Tôi đi về, lòng thanh thỏa. Tôi thích công trình. 
Nó bày ra trước mắt thiên hạ danh sách gần năm mươi tám ngàn người đã bỏ mạng cho một danh nghĩa, một danh nghĩa chẳng mang lợi lộc gì cho họ cả. Bức tường đã nói lên một sự kiện rất rõ ràng. Nếu bảo máu là cái giá phải trả để có danh dự thì các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam đã trả một cách   rất là đầy đủ.

***
Sau rốt, tôi đã thấy chúng tôi có cuộc diễu hành. Chỉ ngày hôm đó thôi, dường như toàn quân đã bừng sống dậy. Đây là ngày Cựu Chiến binh chiến tranh Việt Nam. Ngày 13 tháng 11. Người ta nói với nhau hoàn toàn bằng thuật ngữ quân đội ngắn gọn: Tập họp diễn hành lúc 8:45 sáng. Những người lính năm xưa cố nhớ xem phải sắp hàng như thế nào, áo quần ra sao và bước làm sao cho thật rập ràng. Lòng dạ hân hoan đến nỗi các chi tiết lắt léo của màn diễn hành trở nên chẳng nghĩa lý gì cả. Chúng tôi được đi diễn hành! Bao nhiêu đó cũng đã khoái rồi.

Đồng phục ngày hôm đó gồm một đôi giày trận bạc trắng qua năm tháng, tấm áo trận màu sắc đã nhạt phai mặc với chiếc quần jean màu xanh cũ kỹ, đầu đội đủ loại mũ nhà binh. Ngày 13 tháng 11 năm 1982, sau hơn mười năm chờ đợi, đội quân Hoa Kỳ từng chiến đấu tại Việt Nam di chuyển ra ngoài đường để thực hiện một cuộc diễu hành luộm thuộm nhưng huy hoàng trên đại lộ Constitution.
Khi chúng tôi vừa đột ngột quay trái từ  Khu Quảng trường để nhập vào đại lộ Constitution, tôi có thể nhìn suốt dọc con đường thênh thang. Người xem chen chật cả hai lề đường, vang tiếng hoan hô. Nhờ xếp hàng đầu và lại phía hông tôi được người ta chồm người ra bắt tay và vỗ lưng. Tôi chẳng có nét gì đặc sắc, chỉ có điều tôi ở chỗ họ dễ với tới mà thôi. Đàn ông, phụ nữ, trẻ con hò reo và phất cờ. Câu hò hay nghe nhất là: “Welcome home! Welcome home!”. Hàng quân chúng tôi trông giống một đàn bò lộn xộn chứ không giống một đội hình diễn hành tí nào. Mà như vậy thì càng hay, càng tăng thêm điều hoan hỉ cho ngày hôm nay. Chẳng có chi phải áy náy, mọi người thảy đều vui mừng.
Trong lòng ngực tôi như có cái gì đè nặng, mắt tôi lệ rơi nhạt nhòa, không phải tôi buồn điều gì, - tôi khóc vì lòng sung sướng và nhẹ nhõm. Đi diễn hành! Tôi được đi diễn hành. Tôi như bỏ đi gánh nặng vai mang suốt mấy năm nay. Những đám đông hoan hô, những người phụ nữ vui cười, những em bé vẫy tay, - đó là những thứ rất đơn giản nhưng những quân nhân chúng tôi lúc nào cũng ước ao được thấy và bao giờ cũng mong được như thế. 

***
Chung quanh thủ đô Washington có một cộng đồng người Việt khá lớn. Tôi không biết họ nghĩ gì trước sự quan tâm đối với cựu chiến binh hiện nay. Họ có thích ra đây tham dự buổi lễ khánh thành Bức tường và diễn hành không hay là họ sẽ ngồi yên tại gia vì không biết người ta sẽ xử sự ra sao khi họ có mặt? Tôi lấy làm lo lắng rằng họ muốn lánh xa vì e ngại người ta làm điều sai quấy làm họ khó xử. Họ đã không tham dự. Trong đám đông dường như ít thấy họ. Lòng tôi cảm thấy không vui vì dù gì đi nữa thì họ cũng phải xem cuộc diễn hành để hưởng ít nhất cái cảm nhận như tôi đã  từng trải qua.
Cuộc diễn hành chấm dứt tại Bức tường tưởng niệm. Các đơn vị tan hàng, dến tham dự lễ khai mạc chính thức. Hàng chục ngàn cựu chiến binh đứng đầy cả vùng lòng chảo, tràn qua cả ngọn đồi  trước mặt, làm nghẽn cả Khu Quảng trường chạy dài tới Đài tưởng niệm Abraham Lincoln. Cuối buổi lễ, tôi len lỏi trong đám đông, bắt tay mấy người vừa mới quen lần cuối cùng rồi từ từ đi ra xe. Đối với tôi, vậy là kết thúc nên tôi về.
Phía xa, bên ngoài đám đông, nơi chỉ còn vài nhóm nhỏ người tò mò đứng xem, tôi đi tới gần một lùm cây thấp, xuýt nữa tôi đâm sầm vào một gia đình người Việt gồm một cặp vợ chồng với  hai đứa con. Người đàn ông và vợ nhìn tôi trân trân vì tôi đang đội cái mũ nồi Việt Nam màu xanh dương, áo jacket màu ô-liu vẫn còn đính cấp hiệu, chứng tỏ tôi từng là một cố vấn. Cái nhìn của họ như nói lên rằng họ biết tôi là một trong số những người Hoa Kỳ từng sát cánh bên đồng bào của họ. Cả hai người không ai nói lời nào. Điều họ muốn nói, nó thể hiện trong đôi mắt và trên khuôn mặt của họ. Đó là bức thông điệp của đau khổ, ưu phiền và sự mất mát lớn lao. 
Tôi bước tới gần hơn, người đàn ông nhìn thẳng vào mặt tôi, trông thật thiểu não. Tôi hy vọng anh ta thấy được sự cảm thông của tôi cùng lòng ân hận trước đau khổ của anh ta. Tự nhiên lòng tôi lóe lên một chút thân thiện khi anh ta lặng lẽ  chìa tay ra bắt tay tôi. Nụ cười sẽ không bao giờ nở trên môi, không một tiếng chào mừng, thế nhưng tôi đã thấy đôi mắt anh mấp máy và  hai giòng lệ trên khuôn mặt người vợ anh ta. Tôi muốn nói một đôi điều gì đó. Tôi muốn chạy tới ôm họ vào lòng như từng ôm mấy người bạn mới quen mới mấy ngày gần đây. Thế nhưng tôi chỉ nắm chặt tay người chồng, lắc lắc mấy cái, đôi mắt tôi cố nói mọi điều. Tôi ngưng một chốc rồi tôi  lại bước đi. Tôi đi miết, không biết nên làm gì và nên nói cái gì. Người Hoa Kỳ chúng ta đã thua trận, nhưng những người Việt này thì lại mất cả một nước. 
Khi đi ngang hàng cây, tôi ngoái nhìn lại gia đình người Việt. Trông họ như lạc loài một thân một mình trên cái nền hậu cảnh của Đài Tưởng niệm Abraham Lincoln và đám đông  bao la những người Hoa Kỳ đang đi đi lại lại trong vùng lòng chảo dưới kia. Tôi như muốn quay trở lại nói chuyện với họ, bảo họ rằng tôi thông cảm sâu xa nỗi mất mát của họ, tôi muốn họ biết rằng tôi và bạn bè của tôi không bao giờ gọi họ là “đồ này, đồ kia” và cũng chưa bao giờ nghĩ là họ kém thua chúng tôi. Tôi lòng thực muốn họ biết tôi là David Donovan, rằng tôi đã từng chiến đấu chống lại bọn khủng bố, rằng chẳng ai biết tôi hôm nay nhưng tôi từng là một ông vua cầm súng.

Nguyễn Tư-Cao dịch.

(Once a Warrior King, Memoiries of An Officer in Vietnam,   ** David Donovan, McGraw-Hill Book Company,
1985, chương 23, pp 309-314).
Ghi chú:
(*)  Tựa do người dịch đặt.
(**) David Donovan chỉ là một bút danh, trước kia là một viên Trung úy Lục quân Hoa Kỳ. Nay ông là giáo sư đại học dạy môn sinh học.