Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 Hương Dã Quỳ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Hương Dã Quỳ

In PDF.
- Có phải đây là hoa hướng dương không anh?

- Đúng rồi, nhưng đây là loại hướng dương mọc hoang. Em xem cánh hoa nhỏ hơn loại người ta trồng ở vườn. Không biết ai đã đặt cho nó một cái tên rất lãng mạng là “Dã Quỳ”.

- Hoa nầy nở quanh năm hả anh?

- Không, nó chỉ nở rộ vào mùa đông sang đến đầu hè thôi. Anh nghe mấy người bạn còn gọi nó là “Đông Quỳ”. Hồi còn học ở đây, mỗi lần ra bãi tập, đi di hành trên con đường vàng rực hoa Dã Quỳ, anh lại nhớ em và chiếc áo dài màu vàng rực rỡ trong ngày hai đứa hẹn hò lần đầu tiên.

Tôi đấm vào vai chồng, má ửng hồng:

- Hứ! Anh nhớ cô sinh viên trường Luật nào đó thì có!

Quân ôm vai tôi, dí ngón tay vào trán:

- Ủa! Nhớ người khác mà sao tự nhiên tôi lại trói đời trai vào cô nương nầy vậy trời!

Cả hai cùng cười vang rồi sánh bước trên thảm cỏ xanh êm mượt ở Sân Cù. Một tuần lễ nghỉ phép sau đám cưới, Quân đưa tôi đi Đà Lạt để hưởng tuần trăng mật. Trong thời kỳ chiến tranh mà được sống với người vợ mới cưới một tuần thì có thể gọi đây là một niềm “hạnh phúc vô lượng”. Quân nói với tôi như thế.
 
Buổi tối cuối cùng, hai đứa ra nhà Thủy Tạ uống cà phê. Nhìn ánh đèn phản chiếu lấp lánh trên mặt nước nhấp nhô, Quân thở dài nuối tiếc, vì ngày mai chúng tôi sẽ trở về Sàigòn và hôm sau anh phải trở lại đơn vị. Quân biết tôi sẽ rất cô đơn trong lúc hai đứa xa nhau nên ước ao có một đứa con. Quân nói rằng, đứa con đó sẽ là niềm an ủi vô biên cho tôi trong những tháng ngày tôi trở thành nàng Tô Thị thời đại, ôm con trông chồng đang miệt mài chinh chiến nơi miền xa.

Quân nắm bàn tay tôi ép vào ngực, âu yếm hỏi:

- Nếu đêm nay anh cho em một đứa con, thì em đặt tên con là gì?

Tôi xấu hổ đẩy nhẹ vai Quân:

- Anh... kỳ quá... Nhưng anh muốn con trai hay gái?

- Anh thích đứa con gái đầu lòng, giống cha như khuôn cho... đẹp.

Tôi cười, mắt liếc xéo:

- Ừ! Giống cha như khuôn thì bảo đảm là đen, chứ đẹp thì phải xin xăm lại... Em cũng chưa nghĩ ra tên con gái, vì em muốn đầu lòng phải là trai, nên chỉ nghĩ đến tên con trai thôi.

- Anh thích hoa Dã Quỳ, vậy nếu là con gái thì mình đặt tên con là Huỳnh Hương Dã Quỳ nghe em!

Tôi cười khúc khích trên vai Quân:

- Nghe sao giống “cải lương chi bảo” gì gì đó... mà cũng ngộ ngộ. Nhưng tên đến bốn chữ có dài lắm không?

- Dài thì dài, có sao đâu. Tên em là Hương, họ anh là Huỳnh, lấy tên em để làm cho “thơm con gái Dã Quỳ” là một sự kết hợp rất có ý nghĩa. Hơn nữa, con gái mình đã tượng hình tại xứ Dã Quỳ mà em.
Tôi ngã vào vai Quân nũng nịu:

- Xạo quá chồng ơi!


***

Ngồi một mình trong căn nhà nhỏ dưới ánh đèn vàng yếu ớt vàng, tôi cầm lấy khuôn ảnh có hình của tôi và Quân rạng rỡ tươi cười trong bộ đồ cưới trắng muốt mà nước mắt rưng rưng. Không biết bây giờ Quân ở đâu? Sống hay chết? Ba tháng rồi tôi không hề nhận được một tin tức nào của anh. Sau tuần trăng mật ở Đà Lạt, Quân trở về đơn vị là Sư Đoàn 21 Bộ Binh ở Cà Mau. Chỉ một tháng sau thì cộng quân đã tràn vào chiếm đoạt Sàigòn. Trong cơn hoảng loạn của tháng Tư, bố mẹ và hai người anh trai nài nỉ tôi xuống tàu đi di tản, nhưng tôi nhất quyết ở lại để chờ tin Quân. Không lay chuyển được ý định sắt đá của tôi nên gia đình đành phải rứt ruột ra đi. Sàigòn những ngày đầu tháng Năm sau khi đổi chủ bỗng trở nên tiêu điều. Những ngôi nhà hoang vì chủ đã bỏ chạy, bị phá tung để lục lọi. Nhiều căn nhà trong xóm bị đám cán bộ miền Bắc ngang nhiên chiếm giữ. Viện Đại Học, nơi tôi làm việc, mọi người cũng ngơ ngác, hoang mang, không biết số phận mình sẽ ra sao? Vài người quen, là quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đóng quân ở các địa danh xa lạ cũng đã lục đục trở về nhà, và theo lệnh tập trung, họ lên đường đi “học tập cải tạo”. Tôi cố dò hỏi tin Quân ở những bạn bè, nhưng không ai biết. Gia đình chồng ở Long Xuyên cũng nôn nóng đợi tin anh. Tôi chỉ còn lá thư cuối cùng Quân viết ngày 15 tháng 3 năm 1975. Anh cho biết, có thể anh không về phép được trong tháng Tư để cùng tôi mừng đứa con đầu lòng đang tượng hình trong bụng mẹ, vì đơn vị phải điều động về Chương Thiện để bảo vệ tỉnh nầy do áp lực của cộng quân khá nặng nề. 

Bố mẹ, anh em đã di tản cũng chưa biết tin tức, Quân thì biền biệt nơi nào? Những ngày tháng trôi qua là chuỗi ngày thê lương nhất trong cuộc đời tôi. Mỗi ngày đạp xe đi làm trong cơn mệt mỏi - vì thai hành thì ít - mà vì lo lắng cho chồng thì nhiều. Tôi chỉ biết khóc. May mà còn Loan, người bạn thân thiết cùng làm việc chung sở, thấy tôi đơn chiếc, Loan đã xin phép gia đình đến ở với tôi để an ủi, giúp đỡ. Tám tháng sau, được điện tín báo tin bố mẹ và các anh đã đến Mỹ, tôi mừng quá. Bố mẹ cũng căn dặn, nếu được thì bán nhà, về nương náu bên gia đình Quân chờ sinh con để còn có ông bà nội chăm sóc. Tôi nghe lời nên về Long Xuyên ở với ba má chồng khi được tin Quân đang bị giam giữ tại Chi Lăng - Châu Đốc. Tạ ơn Trời Phật đã cho Quân còn sống. Tôi mừng như chết đi sống lại. Nhờ một ít tiền dành dụm từ trước nên tôi cũng tạm sống đầy đủ, chuẩn bị sinh nở. Ngày nhận lá thư đầu tiên của Quân từ trại tù gửi về, cũng là ngày tôi đang chờ sinh con tại bệnh viện.

Quân bị bắt trong trận đánh cuối cùng ngày 29 tháng 4 tại Chương Thiện. Họ đưa anh và các tù binh khác đi phá rừng tràm ở Cà Mau. Giữa rừng vắng hoang vu, Quân không có cách nào liên lạc được với gia đình. Sáu tháng sau anh được đưa về trại Chi Lăng. Anh viết trong thư (có kiểm duyệt) là “học tập tốt, sức khoẻ tốt, được cho ăn uống đầy đủ, chỉ thèm đường thôi!”. Đọc đến đây tôi bật khóc, vì biết Quân sa sút lắm - tình trạng thèm đường có nghĩa là đang thiếu dinh dưỡng trầm trọng. Tuy vậy, có một điều an ủi là Quân còn tính được ngày tôi sinh con gần đúng. Anh còn căn dặn, nếu sinh con gái thì đừng quên đặt tên là “Hương Dã Quỳ”. Và tôi đã sinh con gái như Quân hằng ao ước. Má chồng vui lắm vì Dã Quỳ giống Quân như khuôn. Ba chồng thì càu nhàu về cái tên: 

- Bây đặt tên gì kỳ vậy, bộ hết tên rồi sao?
 
Mắt tôi lóng lánh niềm vui:

- Ba à, đó là tên anh Quân chọn, chứ không phải con đâu? Dã Quỳ là một loại hoa dại đẹp lắm ba à!

- Đẹp cái nỗi gì! Thích hoa sao không đặt tên Cúc, tên Lài... nghe cho có vẻ thơm tho hơn không? Nhưng... nói thì nói vậy chứ con của bây, thì bây muốn cho nó quỳ, hay đứng gì tùy bây.

Má chồng ngồi gần đó phản đối ngay:

- Cái ông nầy! thiệt tình... Tụi trẻ bây giờ có ăn học, chữ nghĩa văn hoa hơn mình hồi xưa. Ai lại cứ con Lài, con Thơm như hồi trước. Ba má đặt tui tên Bông, tui đâu có thích. Hồi đi học, mỗi lần cô giáo điểm danh Lý Thị Bông, thì tụi bạn khều lưng chọc ghẹo “tóc em dài em cài bông thiên lý” làm tui quê muốn chết, trong khi mấy đứa kia nào là Tú Trang, Hồng Tước nghe mà bắt thèm. Còn tui bị quê riết rồi nghỉ học luôn.

Những ngày sống bên nhà chồng, tôi cũng tìm được cảm giác đầm ấm, thân mật. Má Quân thương cháu nội, nên con dâu cũng được chăm sóc thật chu đáo. Phần tôi, chỉ mong ngày tháng trôi nhanh để được phép đến thăm Quân ở trại tù. Nghe tin một vài trại đã cho thăm nuôi, tôi bồn chồn trong dạ, đứng ngồi không yên. Nếu Quân được gặp vợ và bế Dã Quỳ trên tay, không biết anh sẽ hạnh phúc đến chừng nào!

Khi Dã Quỳ được ba tháng, tôi và má chồng dò la tin tức, hỏi thăm đủ nơi, đủ chỗ để tìm đến trại Chi Lăng. 

Chiếc xe đò cũ kỹ, chật chội đưa chúng tôi qua nhiều đoạn đường đầy bụi bậm và ổ gà, ngồi trên xe bị xóc đến nín thở. Thêm một chặng xe lam chật cứng những người buôn gánh, bán bưng mới tìm được trại. Giữa miền quê vắng vẻ, nghèo nàn, có vài tiệm chạp phô ọp ẹp và hang quán đơn sơ bán nước uống, người ta chỉ cho tôi một khu doanh trại rộng lớn, có hàng rào cao và bộ đội canh gác cẩn thận. Tôi và má chồng lần mò đến rụt rè hỏi nhỏ:

- Thưa chú, chú làm ơn cho biết... có mấy người tù bị giam ở trong trại nầy không?

Tên vệ binh mặt non choẹt, tuổi chỉ độ đứa em út của Quân, đứng dậy quát tháo:

- Bà già phản động này chỉ giỏi ăn nói lếu láo. Ở đây không có ai là tù cả. Chỉ có bọn ngụy quân tội ác tầy trời, đang được cách mạng khoan hồng cho học tập để trở thành người tốt. Rõ chưa?

Má chồng tôi chấp tay, cúi đầu:

- Xin lỗi cán bộ, tui già cả rồi, nhớ trước quên sau, nói ai, nói bậy xin... bỏ qua cho.

Hắn trợn mắt, lớn tiếng xua tay xô đuổi hai má con tôi không chút xót thương. Lần đi nầy quá vất vả nhưng cũng không được tin tức gì ngoài dự đoán là Quân bị nhốt ở nơi đó.

Trở về Long Xuyên, tôi lại tiếp tục lần dò hỏi han tin tức thì được biết một tháng nữa trại Chi Lăng sẽ cho thăm nuôi. Có người được thư chồng hoặc con ở trại Chi Lăng gửi về báo tin, nhưng tôi chờ hoài vẫn không có thư của Quân. Dù vậy, tôi vẫn đánh liều theo chân chị hàng xóm đang hớn hở tay xách, nách mang để đi thăm chồng. Đến trại hỏi thăm thì họ cho biết đã chuyển một số người đi ra miền Bắc, trong đó có Quân. Tôi ra xe, trở về nhà với tâm trạng tuyệt vọng, nên chân tay rụng rời, nước mắt tuôn như mưa đổ. 

Quân ơi! làm sao em gặp được anh, để nghe anh nói, để nhìn anh cười (hay khóc???) dù chỉ một lần...  
 
Ngày ngày, tháng tháng trôi qua, Quân vẫn bặt tin trong sự chờ đợi mỏi mòn của tôi. Mãi bốn tháng sau, tôi mới nhận được mảnh giấy nhỏ nhầu nát - có lẽ Quân nhờ người nào đó được thăm nuôi gửi cho tôi - với dòng chữ nguệch ngoạc báo tin “anh đã bị đưa ra Yên Bái”. Một địa danh xa lạ tận miền Bắc mà tôi chưa hề biết đến. Tôi và ba má chồng bàng hoàng, lo lắng. Hy vọng được thăm Quân ngày càng mong manh. Rồi đến ngày bé Dã Quỳ biết đi chập chững. Đôi chân mày rậm và cái miệng cười tươi giống cha như đúc, vậy mà Quân vẫn biền biệt. Tôi không biết tại sao Quân không được phép gặp gia đình như những người khác. Theo suy đoán của những người có thân nhân đang bị tù cải tạo thì có lẽ Quân bị xếp vào diện thành phần nguy hiểm - có thể do ngang bướng, không chấp hành kỷ luật, hoặc chống đối cán bộ.

Ba tháng nữa lại trôi qua, cả gia đình sung sướng nhận được một phong thư với con dấu bưu điện lem luốc, nhưng tên người gửi không phải là Quân. Tôi mở thư bằng bàn tay run rẩy và nhịp tim bấn loạn “Thưa chị, rất đau buồn tin cho chị biết anh Quân đã qua đời...”.

- Hương ơi! 

Tôi chỉ nghe loáng thoáng tiếng la thất thanh của má chồng rồi ngã quỵ xuống sàn nhà. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm trên giường bệnh xá, đứng cạnh bên là ba má chồng với khuôn mặt thất thần, đầm đìa nước mắt cùng bé Dã Quỳ trên tay. Quân đã chết? Có nghĩa là chúng tôi không bao giờ còn gặp nhau nữa sao! Tôi ôm Dã Quỳ vào lòng khóc như mưa!

Sau đó vài năm, anh Cả gửi tiền về cho tôi đi vượt biên bán chính thức. Tôi đến định cư tại Atlanta từ đó. Nay, Dã Quỳ đã trưởng thành, tốt nghiệp dược sĩ và đã lập gia đình. Dã Quỳ càng lớn càng giống bố nhiều hơn. Nhìn con, tôi luôn nhớ đến lời Quân nói “Anh thích đứa con gái đầu lòng, giống cha cho... đẹp”.

Tôi vẫn thầm nói với Quân mỗi khi nhìn di ảnh của anh oai phong trong bộ quân phục dạo phố “Anh có thấy con gái mình giống anh lắm không? Nó thật tươi tắn, xinh đẹp. Chỉ có em là không giống ai, vì suốt ba mươi hai năm em chỉ sống với niềm hạnh phúc trong tiềm thức - một tuần trăng mật ở Đà Lạt sau ngày cưới - Em đã dành hết một đời cô phụ cho Dã Quỳ ngát hương, như anh mơ ước. Tuổi già đã ngấm nghé trên từng sợi tóc bạc, em mơ ngày đoàn tụ với anh ở một nơi nào đó trong giấc ngủ muôn đời!”.

Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Chim về góc biển. Bóng ra khơi
Lòng tôi lũng thấp. Tâm hiu quạnh
Chẳng chiến chinh mà cũng lẻ đôi (**)

Đặng Lương Nguyệt.
(Nàng dâu NT3 Đặng Hiếu Sinh).
***************************
** Trích thơ Du Tử Lê