Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 Chuyện cũ tưởng đã quên

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Chuyện cũ tưởng đã quên

In PDF.

      Thằng Út gắp lia lịa, nó vừa ăn vừa tấm tắc khen “Ngon quá ông nội ơi! Thịt béo quá!”. Thằng Út không  để ý đến mẹ đang trừng mắt nhìn nó. Thấy vậy ông nội lại nói “Để cho em nó ăn! Con ăn đi! Ông nội ăn nhiều rồi”. Ông nội quay sang tôi và chị Hai, ông nói “Hai đứa con cũng ăn đi!”. Chị Hai và tôi mỗi đứa cùng gắp một chút ăn cho ông vui lòng. Ông nội nhìn chị em tôi rồi thở dài...

    Từ khi cha tôi đi tập trung vào “trại cải tạo”, me tôi bỗng dưng thành người “mất dạy” vì cái lý lịch của cha, đồ đạc trong nhà không cánh mà cứ bay đi theo những lần mẹ thăm nuôi cha và theo mấy cái bao tử của chị em tôi. Ngôi nhà của cha mẹ tôi ở thị xã cũng đã bị nhà nước tịch thu. Bên nhà ngoại tôi cũng rối như một đống tơ vò. Ông ngoại và mấy cậu tôi cũng biền biệt trong các trại “tù cải tạo”. Có người được chuyển ra tận đâu ngoài Bắc. Bà ngoại “hiến” cái nhà lớn cho nhà nước rồi dọn về ở nơi cái nhà tôn nhỏ nhỏ trong con hẻm sâu hút. Bên nhà ngoại lúm úm như vậy nên chẳng giúp được chi cho mẹ cả. Không còn chỗ bám víu, me dìu dắt mấy chị em tôi dọn về quê sống chung với ông nội. Mẹ và mấy chị em tôi đã trở thành gánh nặng cho ông. Bà nội mất đã lâu lắm rồi, nhưng ông cứ một mình lủi thủi sống bám vào mảnh vườn và mấy sào ruộng chứ không chịu về sống chung với cha mẹ tôi ở thị xã. Lâu lâu ông nội lại xuống thăm chúng tôi. Mỗi lần ông xuống thăm, mấy chị em tôi lại có thiệt nhiều quà ở quê do ông nội ký cóp để dành mang xuống cho chúng tôi.   
 
   Chẳng có ai ngờ được lại có cái ngày 30 tháng 4 đen tối ấy để ông nội đã trở thành cái bóng đa che mát, bảo bọc cho mẹ con chúng tôi. Ông nội cũng nhiều tuổi rồi. Đáng lẽ trong lúc này ông phải được nghỉ ngơi để con cháu phụng dưỡng. Nhưng qua cuộc đổi đời, ông nội lại bị khổ lây với đám con cháu. Gặp cái thời buổi này người già cũng phải khổ. Mẹ tôi thì cả thời con gái nhởn nhơ với cái tuổi học trò, rồi tiếp tục hồn nhiên bên bầy trẻ nhỏ trong cái nghề “gõ đầu trẻ” nên chẳng biết chút gì về công việc đồng áng, nông tang. Trong lúc nầy ông nội đã trở thành ông thầy “bất đắc dĩ” hướng dẫn, chỉ dạy mẹ tôi làm quen với công việc nhà nông. Đối với ông nội, mẹ tôi là cô học trò chậm chạp và ngốc ngếch. Theo sự chỉ dẫn của ông, mẹ bắt đầu làm quen với công việc. Công việc nhà nông thì nhiều vô số kể và làm hoài không hết. Những công việc ấy với ông nội thì dễ ợt nhưng với mẹ tôi thì việc nào cũng mới, cũng khó. Như cái chuyện dắt con trâu theo ông ra ruộng cũng là chuyện mới mẻ với mẹ tôi. Lần đó không biết có phải con trâu thấy người lạ hay sao mà trở chứng chẳng chịu đi, cứ lần quần một chỗ rồi lại nhảy đổng lên làm mẹ theo nó đến toát mồ hôi. Chị em tôi phải nhào vô giúp mẹ nắm chặt lấy sợi dây nó mới chịu thua và líu ríu đi theo mẹ. Nhìn mặt mẹ tái mét, chị em tôi thương mẹ vô cùng. Rồi lại một lần nữa... trong bữa cơm chiều, ông nội nói với mẹ “Ngày mai cha phải cày cho xong chỗ ruộng còn lại. Con ra đám khoai coi ngắt bớt ngọn cho khoai nứt nhánh, sau nầy khoai sẽ nhiều củ hơn”. Sáng hôm sau cơm nước xong ông nội vác cày và lùa trâu ra ruộng. Còn mẹ, sau khi lo xong cho đám heo qué, gà, vịt cũng quảy đôi trạc đi ngắt ngọn khoai. Đến nửa buổi mẹ về với đôi trạc chất đầy những cọng dây khoai dài lòng thòng như gánh rau heo để chỗ hiên nhà. Mẹ vào bếp lo cơm nước buổi trưa cho cả nhà. Đứng trưa ông nội về. Nhìn gánh “ngọn khoai” mẹ mới ngắt ông nội tá hoả, vò đầu, bức tóc, than trời, rồi ông nói “Ngắt ngọn cái kiểu này khoai mất sức còn củ đâu mà ăn”. Tội nghiệp mẹ, khi nghe ông nội nói “còn củ đâu mà ăn” mẹ hốt hoảng nghĩ đến mấy đứa con sẽ bị đói, nghĩ đến nổi khổ tâm của ông nội vì việc làm của mẹ. Mẹ ngồi khóc thút thít bên cửa bếp. Mẹ khóc vì tủi thân, vì hối hận đã không học hỏi đến đầu đến đuôi. Ông nội sau một hồi nghỉ mệt, nhìn thấy mẹ khóc ông cũng nao lòng, cơn giận cũng hạ xuống. Ông nói với mẹ “Nói vậy chứ không đến nổi nào đâu, chỉ ít củ hơn chứ không mất trắng đâu mà lo. Mà cũng lỗi tại cha không chỉ vẽ cho con rõ ràng. Lần sau nhớ ngắt khoảng vài lóng tay thôi”. Trên trường đời, làm con người ai cũng phải trải qua những bài học kinh nghiệm để trưởng thành. Với mẹ tôi những bài học kinh nghiệm của mẹ trong thời gian nầy vừa xót xa, vừa ngây ngô và tội nghiệp. Từ ngày mẹ con chúng tôi đùm túm dọn về sống chung với ông nội, ông nội phải làm việc nhiều hơn để phụ giúp mẹ lo cho chị em tôi có đầy đủ cơm ăn ngày ba bữa và cha tôi đều đặn ba tháng được thăm nuôi một lần. Ngoài công việc đồng áng ông nội còn có một nghề tay trái đó là cái tài đan lát thúng mủng, nong nia... hay là những nông cụ khác. Ông làm rất khéo tay và tận tuỵ nên bà con ở quê ai cũng thích. Trong những ngày vụ mùa thưa trống, bà con nông dân mình hay lo tu bổ, sắm sửa thêm những nông cụ trong nhà. Thế là ông nội tôi lại bận rộn làm việc liên tục. Hết lên xóm trên lại xuống xóm dưới. Người cần đan thêm thúng mủng, nong nia... Người cần sửa lại cái cày, đẽo lại cái gọng bừa hay sửa lại cái xe quạt lúa... Trong những ngày này, sau khi cơm nước xong ông nội tôi tay vác cây dù, tay kẹp con rựa ra đi cho đến chiều tối mới về. Có nhiều bữa thằng Út lon ton chạy theo. Ông xoay qua nói với nó “Đừng đi theo ông, ông đi đến tối mới về. Ở nhà chơi đừng dang nắng bị đau không có thuốc đâu mà uống”. Mỗi bữa ông đi về chị em tôi lại có quà. Khi thì túm kẹo ú gói trong lá chuối, khi thì vài cái bánh tráng. Có bữa lại có gói xôi, gói thịt do nhà chủ mướn ông làm có giỗ nên biếu cho ông. Vậy đó! Cứ mỗi lần ông đi về mà thấy trên cây dù ông vác trên vai có treo lủng lẳng cái gói thì thằng Út mừng rơn và chạy ra tận ngõ đón ông. Ông nội ký cóp mấy đồng tiền kiếm được để rồi dấm dúi cho mẹ sắm sửa mua quà mỗi chuyến thăm nuôi cha. Dưới sự “huấn luyện” của ông nội, mẹ tôi đã trở thành một người đàn bà nhà quê lam lũ, giỏi giang. Từ chuyện trong nhà đến chuyện ngoài đồng: cấy, gặt, cày, bừa... mẹ tôi đều làm được hết. Thời gian sau nầy sức khoẻ của ông tôi không còn như trước nữa. Ông không chịu đựng nổi cái nắng gắt, chói chang trên đồng ruộng. Bởi vậy khi mặt trời bắt đầu cười toe toét, phì ra cái hơi nóng trên đỉnh đầu là ông nội lo dọn dẹp ra về. Bắt đầu từ đó mẹ tôi gánh vác bớt công việc cho ông. Những ngày nghỉ học chị em tôi phụ giúp thêm cho mẹ. Tôi rất thích thú mỗi lần được mẹ sai ngồi chùm hum trên cái gọng bừa để cho trâu kéo đi vòng vòng quanh ruộng. Mẹ sai tôi ngồi trên cái gọng bừa là để cho răng bừa ấn sâu xuống ruộng, nhờ vậy mà đất ruộng được nhuyễn hơn (đây là kinh nghiệm ông nội chỉ vẽ cho mẹ, nếu không có ai ngồi thì dùng một trạc đất nặng để lên). Cái gọng bừa chạy đến đâu là bùn và nước bắn lên tung tóe làm mấy chú cá rô lạt mạ nhảy tưng tưng trong bùn. Tôi  ngồi liên tưởng đến món cá rô lạt mạ kho với nghệ và lá gừng, lá nén thì bao nhiêu cơm ăn cũng hết. Đến nửa buổi, mẹ cho trâu nghỉ mệt. Hai mẹ con lên ngồi nghỉ trên bờ ruộng và chia nhau mấy củ khoai mẹ nướng vội vào lúc sáng. Mùi khoai nướng thơm lừng quyện theo ánh mắt mẹ trìu mến nhìn tôi đã làm cho tôi có cảm giác củ khoai nướng tôi ăn hôm đó ngon không thể nào diễn tả được. Công việc đồng áng ở nhà nhờ thêm sự phụ giúp của chị em tôi nên cũng êm ả trôi đi. Lúc nầy chị hai tôi cũng học gần xong chương trình cấp hai. Mẹ đưa ý kiến với ông để cho chị Hai nghỉ học ở nhà phụ mẹ công việc nhà nhưng ông nhất định không chịu. Ông nói “Ở cái thời nào đi nữa, có trình độ, có chữ nghĩa vẫn hơn”. Mẹ thì suy nghĩ có học xong cấp ba thì chị em tôi cũng không thể nào vào được đại học vì cái lý lịch đen thui của cha tôi. Mẹ tôi thường dạy chị em tôi phải kính trọng và thương yêu người già cả. Ông nội tôi cũng là người già cả. Tôi không biết nói làm sao cho hết những yêu thương, kính mến mà chị em tôi đã dành cho ông. Chị em tôi lúc nào cũng quấn quýt bên ông. Những buổi trưa hè trên chiếc chõng tre bên hiên nhà, chị em tôi ngồi nghe ông kể chuyện. Kho tàng chuyện cổ tích của ông thì nhiiều vô kể. Lúc nào trong lúc kể chuyện ông cũng làm điệu, làm bộ để diễn tả đã khiến chị em tôi đứa nào cũng ôm bụng cười bò. Thằng Út cứ nhào vô người ông rứt rứt mấy cọng râu lún phún dưới cằm của ông. Chị Hai thì cầm cái quạt mo tre, quạt quạt cho ông. Một lần ông sai tôi gãi lưng cho ông. Tôi cũng lo “phục vụ” cho ông thật “tích cực”, nhưng ông cũng không ưng ý nên nói “Mầy gãi lưng cho tao sao giống thằng ‘Cu Chó’ hồi còn nhỏ . Gãi lung tung mà không đã ngứa chi cả”. Tôi tò mò hỏi ông “Thằng ‘Cu Chó’ là ai vậy ông?”. Ông nói “Là cái thằng cha mầy đó chứ ai nữa! Tội nghiệp, không biết bây chừ nó ra sao...”. Thế là tôi biết cha tôi có cái tên “xôi đỏ” là “thằng Cu Chó”. Mấy chị em tôi xúm nhau cười rè. Riêng ông, trên nét mặt có thoáng đượm nỗi buồn. Ông tôi nhắc đến cái tên “xôi đỏ” của ba tôi với sự thương yêu và niềm nhớ thuơng... xa vắng.
 
   Bỗng dưng một ngày, chuyện không nghĩ tới mà nó đến... Buổi trưa khi đi làm về ông nội tôi ngã chúi xuống chỗ cửa nhà ngang. Mẹ và mấy chị em tôi đỡ ông lên giường. Mẹ sai chị Hai lấy khăn lau mặt và rót nước cho ông uống. Mẹ tất tả chạy xuống trạm y tế gần nhà khai bịnh, mua thuốc cho ông. Lúc mẹ về ôm theo một bụm thuốc Xuyên Tâm Liên để cho ông uống. Mẹ lo nấu cháo mời ông ăn và cứ hỏi ông “Cha thấy trong người ra sao?”. Ông nội trả lời yếu ớt “Để yên cho cha nghỉ mệt”. Mẹ bỏ hết chuyện trong nhà, ngoài ruộng để lo chăm sóc cho ông. Ông nằm im ỉm mấy ngày “nghỉ mệt” để rồi một đêm chỉ có mẹ tôi bên cạnh, ông nội ra đi trong lúc mấy chị em tôi còn no giấc ngủ. Tiếng khóc của mẹ trong đêm vắng đã làm cho tôi và chị Hai choàng tỉnh dậy và được mẹ cho biết  “ông nội đã đi rồi!”. Nghe mẹ kể lại trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông nội đã thều thào gọi cái tên “xôi đỏ” của cha tôi “thằng Cu Chó!”, “thằng Cu Chó!”. Thế mới biết ông nội thương nhớ cha tôi đến chừng nào. 

Đám tang của ông nội thật đơn giản. Mẹ và mấy chị em tôi mỗi người chỉ có được một chiếc khăn trắng mỏng mỏng quấn trên đầu. Mới bốn giờ sáng, bên ngoài trời còn lạnh lạnh và tối đen. Tiếng kẻng của đội sản xuất vang lên để bà con trong đội tập trung đưa ông nội đến nơi an nghỉ cuối cùng, để rồi còn kịp về lo công việc lao động sản xuất. Bà con trong đội, cột cái quan tài ông trên một cài đòn bằng cây tre. Những cái lạt tre được bó lại thành bó đuốc thắp sáng đi trước quan tài để dẫn đường cho bà con trong đội sản xuất thấy đường mà đi vì trời còn tối quá. Ngọn đuốc cũng đã dẫn đường cho linh hồn  ông nội biết đi tìm về nơi chốn bình yên hơn và nơi chốn ấy những người già như ông không phải khổ... Cái quan tài của ông nội được khiêng đi vòng vèo qua con đường làng, qua những con mương, bờ ruộng quen thuộc mà ông nội đã từng đi qua để tới gò Cây Quăn cho ông “nghỉ mệt”. Từ nay vắng bóng ông trong nhà, chị em tôi ngơ ngáo trong nỗi buồn nhớ thương ông. Thằng Út thường ngày hay hám ăn và nhõng nhẽo với ông, hôm nay đến bữa ăn “lơ đũa” ngồi thẫn thờ. Thương nhất là mẹ, từ nay mẹ mất đi một chỗ dựa tinh thần vững chắc. Cha thi biền biệt ngày về nên một mình mẹ phải cáng đáng mọi việc trong nhà...

   Mấy năm sau, từ ngày ông nội mất, cha tôi, “thằng Cu Chó” của ông nội cũng được nhà nước tha về. Cha ngồi khóc rưng rức khi nghe mẹ và chị em tôi kể lại những tháng ngày sống bên ông nội... Cha tôi chắc đã lùng bùng cả hai tai vì cứ tưởng những người ở “tù trong” như cha mới phải khổ...  
     
Rồi như cái vòng xoay của đất trời qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; cả nhà tôi cũng qua đi cơn bỉ cực khi được tiếp tục những tháng ngày còn lại trên miền đất hứa xa xôi nầy. Cha mẹ tôi nay cũng đến tuổi già nhưng cha mẹ tôi không phải vất vả nhiều như ông tôi. Ngoài cái nỗi buồn xa xứ thì tuổi già nơi đây cũng thật là hạnh phúc (nếu chúng ta biết chấp nhận và biết “làm bạn” với nó). Hàng tháng các món tiền trợ cấp (như hưu bổng, tiền già, hay tiền bịnh) được chính phủ gởi về tận nhà. Ốm đau thì đã có bác sĩ, bệnh viện chăm sóc và thuốc men đầy đủ. Nếu con cháu có bận rộn mà phải gởi người già vào viện dưỡng lão thì nơi đây người già cũng được chăm sóc tận tình. Thậm chí nếu khi nhắm mắt xuôi tay thì tang lễ cũng được tổ chức trang nghiêm, ấm áp để người thân không thấy mủi lòng chứ không phải hẩm hiu như ông nội tôi ngày ấy...
  
Hằng năm khi tháng tư về hay đến ngày giỗ của ông nội tôi. Cả nhà tôi lại nhớ về ông nội và những tháng ngày cơ khổ sống bên ông. Thằng Út nói trong hối tiếc “Phải chi bây chừ có ông nội bên cạnh”. Chị Hai tôi thì cứ xuýt xoa khen mẹ “Phải công nhận hồi đó mẹ mình giỏi thiệt!”. Cha tôi nói như trong văn chưong, sách vở “Thì thời thế nó tạo ra anh hùng đó con à!”. Mẹ tôi thì mắt rưng rưng nói chậm chậm: “Đã mấy chục năm trôi qua, chuyện cũ tưởng đã quên... nhưng sao cứ nhớ hoài!”... 

Charlotte, những ngày cuối tháng Tư... 
Nguyễn Thị Duy.
********************************************