Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 Chúng Ta Đi Để Lại Trường Xưa

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Chúng Ta Đi Để Lại Trường Xưa

In PDF.
Vận nước Việt Nam đã cáo chung, ngày tang thương của đất nước, Dân Quân Cán Chính bàng hoàng, ngỡ ngàng di tản từng bước... từ miền Trung Ban Mê Thuột lui dần về Nam và sau cùng mất Sàigòn. Ôi thôi, không còn níu kéo được điều gì. Niềm hy vọng cuối cùng đã mất, người lính Việt Nam Cộng Hòa đành tuân lệnh buông súng. Vùng 4 Chiến Thuật sau đó cũng buông trôi theo số mệnh nghiệt ngã của toàn miền Nam, mất nước trong nỗi niềm uất ức, không nói nên lời.

Cũng do tình hình chiến sự biến đổi nhanh chóng, ngày 31/3/1975, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, nằm trên đồi 4648, thuộc thị xã Đà Lạt đã cùng với Quân Cán Chính Tiểu khu Tuyên Đức, là đơn vị di tản sau cùng xuôi Nam.

Chúng ta ra đi để lại ngôi trường thân yêu.

Thời gian 50 năm qua, một quân trường sinh sau đẻ muộn, được xây dựng từ một doanh trại Hiến Binh cũ mà cơ sở vật chất ban đầu thật hoang sơ, những tiện nghi còn quá thiếu thốn, các sĩ quan Hiện Dịch của ngành CTCT QL/VNCH được đào tạo từ nơi này. Đó cũng là trường huấn luyện các khóa Căn bản, Trung và Cao cấp CTCT, để bổ xung cán bộ CTCT cho quân lực theo nhu cầu.

Với các SVSQ/CTCT hiện dịch, thời gian thụ huấn là 2 năm. Ra trường với cấp bậc Thiếu úy và sau 2 năm phục vụ tại các đơn vị, sẽ được tự động thăng cấp Trung úy.

Các thanh niên muốn vào học phải trên 18 tuổi, độc thân, cao tối thiểu 1.60m, có bằng Tú tài II và phải trúng tuyển qua một kỳ thi sát hạch về văn hóa. Sau khi trúng tuyển, thí sinh còn phải qua một buổi thi diễn thuyết để chứng tỏ có khả năng ăn nói trước quần chúng.

Chương trình đào tạo và huấn luyện dự trù là 2 năm với các phần về Văn Hóa, Quân Sự và Chiến Tranh Chính Trị.

Các môn học về Văn Hóa bao gồm nhiều lãnh vực như Chính trị học, Dân Luật, Quốc tế công pháp, Bang giao quốc tế, Hành chánh công quyền, Kinh tế, Xã hội học, Tâm lý học, Nhân chủng học... Chương trình văn hóa này, tương đương với chương trình 2 năm đầu của các đại học dân sự bên ngoài. Trên lý thuyết là như vậy, nhưng về sau chỉ có Đại Học Vạn Hạnh nhận cho các sinh viên tốt nghiệp từ trường ĐH/CTCT/ ĐL ghi danh vào học năm thứ 3 các ban Nhân Văn Xã Hội mà thôi. 

Về phần chuyên môn Chiến Tranh Chính Trị, các sinh viên được dạy về lý thuyết Cộng sản, Duy vật Sử quan, Duy vật Biện chứng... Phần thực hành huấn luyện kỹ thuật tuyên truyền, hướng dẫn quần chúng, cách tổ chức các buổi văn nghệ, thuyết trình... 

Về Quân Sự, ngoài giai đoạn đầu ở Quang Trung hay Thủ Đức, SVSQ/CTCT cũng được gửi qua huấn luyện tại trường Võ Bị Quốc Gia mỗi năm 2 tháng, với cùng một chương trình và Huấn luyện viên, y như các SVSQ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Ngôi trường Đại Học Quân Sự CTCT nằm trên đồi cao, chung quanh là nhà cửa của dân chúng. Có những khu nhà cạnh sát hàng rào phòng thủ chỉ cách một con  đường đất nhỏ. Cũng có những ấp nhà cách khoảng xa dưới chân đồi với những mảnh vườn trồng rau xanh, bắp cải, xu hào tươi tốt.

Đối diện, cách một khoảng trũng từ Vũ Đình Trường, rồi một xóm nhà, qua con đường Võ Tánh là trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân. Nơi đây, hàng đêm, vì lý do an ninh, có những toán SVSQ, được hướng dẫn bởi sĩ quan cán bộ, kéo qua đóng quân tại các phòng học. Những cánh thư tình viết vội vã, bỏ lại trong ngăn bàn học trò... Những mối tình đã nảy sinh từ những lá thư bâng quơ mà không hề quen biết trước... Những buổi hẹn hò sau đó, những buồi chiều thứ bẩy cuối tuần, câu lạc bộ SVSQ đầy những tà áo xanh, hồng, trắng, đỏ lũ lượt ra vào.

Ngày mãn Khóa II/SVSQ vào ngày 19/2/1971, tính đến nay đã 46 năm rồi, nhưng những kỷ niệm và tình cảm với Đà Lạt vẫn còn tiếp nối của xứ Hoa Anh Đào đối với những chàng SVSQ/CTCT độc thân ngày nào. Một trong số đó là anh bạn còn kẹt lại Việt Nam, biệt danh Đức Trống, ngày xa xưa, phụ trách đánh trống cho ban nhạc nhà trường. Trong một tiệc cưới con người bạn, một cậu bé chạy lại bàn ăn, trao một tờ giấy rồi biến khỏi. Câu chuyện như ngày xưa, anh em đã biết chuyện bài thơ mà tác giả đề tên TTKH.

Bạn Đức đọc tại bàn tiệc, mọi người khen hay, đề nghị bạn Đức cho lên Mailgroups của Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/ĐH/CTCT/ Đà Lạt, nay đã thành hình tại hải ngoại để phổ biến rộng rãi. Thấy cũng vui vui nên ghi lại để mời quý “bạn già” đọc và nghiên cứu sau 50 năm rời mái trường xưa:

BAO GIỜ ANH TRỞ LẠI

 Mimosa đã nở vàng Đà Lạt
Chất đắng, nỗi buồn Đà Lạt chẳng còn anh
Còn đâu màu khăn xanh trên cổ áo
Còn đâu màu áo lính Alpha

Phải chăng lịch sử đã lật sang trang mới
Sao chẳng nói gì, để em giữ dấu chân anh
Ngang ngôi trường, giờ chỉ còn nước mắt
Cô bé ngày xưa với lô-cốt im lìm

Em còn nhớ sắp mùa thi rồi đó
Những hẹn hò em cứ mãi bâng khuâng
Trốn Ba Mẹ để nhìn anh qua khung cửa
Và chỉ nhìn đôi mắt ấy suốt mùa thi

Anh xa anh rồi, xa em mãi rồi sao?
Còn ai trong hàng rào nhìn em đến lớp
Còn ai để đón em chiều thứ bẩy... trời mưa
Còn ai để nghe em trách móc giận hờn

“Của tôi, của tôi” em hãy đùa với anh như thế
Anh cãi rằng “Chiến Tranh Chính Trị” cơ mà
Chiều mưa ấy mình hôn nhau lặng lẽ
Hòa bình ư? Hòa bình ư? Cướp mất anh tôi

Anh xa rồi... tất cả cùng xa
Chủ nhật này hay là anh cấm trại
Phố Hòa Bình không thấy bóng đôi ta
Im bóng nhạt nhòa với giọt lệ đầy vơi

Đêm trao nhẫn tưng bừng em vẫn nhớ
Sao không cho rằng đêm nhẫn của tân hôn
Để anh là của em mãi mãi
Đâu phải giờ này phải khóc hận chia ly.

(Bài thơ của tác giả Kiều Thơ
Trường Trung Học Bùi Thị Xuân Đà Lạt 
tháng 12/1976)


Ngôi trường Đại Học CTCT/Đà Lạt, trong thời gian Khóa II đang thụ huấn, với quân số gần 400 SVSQ, vì nhu cầu chiến cuộc, quân số tuyển gấp đôi so với khóa đàn anh Khóa I, chỉ có 200 SVSQ. Khoảng giữa khóa, trường mở một khóa Căn bản CTCT cho các sĩ quan Tuyên Úy từ 4 vùng Chiến thuật về học. Thời gian này, quân trường thật nhộn nhịp, tưng bừng với các chương trình văn nghệ, các buổi Sinh nhật Tập thể. Dân chúng thị xã, các nữ sinh trường Bùi Thị Xuân, thân hữu và gia đình quen biết với các SVSQ... cũng được mời vào Đại Giảng Đường để xem các buổi trình diễn văn nghệ độc đáo của khóa. Tất nhiên không thể vắng bóng những người yêu bé nhỏ, những người tình dấu yêu, những em gái hậu phương đang thầm yêu trộm nhớ... của các SVSQ đang thụ huấn, nhất là trong các tiệc dạ vũ được tổ chức mỗi khi có dịp lễ lạc. 

Niềm vui còn lắng đọng trong tâm tư thì tiếng súng bỗng vang rền trong đêm 30 rạng ngày 1/4/1970 khắp doanh trại của trường ĐH/CTCT/Đà Lạt. Một toán đặc công Việt Cộng, sau khi điều nghiên, đã chui qua đường ống rãnh thoát nước, ăn thông qua mé vành đai vào trường. Ngoài vòng đai cũng có các vọng gác của các SVSQ. Tuy nhiên đêm đó trời sương mù dầy đặc nên tầm quan sát bị hạn chế rất nhiều. Một ít tên lọt vào dãy phòng ngủ của các sĩ quan Tuyên Úy, tung lựu đạn chày và bê-ta. Các vị Tuyên úy nghĩ là những người tu hành nên từ chối không nhận vũ khí trang bị khi về nhập học, thành thử khi bị tấn công bất ngờ, họ chỉ còn nước bỏ chạy tán loạn về phía dãy doanh trại của SVSQ. Phần các SVSQ, khi báo động, họ rất kỷ luật, thao tác gọn gàng chạy ra vị trí hầm hố, sẵn sàng chiến đấu. Kẹt một nỗi, trong lúc tối trời, không phân biệt được ai là địch ai là bạn trong các bóng đen chạy loạn xạ miệng thì la “Đừng bắn, cha đây” hoặc “Thầy đây”, “Mục sư đây”. Bọn đặc công thừa dịp chạy theo, len vào dãy phòng ngủ SVSQ thảy lựu đạn xuống giao thông hào hay nổ súng vào chỗ có bóng người di chuyển. Ở những vị trí khác, đã kịp thời báo động. Một toán Việt cộng khác định xâm nhập từ hướng chùa Linh Sơn không thể lọt vào nên đã lẳng lặng rút dù cuốn gói. Cùng lúc, bọn Việt Cộng cũng đột kích vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt nhưng cũng chả gây được thiệt hại nào đáng kể.
 
Đến khi im tiếng súng, đèn khắp doanh trại được bật sáng để kiểm kê tình hình. Một cuộc lục soát sau đó cho thấy nhiều vết máu để lại trên đường rút lui của bọn đặc công. Những trái bê-ta lép, những trái lựu đạn chài không nổ, những vỏ đạn AK văng vãi khắp nơi... Lần theo dấu dép râu, chúng tẩu thoát bằng cách đạp hàng rào kẽm gai thoát ra bằng hướng trại gia binh. Trong lúc vội vã, một chiếc dép râu còn dính lại trên lớp hàng rào concertina. Sáng hôm sau, nhân dân tự vệ khu ấp gần đó bắt được một tên Việt cộng bị đồng bọn bỏ lại do bị thương nặng, chúng không thể khiêng theo trên đường đào thoát.

Phần thiệt hại của trường cũng thật đau xót. 5 SVSQ và 7 sĩ quan Tuyên Úy đã anh dũng đền nợ nước. 3 SVSQ bị thương nặng và đã giải ngũ sau đó: Đỗ Mạnh Chiến, Phan Văn Trà và Ngô Đình Chỉnh. Các SVSQ tử thương: Hoàng Hữu Cung, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Đình Phú, Tạ Cư Hãn và Vũ Đức Thăng.

Thi hài của tất cả các sĩ quan Tuyên Úy và SVSQ đều được quàn tại Đại Giảng Đường và có các SVSQ mặc quân phục đại lễ thay phiên túc trực canh gác cũng như chào kính, trong lúc chờ đợi gia đình những người quá cố từ các nơi về trường. Thật là niềm đau buồn chung cho Quân Trường. Cái biến cố đau thương ấy càng tạo ra sự gần gũi gắn bó thương yêu giữa các đồng môn bè bạn, tình huynh đệ chi binh, tình chiến hữu. Nó cũng giảm bớt sự cách biệt giữa cán bộ với SVSQ, tạo tình tôn sư trọng đạo khắng khít.

Đến ngày 19/2/1971, Khóa Nguyễn Trãi II mãn khóa trong tình trạng chiến tranh leo thang trên khắp mọi miền đất nước. Buổi lễ đã được Tổng thống VNCH đích thân lên dự lễ chủ tọa. Câu nói bất hủ của ông, đã để đời cho hậu thế: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”. Khóa Nguyễn Trãi II, đa số về làm Đại đội phó ở các đơn vị tác chiến theo như dự trù của TC/CTCT là đào tạo và cung ứng các sĩ quan CTCT cho cấp đại đội của Quân Lực VNCH.

Kể từ ngày đó, đến giờ chia tay, anh em Khóa Nguyễn Trãi II chúng tôi ra trường với 387 Thiếu úy, bổ xung về 11 Sư Đoàn Bộ Binh, 1 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị Nhẩy Dù, Các Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng và các Tiểu Khu trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật của đất nước, Pháo Binh, Thiết Giáp... Chỉ một số ít về các Tiểu Đoàn CTCT mà thôi.

Phân phối các sĩ quan mới tốt nghiệp về các đơn vị, theo nhu cầu của Bộ TTM định sẵn, cũng là một vấn đề rắc rối. Làm sao để công bằng? Theo Bộ Chỉ Huy nhà trường, nếu chọn đơn vị theo kết quả tốt nghiệp, có nghĩa là từ đậu hạng cao nhất tới người chót bảng, thì như vậy những đơn vị được chọn cuối cùng sẽ chịu thiệt thòi vì toàn là những người kém (?). Nếu không chọn theo thứ tự thì lại bất công với những anh đã bỏ sức rèn luyện, học hành suốt hơn 2 năm trời! Cuối cùng, để dung hòa, vừa có chọn lựa theo thứ hạng nhưng cũng có kèm theo chút may rủi. Bộ Chỉ Huy nhà trường để cho thủ khoa là anh Hồ Ngân bốc thăm ấn định số người trong mỗi toán. Kết quả là con số 7, nghĩa là, trừ 15 người đậu đầu từ 1 đến 15 được ưu tiên chọn đơn vị, từ anh đậu hạng 16 đến người cuối bảng 387, phải xếp vào các toán 7 người một. Thí dụ: toán 1 gồm các anh đậu hạng 16-22, toán 2 gồm các anh đậu hạng từ 23-29, toán 3 từ 30-36... Cứ thế, bắt đầu anh thứ nhất của toán 1 là anh đậu hạng 16 lên chọn đơn vị xong đến anh thứ nhất của toán 2 là anh đậu hạng 23... cho tới khi hết người. Kể ra thì cũng khó mà có thể có sự hoàn hảo trọn vẹn. Mọi chuyện trên đời đều là tương đối mà thôi. Đã quá lâu, tôi chỉ còn nhớ mang máng, tới phiên tôi được kêu lên chọn đơn vị, tôi thấy Sư Đoàn 18 cần 15 Thiếu úy, còn trống chỗ, tôi suy nghĩ thấy Sư Đoàn này thuộc vùng 3, đóng tại Long Khánh, gần Sàigòn, liền ghi tên mình vào! Cùng về SĐ18BB còn có các bạn Cẩn, Nhung, Cường, Khôi, Lý Thiện, Thùy, Khánh Vân, Nghiêm, Tam Thanh, Cơ, Khiêm, Hiệp, Hợi, Hà Văn Thành.

Chúng tôi trình diện ở BTL/SĐ18BB, rồi được phân chia về các Trung Đoàn và Tiểu Đoàn, xuống tới các Đại Đội. Tại các đơn vị sau cùng này, chúng tôi thực sự tiếp cận với cuộc sống tác chiến và đã gặp các Niên trưởng Khóa Nguyễn Trãi 1 phục vụ tại SĐ từ lúc mới ra trường tới nay như NT1 Nguyễn Hữu Nghĩa, Trần Văn Minh, Nguyễn Văn Liên...

Thế rồi, theo vận nước nổi trôi cùng thời cuộc, mỗi người một số phận, một cơ duyên, kẻ vào tù, người di tản kịp, kẻ vượt biên, người vượt biển, một số ra đi theo chương trình ODP, HO... nhưng cũng không dễ dàng, mau chóng nếu không chạy chọt đút lót! 

Mọi chuyện không còn đẹp, không còn thơ mộng như những gì mơ tưởng như lúc còn là SVSQ ở quân trường. Qua một cuộc bể dâu, giờ đây bạn bè còn sống sót ở Việt Nam, ở Âu Châu, Úc Châu, Canada, Mỹ... đã biến dạng thành những máy bay tàng hình  của Mỹ mang những ký hiệu U-60, U-70, U-80. Tất cả đang được hưởng ơn huệ EXTRA của quỹ thời gian, trong bầu không khí tự do với những kỹ thuật tiên tiến của nền văn minh hiện đại... Được thoải mái thưởng thức những bản nhạc vàng, nhạc tiền chiến hay nhạc đấu tranh mà mình yêu thích... Rồi với những máy tính, laptop, i-pad hay chiếc điện thoại “thông minh”, chúng ta có thể “muốn gì được nấy”, không cần phải tìm kiếm đâu xa cho vất vả cái “thân già”. Ngoài ra, nếu cần gì, bạn bè đồng môn, đồng hương, đồng tù... sẽ sẵn sàng chỉ dẫn để mình thỏa mãn 100% mà chỉ cần ngồi tại chỗ và bấm vài con số hay đánh vài chữ trên keyboard.

Thế nên, dẫu ở chân trời góc biển nào đó, ngồi nhớ lại “tình cũ bạn bè”, có gì lỗi lầm, thiếu sót cư xử, tất cả hãy bỏ qua và tha thứ cho nhau. Trước tuổi già, chúng mình không còn con đường lựa chọn nào nữa:

Chưa biết thằng nào đi trước thằng nào
Thằng nào đi trước thằng nào sau
Không thằng nào nói: “Tao đi trước”
Chả thằng nào nói: “Tao đi sau”
Đi sau, đi trước cùng đi cả
Thằng thì đi trước, thằng đi sau
Thằng đi sau lạy thằng đi trước
Thằng đi trước kệ thằng đi sau
Đi sau, đi trước cùng đi cả
“Théc méc” làm chi chuyện trước sau.

Năm tháng rồi cũng trôi đi. Thế hệ chúng mình gắn liền với điêu linh của vận nước, của lịch sử. Cuộc sống như bèo dạt mây trôi. Chúng mình lần lượt ra đi, những đứa con cùng chung mái trường xưa trên ngọn đồi 4648, lầm lũi ra đi. Số phận những đứa con còn kẹt lại ở mảnh đất quê hương Việt Nam, bịt miệng âm thầm sống qua ngày đoạn tháng. Những đứa may mắn hơn, sống tạm dung nơi đất khách quê người ờ hải ngoại, với tiết trời đang trở lạnh, sau mùa Xuân của quê hương mình, trong ký ức, ngôi trường xưa còn đó. Niềm hy vọng long lanh trong ánh mắt: Thân Dậu niên lai kiến thái bình. Tuy xa nhưng lòng không xa. Trong trái tim này vẫn còn đầy đủ hình ảnh của một thời SVSQ quân trường, một thời áo trận đã qua đi. Hy vọng năm Dậu đất nước được trở lại thanh bình để có thể về lại thăm ngôi trường “quân đội” khi xưa. Mặc dầu bây giờ đã buông súng, tuổi đã già, tay chân đã run rẩy không còn làm gì được nữa, nhưng những lúc rảnh rỗi, nếu có điều kiện, tôi vẫn cố có mặt trong các sinh hoạt với anh em, bạn bè vào các dịp Đại Hội, để nhìn lại những khuôn mặt thân thương dù đã thay đổi quá nhiều theo thời gian, nhưng vài ánh mắt, nụ cười vẫn còn nét gì đó quen thuộc phảng phất của một thời đã qua.

Có lần, tôi gặp một vài anh đã từng trở lại thăm ngôi trường cũ. Tò mò, tôi hỏi thăm thì được biết: trường cũ của “phe mình” nay đã đổi tên, Bộ Chỉ Huy tỉnh đội Lâm Đồng. Dãy nhà trước vẫn giữ nguyên hình dạng không thay đổi ngoài những gạch đá rêu phong phủ với thời gian khiến dáng vẻ thêm phần bệ rạc. Khoảng đất trống trước mặt là Vũ Đình Trường ngày xưa bây giờ biến thành cái sân bóng để các anh bộ đội áo xanh vui chơi, giải trí. Phía bên phải dãy nhà 2 tầng của Bộ Chỉ Huy, xuất hiện các dãy phố bán tạp hóa, tiệm sửa xe gắn máy... Cổng gác vẫn nằm tại vị trí cũ ngày xưa là vọng gác Anh Đào. Khu trại gia binh, phòng Văn Khang bây giờ biến thành con đường trải nhựa chạy dài bọc quanh khuôn viên doanh trại với những dãy nhà lầu “hoành tráng”, xây dựng kế con đường, do đám cán bộ miền Bắc vào Nam “giải phóng” đất đai từ tay Mỹ-Ngụy, nay thuộc về tay “nhân dân” hay đúng hơn là thân nhân, gia đình bà con của bọn cướp ngày này. Cháy nhà ra mặt chuột. Bây giờ thì dân chúng miền Nam đã rõ: “Anh giải phóng tôi hay là tôi giải phóng anh”. Lời ca tiếng hát được dân chúng thích thú, thoải mái với hình ảnh xã hội bây giờ xảy ra.

Đi một vòng quanh khu trung tâm thị xã, chợ Đà Lạt bây giờ đã biến dạng, bày bán quần áo “xi-đa”, quần áo hải ngoại gửi về cứu trợ cho nạn nhân bão lụt ở Việt Nam cũng thấy bày bán ở đây! Thật là không còn một chút mỹ quan nào cả. Hồ Xuân Hương thì cạn nước, cỏ dại mọc quanh hồ. Nhà Thủy Tạ nằm chơ vơ. Những chiếc xe đạp nước hình con vịt ngày xa xưa thường tung tăng trên mặt hồ mỗi khi có khách viếng Đà Lạt thuê để dạo cảnh, nay nằm yên một góc. Cả những khóm hoa Anh Đào khoe sắc xinh tươi mà các SVSQ thường lấy làm bối cảnh để chụp hình, nay không hiểu sao cũng mất vẻ mượt mà mơn mởn, đu đưa trước gió như thuở ngày xưa! Ôi Đà Lạt ơi! Thôi giã từ em nhé!

Thưa những người bạn lính CTCT của một thời niên thiếu, đẹp như hoa Anh Đào Đà Lạt, qua một cuộc bể dâu, giờ này còn sống sót, rất may mắn, nghĩ ngược lại, nếu còn ở tù, bây giờ không được xanh cỏ như mình nghĩ, chỉ có chiếu rách, bao ny-lon rách ôm trọn đời anh dưới hố cạn. Không cần biết anh là ai, không bảng tên, không dấu tích. Bây giờ đã già, đã yên thân trên mảnh đất được tự do, biết bao nhiêu người muốn tìm đến nhưng chưa được. Xin cám ơn Thượng Đế, cám ơn đời, cám ơn các bậc anh hùng Niên trưởng, cám ơn bạn bè cùng khóa đã anh dũng ngã xuống khi tuổi đời chỉ mới đôi mươi, với hoa vàng chỉ vừa chớm nở trên vai, hy sinh để chiến đấu vì tự do cho miền Nam Việt Nam yêu dấu.

Ôi trường xưa! Chúng ta bỏ ra đi cũng vì phần số và vận mệnh của đất nước.

Cám ơn đời, mỗi sớm mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương.

Virginia, Cuối Đông, tháng 3/2017.
NT2 THÁI PHÁT TÀI.
********************************************