Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 Anh Còn Nợ Em

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Anh Còn Nợ Em

In PDF.

Bước xuống xe đò Bình Điền Huế ở bến Gia Hội, tôi vội vào chợ Đông Ba, cốt chỉ đi một vòng cho thỏa nỗi nhớ sau khoảng thời gian gần năm năm ở tù. Hình như có một động lực tự nhiên, tôi tiến tới hàng đồ chay tìm tin tức thằng bạn tù mới ra cách đây không lâu. Bác Cửu, mạ của Ngô Chi đang ngồi bán đậu hũ, nhìn thấy tôi, thoáng sửng sốt rồi mừng rỡ, nước mắt ứa ra:

- Rứa là con cũng được về, tạ ơn trời Phật. Thằng Chi mấy về nhà đã mấy tháng rồi, có nhắc con.

Nhìn đầu  bác Cửu, tôi từng biết vì nghe Chi kể bà nguyện khi hết chiến tranh mà hai đứa con trai Chi và Từ còn sống và trở về thì bà xuống tóc.

Bác Cửu dí vội tờ giấy bạc 5 đồng và đẩy đi:

- Con đi ăn tô bún đi rồi trở lại.

Mẹ tôi giờ nầy chắc cũng biết rồi. Thống, bạn tù phóng thích cùng đợt đã xuống đò về làng và nhắn tin ngay cho người anh ruột lái thuyền là tôi đã được ra trại cùng một ngày.

Suốt buổi chiều, tôi cố tình ở lại Huế chơi vì thừa biết khi về địa phương là bị quản chế ngay. Cảm nhận đầu tiên là thấy lạc lõng, xa lạ khi đi bộ quanh phố. Qua cầu Tràng Tiền, ngang qua khu đại học Kiểu Mẫu để được nhìn lại nơi chốn mình ghi dấu nhiều kỷ niệm thuở đến trường, mà trải qua 5 năm nơi núi rừng chỉ là một bóng mờ trong nỗi nhớ. Lòng cũng buồn, nôn nao khi biết cha mẹ già của mình giờ cũng ngóng trông từng phút giây. Một người bạn đồng khóa rất thân như bóng với hình - Thanh - đang đạp xe thồ trước Đập Đá nhận ra tôi. Mới nhìn, hắn khựng lại, há hốc không nói được vì bất ngờ, chỉ biết lậy cậy chỉ lên chiếc yên sau và thồ đi đến chợ Cống gần đó. Tại đây, bên tô cháo và điếu thuốc Sơ-mít chỉ đủ mua cho riêng mình tôi, hắn mới nhìn kỹ, hơi choáng váng vì hai hình ảnh quá tương phản khi lần cuối gặp nhau cuối tháng 4/75 là lúc tôi và Ngô Chi lên xe GMC trình diện TQLC lúc ra trường trong lúc nó ra Sư đoàn 18 BB.
 
Đúng vào lúc nầy, tôi gặp lại Ngô Chi. Khi được tin và tìm đến, vội vã hắn chỉ qua nhà thương nơi Nguyễn Minh Hiền đang điều trị. Hiền là bạn tù, bị bắt ở Thuận An khi tháng 3 gãy súng, chung lán trại với Chi, Duyệt, Thìn, Huê, với vô số anh em TQLC tại Cồn Tiên và chơi thân với nhau lắm trong những năm tháng dài tù tội. Té ra Hiền chưa được thả và lâu quá không nghe tin. Anh bị suy thận rất nặng có thể vong mạng thì từ trạm xá Bình Điền, anh được đưa về bệnh viện trung ương Huế, nhân nhờ tình cờ có một ông lớn từ Hà Nội vào thanh tra trại. Công an Bình Điền không cho chuyển viện vì cho rằng ác ôn thì chữa làm gì, loại  nầy cứng đầu và phản động. Thanh tra Hà Nội bảo rằng, ác ôn còn sống thì cứ trừng trị, mà bệnh nặng thì phải chuyển  viện. Tại đây Hiền may mắn từ cõi chết hồi sinh trở lại. Ngô Chi đi thăm người thân và tình cờ tìm thấy trước ngõ bệnh viện khi mấy Công an đang dẫn một anh tù yếu ớt đi vào. Bạn tù Bình Điền ra trại trước, khi được nhắn liền tìm đến ngay. Ngô Chi mang bánh đường, lon sữa và gói bột Bích Chi vào thăm - lòng se thắt thấy người bạn viễn thám TQLC nầy nằm trên chiếc giường bệnh, ống chân bị còng vào thanh giường bằng một cái còng số 8 với một tên công an áo vàng ngồi canh bên cạnh. Lúc nầy Nghiệp, TĐ6, được thả và trên đường về Sàigòn, anh ghé Qui Nhơn nhắn cho gia đình hay. Bà mẹ già được tin khóc thương con quá liền cùng ông anh của Hiền thay phiên ra săn sóc. Nhờ nhanh trí, mặc chiếc áo y công vờ làm người quyét dọn nhà thương nên ở lại được suốt 2 tháng trời để lo cho Hiền trước khi bị dẫn giải lại lên Bình Điền. Nay bên xứ Nữ Thần Tự Do, Hiền- FL, được ghép luôn hai trái thận do một em bé 12 tuổi hiến tặng, danh tánh được giữ kín nên thư cảm tạ chỉ được gởi qua bệnh viện nhờ chuyển.
 
Trở về địa phương trong sự xót xa yêu thương của cha mẹ và người thân, tôi bị bất đắc dĩ quay lại nghề làm ruộng. Mỗi ngày các tổ đội điều đi đào đất, lắp hố, nhổ cỏ lúa, đạp nước. Thỉnh thoảng, tôi gặp anh Hảo, Chuổi, Dưỡng, Thống, Sầm, Toan cùng trại Ái Tử-Bình Điền trên đồng ruộng. Ai cũng cười nhạt với nhau và lắc lắc cái đầu, khó nuốt thật. Tại địa phương nầy, số đông bạn tù mà có thân nhân VC, ra trại sớm được sung vào làm chức sắc hợp tác xã nhờ có chữ nghĩa, không trực tiếp ngoài ruộng như số anh em “học dở, lâu về” như chúng tôi. Những ngày lễ lớn, công an địa phương mời ra tập trung vì sợ nổi dậy. Đêm phải ngủ lại, ngày thì đào gốc lấy củi nấu xôi, heo cho chúng ăn mừng lễ. Thống Vĩnh lại và tôi mãi chua chát, tính chuyện đi nam sinh sống.

Một hôm Ngô Chi về tận làng thăm. Hắn ăn mặc lịch sự với bộ đồ veston mang về được từ thuở năm cuối quân trường cho phép mặc đồ dân sự và khi nhìn tôi lam lũ với bộ áo quần thủy lợi dính bùn, hắn nói:

- Đất nước mất và mày cũng mất cuộc tình đó luôn sao?

- Làm người phải có chung thủy. Tôi trung không thờ hai chúa. Mi chỉ tao người tình sư phạm đi để tao biết thế nào là cái thức thời mới vượt cả giá trị tình yêu...

Khi chương trình HO ra đời, mỗi ngày trên bến tàu Gia Hội, tôi đều gặp những người bạn tù từ Bình Điền như Châu Rọt, Lê Ngà, Đức đen, Thân, Xuân, Sanh... Ai cũng nôn nao trông ngóng, tìm hiểu, điền đơn, chạy dịch vụ thì Thống lại nói:

- Mấy anh đi hết thì ai ở lại đấu tranh cho dân chủ ở quê nhà. Tôi ở lại với thầy Nguyễn Mạnh Đôn lập phong trào.

Qua tới Mỹ khá lâu, tôi viết thư dặn dò, phân tích, tạo thuận lợi cho gia đình. Khi đó Thống mới nộp đơn và ra đi trôi ngót, dù chậm.

Lần đầu tiên tham dự hội ngộ Ái Tử-Bình Điền toàn quốc tại Denver Col., tôi thật sự xúc động khi nhìn lại được những người bạn tù từng sát cánh nhau từ Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Ba Lòng và cuối cùng là Bình Điền. Nỗi mừng vui khó tả khi nhìn lại Mạnh cao, Phước lùn, Cương, Trực ốm, Thục râu, Cường Đốc Sơ, Phiếu F5 và đặc biệt gặp các MN như Giang văn Nhân, Nguyễn Báo, Lê Hạ Huyền... Niềm hạnh phúc khó tả vì không nghĩ rằng có một ngày chúng ta lại được đoàn tụ từ khi ra tù nơi chỉ có tình đồng đội cùng chia sẻ hiểm nguy, gian khổ để vươt qua... Những năm tháng dài bên nhau hầu như mỗi chúng tôi đọc rõ nhau từng phút giây trong cái thiên thu ngày tháng. Thống Denver, với mái ấm gia đình nề nếp hạnh phúc hôm nay, cũng không xóa vết những ngày trước ở Vĩnh Lại với người vợ đảm đang, đàn con dại với nghề trồng mía nấu rượu nuôi heo, mà ấn tượng còn đeo mãi về một gia đình quá sức vất vả.

Nhìn Nguyêt, vợ của Thống, mới thấy người con gái đảm đang, nhẫn nhục và thủy chung theo chồng đúng nghĩa. Mỗi lần ghé qua, thấy luôn tất bật hai bếp lửa rơm, quần xăn áo bo khi nấu cám heo, khi lột lá mía, tay làm miệng nói để dìu dắt đàn con dại. Không chỉ riêng Thống - Nguyệt mà cặp Hảo -Lai, Chuỗi, Dưỡng, Súy,Mão, Thanh... đều nhịp nhàng gắn bó với nhau dù địa phương phong tỏa, bao vây gay gắt từ sau ngày rời trại Ái Tử Bình Điền.
 
Một ngày gần cuối năm 81, Huế  đương mùa lũ lụt với những cơn mưa tầm tả, mưa như chưa có bao giờ lớn như vậy. Bên ngoài sông Hương dòng nước dâng cao đến nỗi toàn cánh đồng ruộng, các con đường  chỉ một màu nước nhấp nhô bạc trắng. Con tàu rước dâu ngay trước ngõ, chạy trên đường bộ, ngang nhiên đạp nước qua các xóm làng, trên con đê, băng qua các con đường đất đưa dâu về nhà. Công thằng Xuân thợ rèn, Thống A Len khó trả, vẫn còn kể lể đến giờ. Cái ngày đi phụ rể chưa có trong lịch sử, khi phải lột bộ đồ veston mà chui xuống gỡ rong dưới chân vịt và phụ đẩy thuyền khi mắc cạn nhiều lần trong cái giá lạnh tê tái. Trời đất sao quá đặc biệt cho ngày cưới nầy để cơn mưa bão, gió hú mưa rơi làm lời chúc, sóng triều dâng của cơn đại hồng thủy hiếm có làm tiếng nhạc mừng, để chiếc tàu thủy thay xe ô tô chạy phon phon trên đường bộ. Trường học phải đóng cửa, cho về sớm vì lụt lớn nhưng cô giáo, học trò được dịp tụ lại trên bến tàu hiếu kỳ nhìn đám cưới nhà binh với chú rể, phụ rể Ái Tử-Bình Điền phong trần như mới từ quân trường ra.

Tôi cố làm ngơ giữa tiếng xì xầm:

- Chú rể trông già mà cô dâu thì sao nhỏ thế!! 

Chưa hết, một tiếng nói cố nhét vào tai cô dâu đang ngơ ngác bước lên bến:

- Cô nầy dám ưa dân “cải tạo”, có uổng không đây? 
 
Tội nghiệp thằng Xuân, trong tiệc cưới dường như thêm có động lực ngầm nào nên tung hứng hết mình như đang thổi bệ lò rèn làm cả nhà ngưng việc vây quanh. Bao chuyện đông tây nam bắc được tuôn ra đễ cuộc vui “Tiệc bạn” được nhiều tiếng cười ròn rã. Tiệc tan sớm vì phải trả đoàn đưa dâu về trước trời tối và cũng may trời dịu xuống, gió lặng, sóng yên. Hai người phụ rể Xuân Thống liền tình nguyện hộ tống hai cô phụ dâu Thanh, Mến đẹp như tiên nữ trở lại thành phố trước khi lên đèn. Không biết sau đó có làm nên nỗi chi không mà nghe... im re đến chừ đó Lộc, Quyên.

Đến hơn ba mươi năm sau, người Huế vốn hay thù dai nên khi thỉnh thoảng có bất hòa, hai thằng phụ rể nầy hay nhai lại các bài ca có uẩn khúc hát trong tiệc cưới... Qua Cơn Mê và Chuyện Tình Buồn để “dũa” tôi, bắt tôi nhớ lại tiếng hát buồn một người tham dự ngày ấy...
  

Người vợ bé bỏng tôi mang về xứ ruộng trong vòng quản chế chỉ sau tiếng cười ngày cưới là cả vực nước mắt tiếp nối theo. Chỉ vài tháng trước, có những buổi trưa xâm mình vào hang bắt cọp, khi anh lái đò ghé chờ khách ở bến Đông Ba đột nhập tiệm uốn tóc Thuận Thái ở đường Trần Hưng Đạo, Huế, chai mặt tìm em, giữa hàng chục con mắt chị em thợ soi bói nhìn. Một người khách, phải nói là  Dĩ Vãng Tìm Quên, đã âm thầm viết lên tường của tiệm tóc hàng chữ Chúc HueHa mau có cu Bi khi hai chúng bắt đầu thề non hẹn biển. Không biết em chịu cái chi ở tôi, người lái đò - ngoài bộ đồ loang vết mồ hôi vì mưa nắng giãi dầu trên sông nước Hương Giang hay chỉ có ông trời cột tơ duyên lại để rồi nhắm mắt đưa chân đi làm dâu nghề nông. Mỗi ngày em quay tít với bếp lửa rơm, gánh cơm bới, nhổ cỏ lúa, dọn ruộng, bứt tót, giên lúa. Nhìn đôi chân “thành phố” trắng hồng xăn tận háng, em nhảy cỡn lên khi đỉa bám lúc lội ruộng nước, thì không tả nổi xót xa. Trong nhà lại nhiều việc hiếu sự như kỵ giỗ, giánh phái nên em liền tay đến liền chân hoài. Cái tội trót dại thương chàng, chịu làm dâu đại gia đình cho đẹp cả hai - bên hiếu bên tình. Hằng đêm sau một ngày lao động theo tổ, đội ngoài ruộng đồng và khi mọi người đi ngủ, xóm vắng người tôi thường âm thầm côn đôi thùng đi gánh nước hoặc kín đáo xuống bến sông giặt giũ thay nàng. Cứ nhìn cái lưng ong trun lên khi ráng sức côn hai thùng nước và đống áo quần phải giặt cho cả gia đình là thấy ánh mắt em muốn chực trào ra trong khi ruột gan tôi hết bề xót xa... Đêm về, rã rời sau một ngày làm dâu, em nằm vật người ra, giăng mùng không muốn nổi, nhưng cũng thừa nũng nịu:

- Anh ơi, mấy con muỗi nó kêu Hue, hue , hue... kìa!

Bề bộn thế mà cũng một lần ưu ái tẩm bổ cho chồng món ăn chàng thích là miến xào lươn. Món nầy nhớ mãi đến cuối đời, chết cũng mang theo. Số là khi ra trại, ngoài bộ đồ xanh có sọc trắng và tờ giấy ra trại, tôi còn mang theo mấy anh vi trùng sốt rét loại king size từ rừng Như Xuân và Bình Điền. Một dạo, cứ vào chiều, nghe ớn lạnh trong mình và khi da gà vừa nổi lên là xương sống run lên bần bật. Cơn lạnh buốt đến rửng tóc, cùn lưng, trun vai - chiếc giường muốn sập theo nhịp lay của xương sống, rung cả toàn thân. Chăn mền đậy kín cũng vô ích vì cái lạnh từ trong bung ra. Trí não không còn một chỗ để tưởng tới, kể cả lưỡi hái tử thần. Khi hạ cơn, đang còn mơ mơ màng màng thì nghe tiếng thỏ thẻ:

- Anh ơi, em biết anh ngoài ưa em, anh còn ưa cái món nầy.

Người thương, món thích còn chi hơn, tôi lồm cồm bò dậy  và xơi một lèo...

Về sau, lạ lùng và như nhiệm mầu, bệnh sốt rét bớt hẳn và vĩnh viễn rời xa. Cho đến một hôm, em cười nhẹ pha bí hiểm:
- Nhờ em cho anh ăn trùn khoan mà lành đó. Hôm đó em xào với bún miến đó anh!
 
Có phải vì...

Có những người trai đáp lời sông núi lên đường khi đất nước vào lúc nguy nan. Họ giã từ trường lớp khi tuổi vừa đôi mươi, khi mà tình yêu chưa kịp đến, có chăng chỉ là một thoáng mong manh, chưa biết hẹn hò... nơi công viên bến vắng hay thơ thẩn nhìn lá đổ chiều thu. Ngay vào những giờ phút miền Nam nguy nan hấp hối, có những người trai vẫn hiên ngang tiến ra phía trước, hăng say và đầy nhuệ khí như tự thuở nào...
 
...Và họ ở lại với đất nước, chung thủy với cuộc chiến, chung tình với quê hương để trở thành người tù không bản án khi thua cuộc mà kẻ thắng là chế độ Cộng sản dã man. Cộng sản trả thù lớp sĩ quan, công nhân viên miền Nam Việt Nam bằng những năm tháng khổ sai nơi chốn núi rừng, nời đèo heo hút gió như Lao Bảo, Cồn Tiên, Như Xuân, Ái Tử - Bình Điền...
    
22, 25 tuổi đời, thời kỳ tràn trề sức sống, là nguồn nhân lực của tài nguyên đất nước nay bị bạo quyền Cộng sản đem ra trả thù bằng những ngày tháng mịt mù tù tội không có ngày về... Sức trai trẻ, tuổi của tình yêu và hy vọng, bị tiêu hao trên núi rừng với hằng ngày khai quang, chặt hạ, cuốc đất, cắt tranh, đốn củi... riết rồi như những người miền núi:
 
Ở đây lâu quá ắt thành thượng
Giống thượng lai căng chẳng nhớ rừng

Cho đến một ngày, họ được trả về sau 4 năm, 5 năm hay lâu hơn với một thân xác rã rời cùng một bản án lý lịch vĩnh viễn là sĩ quan, viên chức chê độ cũ để tiếp tục bị khống chế, trả thù từ đời cha đến đời con, hòng cố dìm sâu xuống tận cùng xã hội. Khi lập gia đình, vợ con ăn theo nghĩa là vợ ngụy, con ngụy thì cửa tương lai có đâu mà mở để từ việc làm, học hành, tự do cá nhân đều như không thể có.
 
Nhưng có những nàng tiên xuất hiện mà:

Vạn đóa hoa hồng không đủ vinh danh
Cho bao kẻ:
Chí vẫn còn nhưng sức không kham nỗi đoạn đường
 
Họ, như những thiên thần, bù đắp cho chúng tôi hơn muôn trùng kỷ niệm tuổi hoa xuân đã mất. Cái thời hoa niên dệt ước mơ vào đời, của một tình yêu cao thượng, cho dẫu muộn màng và là nguồn trợ lực cho kẻ lữ hành mà bước đi không bao giờ ngừng, dù dưới mọi hoàn cảnh. Thương anh, chưa hề mơ ước được đi dạo phố  bên anh - người lính với vóc dáng oai hùng người trai thế hệ.
 
Anh Còn Nợ Em!!!
 
Nắm tay dắt đàn con thơ cùng một ngày 12 của tháng 11- ngày sanh nhật - ngày cưới và ngày đi Mỹ trùng nhau như một định mệnh - và khi hướng về con tàu trên sân bay sẽ đưa mình rời xa quê hương, hẳn đôi mắt em không khỏi nhạt nhòa khi hình ảnh ngày qua thoáng hiên cuộc tình vượt trên tù tội, lý lịch và hiểm họa của bóng tối tương lai vây kín mà tình yêu cho anh, người lính Cộng hòa với trái tim nhân bản trong lý tưởng vì tự do, đã là đáp số bài toán cuộc đời dù em thừa hiểu: Ai biết Trời cao mấy tuổi...
 
Nhập trong đoàn người các gia đình cựu tù nhân chính trị ở  lần hội ngộ toàn quốc 7/2012 tại Denver, Colorado. Và tuy thời gian phôi pha, họ có dịp gần nhau, cùng nhau ôn lại những kỷ niệm thăng trầm trong cuộc sống. Chúng tôi gặp được rất nhiều anh chị em như Phúc Hiền, Diệu Hạnh, Xuân Lộc, Thống Quyên, Phước Ánh, Cường Liễu, Bào Tốn, Mạnh Cam, Cương Diệu, Hạ Huyền, Phồn Vân... là những người có chung duyên nợ ân tình từ hấp lực tình yêu trai chinh chiến, gái thuyền quyên nơi hạnh phúc trải dài bằng những gắn bó theo các khúc quanh đen tối của vận nước với nhiều kiên trì, nhiều thử thách và nay khi  trên vùng đất tự do nầy, họ luôn sát cánh cùng nhau trong công cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Bên cạnh đó, sự dẫn dắt và đào tạo thế hệ con em trong xã hội mới biết tiếp nhận hùng khí, là di sản quý báu được đắp bồi bằng sự dấn thân, bằng tù tội của cha mẹ mình để làm nhuệ khí cho con em đi lên, hướng về tương lai là tài nguyên, cơ đồ cho đất nước.

********************************************