Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 Tiếng Chim Gọi Đàn

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Tiếng Chim Gọi Đàn

In PDF.

Trong buổi họp mặt tại nhà anh chị Trần Minh Niên vào thượng tuần tháng 11/2015, anh em đề cập đến ngày hội ngộ “Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Nhập Ngũ”’ vào tháng 5/2016. Để có món quà lưu niệm, anh em bàn về việc thực hiện Đặc San. Với nghề nghiệp của mình, tôi tình nguyện layout vì để bạn bè cùng khóa chỉ đích danh vừa bị chửi thì cũng tội nghiệp thân già.

Qua Lá Thư của anh đại diện Khóa NT1 Nguyễn Văn Liên cho biết: “Thực hiện Đặc San Khóa I nhân dịp Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Nhập Ngũ. Theo ý kiến của anh em, đây là Đặc San có tính cách nội bộ nên nội dung bài viết liên quan đến tâm tư, tình cảm, sinh hoạt, công tác... giữa các anh em Khóa 1 với nhau từ ngày ở quân trường, ngoài đơn vị và tại hải ngoại... trải dài qua 5 thập niên...”.

Kỷ Yếu Khóa Nguyễn Trãi I ấn hành năm 2014 để “Kỷ Niệm 45 Năm Khóa Nguyễn Trãi I Ra Trường” phải mất 3 năm mới thực hiện xong. Một năm sau lại tiếp tục thực hiện Đặc San, anh em lo ngại bài vở đóng góp để hình thành. Trong Khóa I có các cây bút như Đỗ Văn Phúc, Thiết Trượng (Nguyễn Ngọc Dậu), Phạm Gia Hòa, Nguyễn Tư Cao (Nguyễn Cư), Hạ Ái Khanh (Dương Viết Điền), Trần Kim Khôi, Phạm Đức Khôi, Nguyễn Thuyên (Nguyễn Xuân Trung), Lê Đức Luận, Đặng Phú Thiệt (quá cố), Đào Hoàng Việt... trên các lãnh vực chính trị, văn hóa nghệ thuật, y học, dịch thuật... (có thể thực hiện được tuyển tập) nếu có sự đóng góp trong lãnh vực nầy thì bài vở phong phú, có bề dày cho Đặc San nhưng theo ý kiến anh em và anh đại diện Khóa I như đã nêu ra trong Lá Thư, giữ được nội dung nầy rất tốt, có sắc thái đặc biệt, nhưng thật tình lúc bắt tay vào công việc, anh em chúng tôi cũng lo ngại liệu có hoàn thành được không?

Về danh xưng, vài quân trường chọn tên riêng đặt cho khóa nhưng Trường ĐH/CTCT đều lấy tên vị Thánh Tổ Nguyễn Trãi của ngành CTCT đặt tên chung cho các khóa, vì vậy khi gọi tên Khóa I (II, III...) Nguyễn Trãi hay Khóa Nguyễn Trãi I (II, III...) để gọi cũng như nhau vì trong các bài viết, anh em gọi theo thói quen.

Bài viết đầu tiên của anh Phạm Gia Hòa với Tiếng Nói của những Con Số Chết khởi đầu cho Đặc San nầy với những dòng kết: “Nhìn những bạn chung quanh, nhìn lại chính mình mà tuổi gần như tất cả đều ít nhất cũng ‘chỉ mới có’ thất thập đang yên ổn sống ở xứ người, rồi tưởng đến 4 người bạn đã vĩnh viễn ra đi, ngoài chiến trường, ở tuổi 24, thú thực, tôi không biết mình nên nghĩ đến điều gì, nên nghĩ như thế nào cho phải”. Những dòng chân tình đó làm tôi xúc động và tự nhủ, dù mất nhiều thời gian nhưng cùng với anh em góp một bàn tay nên làm được điều gì với bạn bè còn có nhau hay đã ra người thiên cổ.

Qua bài viết của anh Phạm Gia Hòa và vài người bạn, tôi nói với anh Nguyễn Mạnh Vỹ nên chuyển những trang đã layout đến anh em xem qua để có ý niệm gợi nhớ chính xác thời điểm bạn bè qua đời để viết nhưng theo ý anh đại diện thì “giữ bí mật, gây sự tò mò”. Qua kinh nghiệm, tôi thấy như vậy nó trầm lặng quá và không tác động được sự đóng góp của anh em, và sau khi trao đổi với nhau, tôi gởi vài chục trang như thông báo cuộc hành trình đã khởi đầu.

Trung tuần tháng Giêng 2016, nhận được bài viết, tôi layout được 130 trang, chuyển sang PDF muốn gởi đến anh em đọc để có nguồn cảm hứng sáng tác... Nhưng tôn trọng ý kiến của anh Nguyễn Văn Liên, tôi tách ra từng file bài viết để gởi đến tác giả xem qua và bổ túc thêm. Khi viết, tác giả không để ý, khi đọc lại thì thêm, bớt. Rồi 175 trang, 215 trang, và cuối tháng Giêng được 300 trang, niềm vui xóa tan nỗi lo về bài vở cho Đặc San. Vào dịp Tết, các anh chị liên lạc với nhau, có lẽ kèm theo lời nhắn đóng góp cho Đặc San nên nhận được khá nhiều bài viết và số trang lên tới 450.

Anh em viết qua các dạng Unicode, VPS, VIQR, Vietware... có bài chuyển qua PDF, hoán chuyển sang VNI, đôi khi lỗi typo với sắc huyền hỏi ngã, khoảng cách nhảy tung tăng, phải edit, sửa morasse với số trang quá nhiều nên không thể nào tránh khỏi những sai sót. Khi layout phải chuyển qua font chữ VNI-Oxford vì font chữ nầy tôi đã thực hiện cuốn sách, Amazon in nên hy vọng giao cho nơi nào in cũng được. Anh  Nguyễn Văn Liên & Nguyễn Mạnh Vỹ chịu khó liên lạc thường xuyên cùng với lời hứa hẹn đóng góp bài vở tạo niềm vui cho anh em khi đảm nhận công việc thực hiện. Vài bạn dị ứng với máy móc, thích chơi đồ cổ - viết tay (handwriting) - Nguyễn Mạnh Vỹ  trúng mánh! Tuy vất vả nhưng là “món quà lưu niệm” với tinh thần tự nguyện, sẵn sàng đáp ứng. 

Về hình thức, cuốn Kỷ Yếu đã thực hiện full color rồi, tôi đồng ý với anh Phạm Gia Hòa: “In trắng đen đẹp hơn, trang trọng hơn, trang nhã hơn, và chân tình hơn. Và đặc biệt, kỷ niệm nhiều hơn. Cứ tưởng tượng xem những tấm hình trong Trường mà một số bạn còn giữ, có bao nhiêu cái là hình màu... Chúng ta hồi đó chỉ có hình trắng đen, thì bây giờ cũng vẫn muốn đen trắng”. Vì vậy, Đặc San nầy không có hình ảnh màu và trắng đen lẫn lộn nằm rải rác và thêm màu sắc trong những trang sinh hoạt cuối cùng, không có quảng cáo như những Đặc San khác. Tôi mong mỗi bài viết có hình ảnh tác giả kèm theo, khi tìm trong các tấm hình chụp chung với nhau mà dpi 72, khi tách ra thành chân dung nên không được vừa ý. Về hình ảnh, với tôi, Phan Đắc Lập chịu khó sưu tầm để thực hiện được di ảnh anh em cùng khóa đã hy sinh và quá vãng là hình ảnh quý nhất, hiếm nhất, sắp xếp theo thời gian (sẽ in thành poster). Với di ảnh nầy cùng với với các bài viết của anh chị em thể hiện tấm lòng của kẻ ở người đi. Mà, trước đây nếu không gợi ý để thực hiện Đặc San thì vô tình và thiếu sót, đôi khi cảm thấy ân hận vì sẽ chôn vùi theo năm tháng!

Khi thực hiện được 350 trang, tôi đã chuyển file PDF cho Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Mạnh Vỹ và Phạm Gia Hòa để “kiểm duyệt”, Nguyễn Mạnh Vỹ gởi hình ảnh và đề nghị chọn hình ảnh sau nầy nên một lần nữa, chỉnh lại từ đầu.

Đặc San kỷ niệm... đến tay quý nương, anh em... là công lao chung với nhau, đặc biệt với anh đại diện Khoá I và anh Nguyễn Mạnh Vỹ (tôi gọi SVSQ liên lạc) với tấm lòng nhiệt tình, nhẫn nại đã liên lạc với nhau qua email, điện thoại. Nếu cần hình ảnh nào liên quan đến bài viết, hai anh chịu khó sưu tầm.

Từ trước đến nay, khi thực hiện đặc san cho các hội đồng hương, hội đoàn... tôi đề nghị chỉ làm việc với một, hai người mà thôi, hơn hai thập niên qua khi được mời cộng tác, đảm trách cho nhiều tờ báo tôi vẫn giữ điều kiện như thế với một người mà thôi; Vì vậy tôi vẫn bảo thủ với quan điểm nầy nên mọi ý kiến đóng góp liên lạc với hai anh Nguyễn Văn Liên & Nguyễn Mạnh Vỹ trao đổi với nhau và báo cho tôi biết. Anh em đã tôn trọng lẫn nhau, nếu có đoạn nào của anh em viết cần “góp ý” thì do anh Nguyễn Văn Liên quyết định, mọi việc được tốt đẹp.

Bài vở sắp xếp theo thứ tự thời gian nhận được để tránh sự ngộ nhận “kẻ trước người sau”. Mùa Đông California, trời lạnh... đọc từng bài viết, nhìn lại hình ảnh bạn bè, dĩ vãng hiện về, tôi sống lại, nhớ đến thời gian sống chung nhau ở quân trường nơi ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, trên ngọn đồi 4648 nơi xứ lạnh. Có những bạn Khóa I, từ ngày ra trường cho đến nay vẫn chưa gặp mặt, bao nhiêu đồng môn Khóa I mãi mãi là “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ” (VĐL) để rồi gọi tên nhau trong nỗi ngậm ngùi và thương tiếc! Khóa I với nhau, ở tuổi thất thập nầy mà hai chữ “mầy, tao, mi, tau” sao mà gần gũi, thân thiết đến thế. Nguyễn Văn Mục chia sẻ với người quá cố “Lễ, Liễu, Nghĩa, Phương, Điệp, Can... Chúng mầy hãy yên nghỉ”.

Trong bài Bạn Cùng Khóa của Dương Văn Thanh viết về Phan Ngọc Hòa đã vĩnh viễn ra đi “... Có một lần duy nhất trong đời, tôi được thằng Hòa nó hò cho tôi nghe: Hò ớ ơ... Chiều chiều trước Bến Vân Lâu... Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm... Tôi nghe trong lòng có tiếng nấc nghẹn ngào, giọt nước mắt đang lăn dài trên má, tôi đang khóc, và tôi đang nhớ nó! Một đám vịt trời (Wild bird) nghe tiếng động gì đó bỗng cất cánh bay lên, cao dần, rồi mất hút phía cuối dòng sông...”. Than ôi! Nơi đất khách. Tau không còn để ngâm câu hò cho mi nghe!

Trong bài Người Khóa I Năm Xưa của Đào Hồng viết về Lê Bắc Việt khi 39 tân sĩ quan được điều về SĐ5BB. Đào Hồng, Lê Bắc Việt và Nguyễn Gia Bình về TĐ4/TRĐ7BB... Thế rồi “Một buổi sáng chúng tôi bàng hoàng nhìn nhau nghe tin Lê Bắc Việt hy sinh, khi đang đi kiểm soát tuyến phòng thủ. Cộng quân pháo dữ dội, nên đành chôn Lê Bắc Việt tại chỗ, mặc dù trực thăng bay đêm ngày nhưng chỉ có khả năng tiếp tế và tản thương mà thôi!

... Lê Bắc Việt ơi đó là tất cả tao biết về mày. Xin hãy yên nghỉ bình an. Tụi tao không quên mày!”.

Trần Tiễn Hà kết thúc bài viết về Lê Văn Nghĩa “Nghĩa, tao nhớ mày và cám ơn mày nhiều về những gì mà mày đã đối xử với tao”.
Trên chiến trận, tình chiến hữu rất cao quý, với tình bạn cùng khóa khi vào sinh ra tử, coi nhau như anh em cùng chung huyết thống.

Suốt hai năm tại quân trường, trong “caré bốn đứa” ăn ở phạn xá có Nguyễn Đình Can, Phan Đắc Lập, tôi (3 đứa cùng tuổi) và Nguyễn Hữu Đức. Can & Lập là bạn học từ thời trung học Trần Hưng Đạo, Khoá I Chính Trị Kinh Doanh rồi cùng Khóa NT1. Khi ra trường, Nguyễn Đình Can phục vụ ở TRĐ9 /SĐ5BB cùng với Nguyễn Hữu Đức. Kỷ Niệm 45 năm ngày ra trường, tôi mới gặp Nguyễn Hữu Đức, hỏi về Nguyễn Đình Can thì Đức cho biết đầu năm 1971 về trường Sinh Ngữ Quân Đội rồi đi học Khóa Dân Sự Vụ & Tâm Lý Chiến ở Hoa Kỳ nên không biết thời gian sau đó. Nguyễn Hữu Đức ở Bỉ nên không liên lạc được. Tôi gọi điện thoại cho Lập, nhờ viết vài dòng về người bạn quá cố vì có nhiều kỷ niệm với nhau nhưng Lập nói từ ngày ra trường, hai đứa ở hai nơi nên không biết gì để viết! 

Trong bài viết Bạn Bè Rồi Quên của Nguyễn Văn Mục viết về Nguyễn Đình Can: “Theo chân Chiến Đoàn 8 rút khỏi Snoul, tôi gặp Can tại Căn Cứ 100 nằm giữa biên giới Miên Việt. Hai thằng vừa mới làm xong một bi-đông rượu trắng, ra khỏi hầm trú ẩn của Can, thì tôi bị một miểng đạn súng cối 82 ly văng vào, ngã sấp, bất tỉnh.. 

Tháng 5/1974, cả hai chúng tôi trở về Long Thành học khóa Bộ Binh Trung Cấp. Mỗi ngày hai đứa cỡi xe Honda lên Long Thành. Tôi ở Phú Nhuận, Can ở Ngô Tùng Châu, Gia Định. 

Cuối năm 1974, Can về SĐ22BB, chức vụ sau cùng là Tiểu Đoàn Trưởng. Sau đó, tháng 3/1975, được tin tiểu đoàn do Can chỉ huy, tan hàng tại Ghềnh Ráng, Qui Nhơn. Thăm hỏi gia đình, cũng không biết Can còn sống hay đã chết mất xác đâu đó...”.

Nguyên do Nguyễn Đình Can bị đổi về SĐ22BB, tôi nghe tin phong phanh, năm 1972 Nguyễn Đình Can có người bạn gái lên thăm và ở lại đơn vị. Đêm đó VC tấn công, khi An Ninh Quân Đội điều tra, phát hiện chuyện nầy nên Can bị phạt 30 ngày trọng cấm và thuyên chuyển ra SĐ22BB ở Bình Định. Không biết Can giữ chức vụ gì ở Tiểu Đoàn, trong cuộc đụng độ với VC, đơn vị thắng trận, Can được đặc cách thăng cấp Đại úy tại mặt trận và đảm nhiệm Trưởng Ban 3 vừa hy sinh. Khi vị Tiểu Đoàn Phó tử trận thì Can đảm nhận chức vụ nầy và tiếp theo là vị Tiểu Đoàn Trưởng đã anh dũng đền nợ nước. Nguyễn Đình Can làm Tiểu
Thục nữ nguyễn Đình Can cùng 2 chàng trai 
Nguyễn Đình Xuân & Dương Viết Điền
Đoàn Trưởng được vài tháng thì vắn số trong thời điểm cuộc triệt thoái Cao Nguyên vào tháng 3/1975 nên biệt vô âm tín!

SVSQ Nguyễn Đình Can nhỏ con, ở trong Ban Văn Nghệ chuyên giả gái rất “yểu điệu thục nữ” nhưng khi ở đơn vị tác chiến, rất gan lì, đánh giặc giỏi, tuy bị hoạn nạn nhưng con đường binh nghiệp lên như diều nhưng chẳng may tan theo vận nước!

Khi đọc các bài của anh em viết cho Đặc San nầy với bạn bè đã nằm xuống, là người cầm bút, tôi cảm thấy hối tiếc vì không thể nào tìm được nguồn tin để viết một bài về hình ảnh người bạn thân đã khuất! Theo lời Lập thì năm 1974, gặp vợ chồng Can ở Sàigòn với đứa con thơ. Hy vọng Đặc San nầy có cơ duyên nào đó đến tay người thân của Nguyễn Đình Can để nối lại nhịp cầu. Can ơi! Thôi mầy yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng! Một ngày nào đó Lập & Đức sẽ được gặp mầy nơi cõi vĩnh hằng còn tao thì vĩnh viễn xa mầy vì tao chắc về chốn âm ty với “ba cái lăng nhăng” để vọng về những vì sao lấp lánh trong màn đêm!

... Không biết tiếng gọi “trường mẹ” phát sinh từ lúc nào trên “ngọn đồi 4648”? Vài quân trường lớn trong QL/VNCH đã đào tạo sĩ quan hiện dịch nhưng thỉnh thoảng tôi bắt gặp vài chữ trong bài viết khi nhắc về quân trường của họ mà gọi là “trường mẹ”. Có lẽ đây là tiếng gọi đặc biệt của quân trường nầy với SVSQ các Khóa NT...

Đọc bài viết Đứa Con Đầu Lòng Của Trường Mẹ của anh Lương Văn Thuận “Mẹ có thấu hiểu nỗi niềm cho con chăng, vào thời buổi ấy con vô cùng bi đát và đã từng ngậm đắng nuốt cay. Thật trớ trêu cho đứa con này của mẹ với cấp bậc Thiếu úy của một quân trường ĐH/CTCT/ĐL mà được Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Ngãi bổ nhiệm cho con giữ chức vụ đại đội phó, trong khi đại đội này ông đại đội trưởng là một Chuẩn úy người Thượng. Ấy cũng là một cay đắng cho đời binh nghiệp của con. Chuyện khó tin mà có thật 100% như vậy đó. Đứa con này của mẹ hết sức ngạc nhiên về việc bổ nhiệm này của tiểu khu Quảng Ngãi thời bấy giờ. Nhưng đứa con này của mẹ vẫn can trường nhẫn nhục và chịu đựng những vô vàn gian khổ. Song so với các con của mẹ đã ra đi rồi thì thân phận đứa con này tuy hẩm hiu, mà vẫn còn cái diễm phúc là còn sống sót sau cuộc chiến...”. 

Lần đầu tiên tôi mới biết được trường hợp trớ trêu nầy! Thuận ơi, “đứa con đầu lòng” rơi vào hoàn cảnh trớ trêu vì “mẹ” có sinh nhưng chưa có khả năng thẩm quyền để dưỡng! Nhiều “đứa con” trong đơn vị tác chiến đành bỏ ngành để đảm nhận vai trò đơn vị trưởng! Tuy nhiên Lương Văn Thuận vẫn một lòng “Những đứa con đầu lòng của mẹ dù xa trường mẹ ngút ngàn nhưng tâm trí vẫn luôn hoài miên man vọng tưởng về mẹ”. 

Tấm lòng đó được thể hiện như lời người xưa, một lòng một dạ “thiết thạch tâm trường”.

Trong bài viết Tuổi Ngũ Thập & Quán Củ Hành của anh Nguyễn Tư Cao trên Đặc San Ức Trai năm 1992 nói về Đại Hội Khóa I năm 1970 tại hội trường TĐ50CTCT, trong hai ngày, các Sĩ Quan Khóa I ở đơn vị tác chiến gióng lên tiếng nói bất mãn và phẫn uất “... Bỏ ra hai năm để huấn luyện một sĩ quan và đến khi ra trường, sĩ quan nầy đi làm công việc của một Thượng sĩ Thường vụ Đại Đội không đòi hỏi kiến thức chuyên môn gì cả thì lãng phí quá! Một năm lặn lội ở các đơn vị tác chiến... đã mang lại bao cay đắng, thất vọng cho những cán bộ của một trong những quân trường hiện dịch quốc gia”. Và, theo ý anh “Có thể Tổng Cục CTCT không đủ thẩm quyền làm cuộc thay đổi...”. Anh em trong Khóa I cũng hiểu được điều đó nên hình ảnh quân trường là tháng ngày gần gũi bên nhau.

Trong bài Những Chàng Trai “Nguyễn Trãi I” Của Một Trung Đoàn Thiện Chiến của nhà văn Phạm Tín An Ninh (Khóa 18 SQTB Thủ Đức) khi phục vụ tại TRĐ44/SĐ23BB chứng kiến các sĩ quan Khóa NT1 cùng đơn vị với anh: “TC/ CTCT ưu tiên cung cấp cho TRĐ những cán bộ CTCT ưu tú, đặc biệt ở cấp đại đội” thế nhưng “Điều đáng tiếc, là rất nhiều đơn vị đã không coi trọng lãnh vực CTCT, không biết xử dụng đúng mức những sĩ quan tốt nghiệp từ trường Đại Học CTCT. Họ đã được huấn luyện kỹ lưỡng để trở thành những cán bộ nòng cốt nhằm củng cố và trang bị tư tưởng cho chiến sĩ, một vũ khí lợi hại nhất để quyết định chiến trường. Hơn nữa, khi được thăng cấp Trung úy, không thể xếp họ tiếp tục ở chức vụ đại đội phó, trong lúc có một số đại đội trưởng không thâm niên hơn họ...”!

******
Khi nhận được file Đặc San qua PDF, lão bạn ở San José gởi lời khuyến khích: “Mầy làm được việc. Tiếp tục cho ngày kỷ niệm 55 năm”. Tôi không biết hứa hẹn thế nào, chỉ hồi âm “Wow, 5 năm nữa, mắt mờ tay run! Nghèo mà ham”. Ban ngày thì rong chơi, đêm đến mỗi khi ngồi trước cố nhân cái PC đặt ở garage, tôi lại có thói quen hút thuốc liên miên, nhà thơ Hồ Dzếnh thì “Nhớ nhà châm điếu thuốc. Khói huyền bay lên cây”, với tôi khi đọc bài, xem hình, nhớ bạn bè, ngại gì mà không châm điếu thuốc, khói mịt mù ga-ra. Tiếng chì tiếng bấc mãi cũng chán, hiền thê bỏ mặc nên tôi được nhờ. 

Đúng là cái thú đau thương! Với chai dầu gió xanh Heineken, điếu thuốc Craven A, ca khúc trữ tình trong youtube... cũng đủ lãng quên đời. Nếu J. Soulary cho rằng “Hạnh phúc nắm không được trong tầm tay đều là mộng”, thì tôi nắm được trong tầm tay ở trong garage.

Thời gian làm báo tham dự các buổi hội ngộ, tiệc tùng, chứng kiến hình ảnh lúc nào cũng thấy ông bà từng cặp ngồi bên nhau... nhưng trở về với sinh hoạt khóa thì quý nương (nàng dâu NT1) cùng ngồi chung nhau như trong đại gia đình rất thân thiện. Có lẽ nhờ vậy mà tình cảm của quý nương với nhau được hòa đồng khắng khít.

Với anh em khi được quý nương “tha” không bị làm hiền triết bên cạnh thì có dịp tha hồ bù khú với nhau, tránh được đôi mắt liếc ngang cảnh cáo! Ban hợp ca của quý nương như đàn chim họa mi mà “xướng” lên thì im phăng phắc, ngay bản thân tôi cũng thuộc loại bạt mạng mà khi gặp quý nương cũng trở thành con nai tơ thì anh em Khóa I làm sao tránh khỏi “hiền nhân quân tử, ứ ự mà nghe”? Chỉ dám nói “biết rồi” mà thôi, nín thở qua cầu, không giống như cụ cố Hồng của Vũ Trọng Phụng rất bản lãnh gồng mình “khổ lắm... nói mãi” vì sợ lãnh đạn. Hình như đâu đó, vài đấng mày râu còn trẻ ngày trước cũng thuộc loại điếc không sợ súng trong cơn binh lửa, đôi lúc cũng bất cần đời “Rượu bia bốn chục chai đồ bỏ. Uống từ chạng vạng suốt đêm thâu... Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn. Mải mê tán dóc chẳng cho về” (Nguyễn Bắc Sơn) nhưng trong thời thịnh trị gặp phải cao thủ xử dụng võ công cái thế lạt mềm buộc chặt, an cư lạc nghiệp cho hạnh phúc tuổi già!

******
Năm 2013, đêm họp mặt ở nhà anh chị Phạm Đức Khôi, trong lúc Đào Hồng gảy guitar cất tiếng hát qua ca khúc trữ tình Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa. 

Trong lúc mọi người thả hồn trong lời ca tiếng đàn, vợ tôi lên cơn tim, hình ảnh quý nương lo lắng, chăm sóc tận tình như người thân trong gia đình, thể hiện tình cảm chân thành, cao đẹp, không thể nào quên. Từ đó, quý nương không dám gọi vợ tôi trong những lần họp mặt, nhưng lúc nào cũng thăm hỏi và gởi quà mang về. Riêng tôi thì được quý nương ưu ái kèm theo “...liệu hồn”, phe cánh quá, không liệng cho cành hoa chanh để được ngửi mùi hương mà lại quăng cho một rổ trái, không tủi thân sao được? Thôi đành tự nhủ: có còn hơn không! 

Ngày trước, bước vào tuổi hạc được xem là “cổ lai hy”, các cụ gặp nhau rất đạo mạo, trịnh trọng khi giao tiếp nhưng ngày nay thỉnh thoảng mới có dịp hội ngộ, vẫn còn ngỡ như “đôi mươi” của thuở nào nên hồn nhiên vui đùa thoải mái trong tình thân để nụ cười mang theo khi chia tay, cũng là niềm hạnh phúc. Mong ước quý nương “không có lý do gì để chết cả” vì nàng đã “mang lại sự sống” cho chúng tôi như lời kết của Yasunari Kawabata trong tác phẩm Ngàn Cánh Hạc. Tuy không có trà thất để đàm đạo mà có nơi gặp gỡ trà dư tửu hậu với nhau như vậy nếu mai nầy có thưa thớt, kẻ còn lại không thể nào lãng quên người thiên cổ. Chim hạc - theo truyền thuyết - loài chim trường thọ nhất một nghìn năm, trong văn hóa Đông Phương được xem như biểu tượng cho tuổi thọ, lòng trung thành và may mắn. Vì vậy chỉ mong đàn hạc nầy mang bóng dáng của truyền thuyết.

Với hình ảnh quý nương như trong bài Ở Đâu Cũng Đậm Đà Tình Nguyễn Trãi của Nguyễn Thị Duy (Trần Kim Khôi) “Quả đúng như lời của anh Nguyễn Hoàng Thơ nhận xét, các nàng dâu NT ai cũng đảm đang, giỏi giang và giàu sức chịu đựng. Trải qua bao dâu bể các chị vẫn luôn luôn cận kề chăm sóc cho các anh”. Mượn lời người bạn được diễn đạt thay cho suy nghĩ của một số anh em không bị rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã hầu chia sẻ với người bạn đời.

Đôi lần tôi được diễm phúc bà hú trời cho làm phó nhòm, nhìn quý nương trước ống kính, ôi chao một trời hoa mộng, cánh bướm trong vườn thượng uyển, “đẹp như trăng”, xinh như hoa Xuân khoe sắc, ánh mắt đẹp như hồ thu “lả bóng dừa”. Lúc đó tôi mới được ném cho những nụ cười hàm tiếu, chúm chím “nhìn tôi không nói năng”, cảm động quá, chân muốn khụy, tay run run, bấm máy ảnh. 

Tài hoa như Đinh Hùng, Lý Bạch mới có những vần thơ trác tuyệt để diễn tả:

Những nàng Nguyễn Trãi (1) “đẹp như trăng” 
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại
“Vân tưởng y thường hoa tưởng dung, 
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng”
(Xiêm ngỡ mây lùa, mặt ngỡ hoa, 
Gió Xuân hiên thoảng, hạt sương sa).
Trong những lần họp mặt, khi giao tiếp, giữa quý nương và anh em Khóa I, rất cởi mở, chân tình, lịch sự và tương kính lẫn nhau... ngoại trừ tôi ngu ngơ và khờ dại nên bị coi như tương ớt, nếm thì cay, đay nghiến cho bỏ ghét. Khi bắt đầu thực hiện Đặc San nầy, để kiếm điểm quý nương, tôi đề nghị với anh Nguyễn Văn Liên & Nguyễn Mạnh Vỹ mời các chị viết để có bóng hồng tô điểm trong rừng cây khô. Nhưng rất tiếc sự vắng bóng nầy! May có chị Duy (Trần Kim Khôi) tuy ở tận phương trời xa xôi miền Đông đã bỏ thời gian ghi lại tâm tư tình cảm qua 2 bài viết rất chân tình khi đến miền Nam và miền Tây Hoa Kỳ. 

Sau ngày Tết Bính Thân, có thêm bài viết của chị Kim Tuyến, qua bao thập niên Khóa I họp mặt lúc nào cũng có sự hiện diện của anh chị Nguyễn Hồng Vân & Kim Tuyến. Bài viết cuối cùng của chị Nguyễn Thị Tần nhận được đúng vào ngày “phụ nữ vùng lên” (8/3), kết thúc Đặc San.

Ông bạn thiền sư nói tôi “chuyên viên bán cái” vì tôi biết thân biết phận, nếu có  liên lạc thì không nhận bài viết mà chỉ nghe lời nhiếc! 

So với các bộ môn sinh hoạt ở quân trường như Văn Nghệ, Thể Thao sôi động và lôi cuốn thì Báo Chí trầm lặng và buồn tẻ. Khi vào quân trường Thủ Đức, Khối CTCT thành lập Ban Biên Tập SVSQ liên khóa 23 & 24 cho tờ nguyệt san Bộ Binh Thủ Đức, mỗi đại đội cử một SVSQ. Khi ở Đà Nẵng tôi quen nhà thơ Chu Tân (khóa 23) nên giới thiệu tôi vào Ban Biên Tập. Sáng Thứ Tư hoặc Thứ Năm, Ban Biên Tập được họp, nếu gặp lúc học quân sự cả ngày ngoài bãi thì buổi chiều Ban Biên Tập có dịp café tán gẫu với nhau. 

Thế nhưng, khi về quân trường ĐH/CTCT thì mỗi đại đội chỉ thực hiện bích báo (báo tường) mà thôi. Lần đầu tiên thi đua tờ bích báo giữa 2 Đại Đội do Khối CTCT tổ chức, Phan Đắc Lập trình bày, tôi lo nội dung, bài vở được trang trí trên khung giấy nhỏ hình chữ nhật, vuông, oval... rồi dán vào tấm croquis khổ lớn, có bức hí họa của Nguyễn Xuân Trung (tôi rất thích nét họa caricature của NXT) vẽ 3 SVSQ ngồi tréo chân uống café, dưới gầm bàn có “nhân vật” ngậm ống pipe tai vểnh lên như nghe lén... ĐĐ B thua, Đặng Phú Thiệt chơi lá bài “tháu cáy” bông đùa giống Lê Chiêu Thống (nhân vật bị lên án cõng rắn cắn gà nhà trong lịch sử VN). Lúc đó có Chuẩn úy Nguyễn Văn Phụng ở Khối CTCT còn đứng quanh quẩn sau khi tuyên bố kết quả, tai vách mạch rừng đến các quan. Không hiểu liên tưởng và suy diễn thế nào mà từ họ Lê lại gán ghép cho họ Lý (Trong Khối CTCT có Đại úy Lý Chiêu Thống cũng hay ngậm ống pipe). 

Tôi được hân hạnh “mời” lên văn phòng Liên Đoàn Khóa Sinh, dọa tống cổ ra khỏi quân trường, tôi vừa run vừa chối leo lẻo “Anh ta tự họa chân dung mình (vì chỉ có Nguyễn Xuân Trung ngậm ống vố) như cảnh cáo SVSQ giữ mồm giữ miệng...”. Ông già “Đạt Lai Lạt Ma” Nguyễn Văn Năm rất nhân từ nên cảnh cáo, giảng cho bài học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, sau nầy ra đơn vị hướng dẫn làm báo để khích động tinh thần binh sĩ chứ không phải châm chọc... Hú vía, tai qua nạn khỏi. Và, từ đó tôi chẳng mặn nồng với bộ môn nầy (Khi làm tờ báo Đất Nước và ra tờ Cali Weekly ở Little Saigon, tôi dành góc báo cho “tranh biếm họa”. Tôi thích sân chơi nầy vì ở xứ sở tự do không sợ bị suy diễn, hoạnh họe, trấn áp, làm tình làm tội đầu óc sáng tạo).

Trong chiến dịch Diên Hồng, 3 anh Nguyễn Xuân Trung, Vũ Văn Túy, Phan Đắc Lập ở lại làm SVSQ cán bộ cho Khóa II và lo cho tờ báo nhưng không có bài vở. Sau chiến dịch Diên Hồng, tôi tiếp tay vào công việc nầy, kêu gọi anh em viết bài vì tưởng rằng sau chiến dịch Diên Hồng, SVSQ có mặt ở khắp đơn vị trên 4 vùng Chiến Thuật có đề tài để viết nhưng vào thời điểm gần mãn khóa nên sự đóng góp thưa thớt. 

Tờ báo lấy tên Đường Mới (lúc đầu là Mở Đường), khổ book như Đặc San nầy nhưng chiều cao lớn hơn một inch, bìa của Phan Đắc Lập, giao cho Trợ Huấn Cụ ấn loát nhưng máy in thuộc loại “cổ lỗ sĩ” nên chỉ in được 76 trang, đóng xong trước Lễ Mãn Khóa một ngày, chẳng có ma nào đoái hoài! Có lẽ mỏng quá nên không phát hành trong ngày mãn khóa... 

Khi thực hiện Đặc San nầy, anh em nhờ Phan Đắc Lập design (Phan Đắc Lập vẽ đẹp, giỏi photoshop nên Khóa NT1 thường nhờ vả và lúc nào cũng sẵn sàng). Lập nói “Tao với mầy, 5 thập niên, cũng chuyện báo đời”. Thôi thì, ngày trước với Đường Mới, bây giờ là “đường cùng” lúc hoàng hôn xứ người, “còn một chút gì để nhớ” khi còn có nhau, đời còn dễ thương. 

Trong ca khúc Tiếng Chim Gọi Đàn của nhạc sĩ Hoàng Quý như vang vọng trong tôi: “Tiếng chim vang lừng gọi đàn trong sương sớm. Vang trong trời xa như giục lòng trong gió sương”. 

Từ thuở bước vào Ngưỡng Cửa Quân Đội, tiếng chim gọi đàn báo thức tập thể dục, ra câu lạc bộ, chơi thể thao, chui rào... những con chim non đồng loạt “Tan hàng! Cố Gắng” trước khi rời hàng ngũ trở vào doanh trại... rồi đến thời điểm oan nghiệt trong biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam vào Tháng Tư Đen, tan hàng, rã đám như đàn chim lạc bầy! 

Qua bao thập niên vật đổi sao dời, trải qua bao thăng trầm trôi nổi của cuộc sống, những con chim ngày xưa trong lúc xế chiều còn cất cánh đoàn tụ. Không biết trong 5 năm nữa, còn đủ sức để gọi nhau! Tôi vẫn thầm mong ngày đó sẽ có nhau, đủ sức gọi đàn. Và, như lời của Phạm Đức Khôi khi đề cập đến Hạnh Phúc & Cuộc Đời: “... Dù thân thể đã gần đất xa trời nhưng tôi chưa thấy tác dụng của thời gian trong sinh hoạt đời thường, dù bầu nhiệt huyết có đôi phần giảm sút, và nỗi chán chường đang lấp ló đâu đây...”. 

Nếu Sacha Guitry cho rằng “Dĩ vãng được nuôi bằng những phút hiện tại” thì Đặc San nầy khi cầm trên tay với hy vọng nhỏ nhoi, nuôi tuổi già được sống lại khoảnh khắc một thời trai trẻ. Một thời của đường trường xa “con chó nó tha con gà”, một thời chinh chiến, một thời điêu linh, tan nát đời trai! Qua 50 năm mà đàn chim lạc bầy, tuy đã tan tác nhưng giờ đây “... ta quyết đi cho đến cùng” (Văn Giảng) cũng ấm lòng chiến sĩ lúc sa cơ.

******
Bài viết trong Đặc San nầy, phần Những Dòng Lưu Niệm đã trích đăng hai bài lai cảo của hai anh đã ra người thiên cổ. Và, tất cả bài viết chỉ dành cho gia đình NT1 nhưng anh em đã liên lạc với nhà văn Phạm Tín An Ninh từ Na Uy vì có mối giao tình thân thiết trong thời gian phục vụ cùng chung đơn vị.

Tôi nhận được email gợi ý “vinh danh” vài con em được thành danh trên xứ sở Hoa Kỳ. Tôi hồi âm, nếu có đề cập đến thì phải đầy đủ, một vài cá nhân có vẻ cục bộ. Hơn nữa, đây là đất nước cơ hội cho giới trẻ, chăm chỉ học hành thì có mảnh bằng, công danh sự nghiệp... đương nhiên và thường tình. Nếu có tấm lòng và nghĩa cử cao đẹp nào đó liên quan đến đại gia đình của chúng ta rất xứng đáng thì cũng nên đề cập. Tôi đã quen với nhiều trường hợp “làm dâu trăm họ”, không thể nào đáp ứng mọi ý kiến đóng góp mà khách quan thực hiện cho đúng hướng với quan niệm của tập thể.

Bàng bạc trong Đặc San nầy với các bài viết nói về tình bạn với nhau, ngay cả những bạn chẳng may ra trước thời hạn mang theo “cánh gà”! Bài viết của anh Trần Tiễn Hà đề cập tình trạng bất khả kháng khi giao nhiệm vụ 3 người bạn đồng khóa trình diện. Trong đó anh nhắc đến Lê Văn Nghĩa mà tháng ngày ở hải ngoại đã sinh hoạt chung với nhau và lúc nào cũng vui vẻ tự xưng là niên trưởng vì “tao ra trường trước tụi mầy” đậm đà tình nghĩa. Khi lên San Jose gặp Nguyễn Văn Tiến ở nhà Lập, hơn 4 thập niên mới gặp lại, tôi nói nét chữ của bạn cho đến bây giờ vẫn đẹp hơn nét chữ của Trịnh Công Sơn viết trong ca khúc. Tiến hơi ngạc nhiên nhưng khi nhắc lại bài thơ của bạn viết cho tờ báo, nét chữ đó không thể nào quên. Chỉ có nét chữ đã gói ghém tình bạn, vinh nhục đời người như gió thoảng mây trôi!

Màu tím là màu của bi thương, trong cuốn Văn Nhân & Tình Sử tôi viết 3 bài liên quan đến cuộc tình trong thơ của Hữu Loan, trong nhạc của Hoàng Trọng và Hoàng Nguyên... man mác nỗi buồn của người cầm bút. Khi đọc những dòng cuối của Đào Hoàng Việt khi viết về Lê Minh Châu với hình ảnh tà áo tím, tôi lặng người với hình bóng đau thương:

“Ngày tiễn đưa Lê Minh Châu ra Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, anh em cùng khóa tự khiêng quan tài bạn mình. Tôi ở lại đến phút cuối cùng, đứng xa để nhìn lại lần cuối nơi bạn mình vĩnh viễn an nghỉ. Mọi người về hết chẳng còn ai duy chỉ còn một tà áo tím buồn với mái tóc dài phủ bờ vai phất phơ trong nắng chói chang giữa khoảng không gian vắng lặng mênh mông. Nàng đứng khóc không biết đến bao giờ”.

Trong ca khúc Ngàn Thu Áo Tím của Hoàng Trọng: “Một bóng áo tím buồn ngẩn ngơ, khóc trong chiều gió mưa, khóc thương hình bóng xưa... Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím” có thể là hình ảnh tưởng tượng nhưng tà áo tím mà Đào Hoàng Việt là chứng nhân, là thực và từ cảm xúc để viết, quá tuyệt. 

Trong Lá Thư của anh đại diện Khóa I kêu gọi anh em “đi tìm thời gian đã mất” hồi tưởng lại năm tháng và hình ảnh đã qua để viết hầu tìm lại trong ký ức thời gian đã mất đó được trang trải trong Đặc San nầy. Chỉ trong 4 tháng, gia đình NT1 có được món quà lưu niệm. 

Nhà văn Pháp Marcel Proust phải mất hai thập niên mới để lại bộ sách lừng danh trong thế kỷ XX: A La Recherche du Temps Perdu, trong đó tác phẩm cuối cùng Le Temps Retrouvé, kết nối thời gian quá khứ và hiện tại làm thăng hoa cuộc sống. Tôi đang viết giang dở hai tác phẩm, dự tính quyển nói về văn chương nữ giới sẽ ấn hành vào dịp Hè, nhưng không sao, cho nó nghỉ ngơi thời gian.

Đặc San lưu niệm như tuyển tập với các bài viết đóng góp có vui, có buồn lẫn nhau trong đời thường nhưng không phải là tuyển tập văn chương, vì không có hư cấu nên sự diễn đạt nếu có dở, hay không thành vấn đề mà quan trọng với sự nhiệt tình của quý nương, anh em trong gia đình Nguyễn Trãi I với nhau trải dài qua 5 thập niên, thể hiện tấm lòng chân thật - nhớ nhau, có nhau - gây được cảm xúc, mường tượng chân dung, hình ảnh kẻ nằm xuống, người còn lại... khi đọc, rất trân quý.

Thời gian qua, tôi được sống lại với bao nhiêu hình ảnh mà trước đây dần dà mờ nhạt theo tuổi đời, trí nhớ mỗi ngày gởi gió cho mây ngàn bay... và, cũng là cơ hội đến với tôi cũng như bạn bè trong khóa được liên lạc, trao đổi với nhau.

Ngày xưa, khi đến Hoàng Hạc Lâu, Lý Bạch định làm thơ, thấy bài thơ thất ngôn bát cú của Thôi Hiệu đề trên vách, đọc xong, vứt bút, ngửa mặt than rằng:

“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu...”

Không biết mai nầy, kỷ niệm 50 năm ngày ra trường, 55 năm ngày nhập ngũ... còn tiếp tục thực hiện được “món quà lưu niệm” nào không? Nhưng tôi nghĩ, qua cuốn Kỷ Yếu và Đặc San nầy đã “gói ghém” tất cả, nếu tính theo khổ book thì hơn một nghìn trang. Nếu sau nầy bảo tôi viết thì chỉ than đã đề cập hết rồi... “tại thượng đầu”!

Khi ở trên mảnh đất quê hương, Thôi Hiệu cảm thấy trống vắng, tiếc thương vì không còn bóng dáng hoàng hạc: “Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản”. Chúng ta đã lìa bỏ quê hương, lưu lạc xứ người nhưng có “ngàn cánh hạc” cũng là niềm an ủi.

Mượn hai câu thơ cũng là tựa đề thi phẩm (*) của Vũ Hoàng Chương thay cho lời kết:

“Ba kiếp lang thang, ngồi chụm lại
(*) Chúng ta mất hết, hãy còn nhau”.
 
NT1 Trần Ngọc Dưỡng                               
(Trích trong Đặc San Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Nhập Ngũ 1966-2016)

********************************************