Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Chuyện tù cải tạo Người bạn tù bất đắc dĩ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Người bạn tù bất đắc dĩ

In PDF.

Đầu tháng 10 năm 1978, chúng tôi - những sĩ quan Quân lực VNCH và Cảnh Sát Quốc Gia, hầu hết cấp đại úy, bị cưỡng bách tập trung từ 6-1975 - được chuyển từ các trại vùng Thác Bà, xã Cẩm Nhân tỉnh Hoàng Liên Sơn để đưa về trại Nam Hà , vùng Ba Sao, Phủ Lý, Hà nam Ninh ( 1 ). Kể từ đó, chúng tôi bị giam giữ trong các trại tập trung do công an bộ nội vụ kiểm soát thay cho các đơn vị quân đội.
Vừa tới cổng trại, chúng tôi đã thấy cả một sự khác biệt rất lớn khi so sánh với những láng trại thô sơ trước kia. Ở đây, phòng giam được xây kiên cố, mái lợp ngói, có tường đá bao quanh mỗi phòng . Bước qua cổng trại, nổi bật lên những hàng chữ đỏ chói, được tô vẽ thật công phu trên bức tường vôi trắng : 

 Bốn tiêu chuẩn cải tạo " (2) :
         -  Thành khẩn khai báo.
         -  Tố cáo đồng bọn.
         -  Chấp hành nội quy.
         -  An tâm cải tạo.

Tuy nhiên, dù là do công an ( bộ nội vụ ) hay bộ đội ( bộ quốc phòng ), thì cách tổ chức điều hành việc giam giữ cũng tương tự như nhau. Một trong các điểm chung ấy, là cứ sau một thời gian chung đội, thường là 4,5 tháng, chúng tôi lại phải thay đổi mà họ gọi là " biên chế " với mục đích để  ngăn ngừa sự hình thành các nhóm hay các tổ chức có thể gây trở ngại cho việc kiểm soát của họ. Khoảng trước Tết 1980,  tôi chuyển sang buống số 12 (3) và nơi đây, tình cờ tôi gặp tù nhân mang tên hơi khác bình thường : Tạ văn Dục. Khi vừa chuyển phòng, anh nhanh chân chọn được vị trí nằm khá tốt - sát với vách tường phía ngoài cùng - Như vậy, cách xa phòng vệ sinh ở cuối, bớt được rất nhiều phiền nhiễu, nhất là về khuya. Tôi cũng khá may mắn, nằm gần anh. Vậy là dù muốn dù không, tôi và anh cũng buộc phải...quen biết nhau. Sau này anh hay nói  đùa là " người bạn tù bất đắc dĩ ".

Ngay từ những ngày đầu tiên nằm cạnh nhau, qua các câu truyện trao đổi hàng ngày, tôi thấy anh có một lối xã giao rất đặc biệt . Anh hay hỏi, hay nói, nhưng bao giờ cũng kèm theo một câu nửa đùa nửa thật để người đối thoại không cảm thấy bất cứ sự quan trọng nào trong câu truyện. Tôi hiểu ý tứ anh. Trong các trại giam cộng sản, mọi người - nếu đã không từng là bạn cố tri - thì chẳng nên tin ai. Bên quân đội, việc theo dõi nhau có lẽ nhẹ hơn bên công an. Tôi hỏi về gia cảnh thì anh chỉ trả lời cho có lệ, đại ý là đã lâu lắm, không nhận tin tức gì, vả lại có biết thì cũng chẳng giúp được gì. " Cứ lo cái thân mình còn chưa xong " Anh hay nói như thế. Có một lần, cả hai chúng tôi đang lo sửa soạn mấy vật dùng cá nhân thì cán bộ quản giáo bất ngờ đi tới. Tôi buột miệng " Ê, chèo tới ! "(4). Biết lở lời, tôi vội sửa  lại " À quên, cán bộ tới ! " . Bởi vì chỉ riêng với những ngưòi thật thân tình, chúng tôi mới dùng chữ " chèo " để chỉ đám công an coi tù. Anh trố mắt nhìn tôi, nhưng không nói gì.

Chỉ sau khoảng hai tuần lễ chung đội với anh, hầu hết mọi người đều biết anh. Anh lúc nào cũng vào hàng trễ với đủ mọi lý do như chân té bị thương không đi nhanh được; đau bụng phải đi vệ sinh; rồi quên cái này, sót cái kia; thâm chí có lần còn bận "...quét cái lối đi dơ bẩn quá, cán bộ đi vào thấy lại phê bình...". Có một số người trong đội hay tỏ vẻ bực mình, nhất là mấy người lớn tuổi, vì họ không muốn do những việc lặt vặt ấy mà cả đội  cứ hay bị phiền hà lôi thôi . Tuy nhiên nhìn anh, với cơ thể gầy yếu, thêm bộ dạng đi đứng liêu xiêu, thì phần đông dù thấy anh trễ nải làm cả đội phải chờ đợi, cũng chẳng nỡ nặng lời. Thật đúng là cảnh thấy mà thương,  nhưng... " chịu đựng mãi " thì cũng tội. Đã có lần tôi bảo anh  "...Tội vạ gì, quét mệt xác lại bị anh em xì xào ...". Anh mỉm cười chớ không nói chi.

Thế rồi, đến một lần kia, tình cờ chứng kiến một việc xảy ra, tôi chợt thấy ở anh, một con người khác hẵn với  tất cả những định kiến của tôi về anh. Sáng hôm ấy, " Chèo " Bào đến, sửa soạn tập trung đội đi lao động. Thấy anh đang lôi thôi, lỉnh kỉnh với những vật dụng cá nhân, hắn nói:
-  Anh Dục, anh sống thế nào mà trong đội, chắng có ai ưa anh vậy ? Anh tự kiểm điểm bản thân mình xem.
-  Cán bộ à, anh trả lời, giả sử cán bộ sang...Mỹ, thế rồi những người Mỹ họ chẳng thích cán bộ, họ đả đảo cán bộ. Vậy cán bộ có phải là người xấu không ?
Nghe anh trả lời, tôi giật mình. Một người có thể tìm ngay lập tức một câu trả lời đanh thép như thế, tất không thể..." man man, bất bình thường " như nhiều người đã nghĩ. Từ đó, tôi nhìn anh khác hẳn - gần gũi pha lẫn niềm cảm phục
. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn duy trì mối quan hệ trong một chừng mực nào đó mà thôi, cho tới một buổi chiều Chúa nhật ... Anh trở về phòng sau khi đi ra giếng chung của cả trại;  Nơi đây, chúng tôi vẫn thường tắm rửa, giặt giũ, nhân tiện gặp lại bạn hữu ở phòng khác, trao đổi tin tức cho nhau. Lần ấy, anh có vẻ vui vẻ khác thường. Anh bảo tôi.
-  Ông Xuân, đội trưởng cũ của tôi nói anh cùng khóa với ông ta. Như vậy, anh xuất thân trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt ?
Tôi xác nhận và nói rõ hơn là chúng tôi tốt nghiệp khóa đầu tiên của trường rồi sau đó tôi phục vụ tại Cục An Ninh Quân Đội.  Kể từ đây, giữa chúng tôi đã có một nhịp cầu thông cảm và cả hai đều nhận ra rằng, chúng tôi có thể tâm sự với nhau nhiều điều mà bình thường chúng tôi không dám công khai bộc lộ. Song điều lý thú nhất với tôi có lẽ là khi nghe anh tự giới thiệu anh là anh ruột của Giáo Sư Tạ văn Tài.  Nguyên Trường Đại Học CTCT Đà Lạt của chúng tôi là một quân trường non trẻ nhất trong các quân trường, mới được thành lập từ giữa năm 1966 .  Tại đó, các Sinh Viên Sĩ Quan, ngoài việc được huấn luyện quân sự tại trường Võ Bị Quốc Gia và chuyên ngành CTCT tại trường Mẹ, còn được trau dồi về các môn học  chính trị - văn hóa - hoàn toàn do một đội ngũ các giáo sư đại học dân sự diễn giảng. Giáo Sư Tạ văn Tài là một trong các giáo sư  diễn giảng của chúng tôi.

Một buổi tối kia, anh tâm sự.
-  Trước đây, anh có bảo tôi phải coi chừng bị " để ý ". Anh muốn nói là bị " báo cáo " chứ gì. Anh nghĩ là đối phương không biết đánh giá mình chăng ? Không biết cái kiểu " mũ ni che tai " hoặc " nín thở qua sông " của mình ? Không bao giờ người ta tin mình đâu. Anh mạnh dạn phát biểu thì họ đánh giá là có " biểu hiện chống đối " - mà im lặng thì họ xếp vào loại chống đối " ngầm ". Nghĩa là lúc nào mình cũng bị cho là chống đối cả. Thú thực là tôi cũng mong có thằng " ang-ten" nào đấy báo cáo tôi ..." trây lười lao động " ...chuyên môn chỉ tìm dịp " cải thiện linh tinh "; lúc nào cũng chỉ nghĩ tới cái ăn.  Thà rằng anh bị tố cáo vể những tội..." trời ơi đất hỡi " ấy còn hơn là bị đặt một dấu hỏi to tướng về tư tưởng, khuynh hướng " khéo che dấu ". 

Cũng dạo ấy, tôi có quen biết Anh LPT - một phần vì anh là bạn đồng khóa 13 Võ Bị với ông anh của tôi - phần khác vì chúng tôi đã biết nhau trong những công tác trao đổi giữa Cục An Ninh Quân Đội với Phủ Phó Tông Thống, nơi anh phục vụ. Thỉnh thoảng buổi tối, Anh LPT đến chỗ tôi, rồi cùng với hai ba bạn thân ngồi tán gẫu, đủ truyện đông tây kim cổ, song truyện hay bàn đến nhất lại là những câu  truyện thời sự.  Anh LPT vừa biết nhiều do chức vụ anh nắm giữ, lại vừa hiểu rộng, nên anh thường phân tích tỉ mỉ chính tình cho chúng tôi nghe, đại ý là Miền Nam mất vì ngưòi Mỹ muốn đem Miền Nam để đổi lấy vùng Trung đông ...Chớ lực lượng miền Bắc làm sao so với quân đội mình được, nhất là về ưu thế không quân...Anh Tạ văn Dục nằm kế bên, dĩ nhiên anh đã nghe và biết, nhưng anh không bao giờ tham gia vào những lần bàn luận như vậy. Một tối kia, anh hỏi tôi. 
-  Anh xuất thân trường Đại Học CTCT Đà Lạt, thế tôi hỏi anh, bây giờ bày binh bố trận  đánh nhau lại, Miền Nam có thắng hay không ?   -  Rồi chẳng đợi tôi trả lời, anh nói tiếp.
-  Anh có nghĩ là ...bên VNCH mình sẽ xóa bỏ mọi thứ tự do, dân chủ để dồn mọi nỗ lực vào chiến tranh hay không ? Có dám thẳng tay khủng bố người dân cho họ..sợ mà theo mình ? Tất nhiên mình không thể làm những việc như vậy.  Kẻ thù thì ngược lại, nó không có những điều " kiêng cữ " ấy đã đành, lại còn dùng ngay những điều ấy để đánh phá mình. Nó chẳng bao giờ cho ai tự do, nhưng lại dùng chính cái tự do để quấy phá mình.
Một bữa khác,  với giọng buồn  buồn  - anh nói .
-  Ngay từ khi Mỹ ký kết hiệp định trung lập Lào năm 1961, coi như tình thế đã bất lợi cho Miền Nam rồi. Chỉ có phía Mỹ là tôn trọng, còn Bắc Viết thì đời nào nó giữ lời, thế là nó mặc sức chuyển quân vào Nam ...   Nếu Ông Diệm, Ông Nhu mà còn ... Có thể vẫn thua, nhưng tôi tin, có lẽ họ sẽ tìm ra một giải pháp nào đó, chớ không đến nỗi bi thảm như năm 1975 ! Làm lãnh đạo thì phải biết suy đoán tình thế, biết tính toán, biết phòng ngừa đủ mọi hoàn cảnh gây ra..từ phía thù cũng như phía bạn.... Đất nước là của mình chớ đâu phải của người. Tiên trách kỷ hậu trách nhân là ở chỗ đó. Đấy là tôi mới chỉ nói tới cái " Tài ", chưa đề cập tới cái " Đức " , cái này bên an ninh các anh còn rành hơn tôi nhiều.
Một lần khác, anh lại hỏi tôi.
-  Anh là sĩ quan CTCT, vậy anh thấy phần " dân vận " của mình ra sao ? Người dân miền Nam đã góp bao được bao nhiêu công sức cho cuộc chiến này ? Hay .., tất cả trách nhiệm đều dồn lên trên đôi vai của người lính mà thôi. Những thành phần khác thì...vô can ?
Cuộc chiến xảy  ra trong tình hình như vậy, thì anh tự biết, ai  lợi thế hơn ai. Có bao giờ anh thấy ở nước cộng sản có những phong trào phản chiến ? những tổ chức đòi quyền sống ?  Đem bàn thờ bày ra đường để chống đối  ?  hội ký giả đi ăn mày ?  ...và hàng trăm những thứ đại loại như thế  ? Thằng Mỹ nó bỏ vì nó thấy...không thể giữ mãi cái Miến Nam  trong hoàn cảnh như vậy.  Còn bảo nó ...đánh chiếm miền Bắc ! Nó chiếm để làm cái quái gì ? Nó giúp mình vì quyền lợi của nó trước ...Tôi mà là thằng Mỹ, thì tôi cũng phải so đo, lo cho quyền lợi của Mỹ chứ.
Tuy không đồng ý với lối nhận xét,  lập luận của anh, nhưng tôi cũng phải thầm phục anh đã có những suy nghĩ sắc nét và độc đáo riêng của chính mình . Tựu trung, hình như anh chỉ muốn nói ngược với những gì anh nghe Anh LPT và chúng tôi bàn luận.


Mùa Đông đất Bắc với mưa phùn gió bấc tuy thật khắc nghiệt, nhưng rồi cũng qua đi. Mùa Xuân đang đến, vạn vật như hồi sinh theo sự xoay vần của Tạo Hóa. Những tù nhân của chế độ cũng từ từ lấy lại sinh khí đã hao tổn sau bao ngày tháng chống chọi với cảnh cơ hàn. Thực ra, nói thế nào đi nữa thì cũng không thể lột tả đủ cái khổ cùng cực của cảnh đói rách cơ hàn trong nhà tù cộng sản.  Chữ Hán có câu " Cơ Hàn Giao Bách ",  nghĩa là cái đói đi chung với cái lạnh - cùng bức bách làm khổ một lúc.  Phải chính bản thân trải qua cái cơ hàn ấy ; Phải nhìn thấy cảnh người tù khi chết, miệng còn ngậm mấy hạt cơm chưa kịp nuốt, tay nắm chặt túi nhựa đựng phần còn lại chưa kịp ăn,  thì mới thấu được nỗi thống khổ của họ. 
Riêng với anh Tạ văn Dục thì tuy đã qua được mùa Đông, nhưng anh đã phải dùng tới nguồn sinh lực cuối cùng của mình để chống cái đói cái lạnh. Mà, để phục hồi thì ít ra cũng phải có một phần sinh lực tối thiểu ...Anh đã không còn phần tối thiểu ấy nữa rồi, và mùa Xuân đến chỉ còn công dụng kéo dài cuộc sống của anh thêm ít ngày  nữa, chớ không đủ để hồi sức chịu đứng cho mùa Đông năm tới. Có lần trên đường đi lao động, rõ ràng anh nhìn thấy tảng đá trên đường, cao  chưa đầy hai gang tay mà không còn đủ sức nhấc chân  bước qua, nên vấp ngã. Tối hôm ấy, anh khẽ bảo tôi là anh biết anh sắp mất. Tôi tuy nói vài câu  an ủi anh, nhưng thâm tâm cũng nhận ra điều này.
Sáng hôm ấy, cả đội không đi lao động - có lẽ ngày Chúa Nhật hay ngày lễ gì đó - anh nằm như ngủ thêm. Chẳng ai thắc mắc vì những ngày như vậy, nhiều người dù không ngủ nữa, nhưng vẫn muốn nằm. Đến độ 11 giờ sáng, tôi vào phòng, thấy anh còn nằm y nguyên một vị trí, lại thấy hai con ruồi bay vòng vòng trên đầu anh. Biết là tình hình không ổn, chúng tôi gọi cấp cứu để đưa anh xuống bệnh xá. Nghe nói, chiều hôm đó, anh được chuyển ra bệnh viện Phủ Lý. 

Hai ngày sau, sáng sớm, cán bộ văn hóa mở cửa phòng, gọi anh đội trưởng Hồ khắc Nghiêm và tôi - có lẽ vì tôi là thơ ký đội, lại nằm gần anh Dục - " lo soạn tư trang của anh Tạ văn Dục đem ra ngoài." Chúng tôi đã tiên đoán được tình trạng không hay của anh . Khi Anh Nghiêm và tôi ra tới phòng văn hóa lại nhận lệnh đi lãnh phần cơm ăn cả ngày, rồi đem tư trang của anh Dục theo cán bộ hướng dẫn ra ngoài trại. Ở đây cán bộ văn hóa nói vắn tắt cho chúng tôi biết anh Tạ văn Dục đã qua đời tại bệnh viên Phủ Lý và hai chúng tôi có nhiệm vụ đi nhận xác và an táng cho anh . Họ nói thì chỉ có vậy, nhưng theo như sự hiểu biết và cả dò hỏi của chúng tôi lúc đó cũng như sau này,  chắc chắn phải có một lý do " ngoại lệ " nào đó. Trước nay, nếu có ai mất tại trại, thì họ chỉ gọi vài anh em khiêng xác đi chôn tại vùng sườn đồi gần đó - như trường hợp Tướng Cao hảo Hớn, nghe bốn anh đi chôn xác về nói là trại không có quan tài dài vừa cỡ, nên xác phải bó chiếu. Còn mất tại nhà thương thì...không một ai trong chúng tôi biết được việc chôn táng ra sao. Việc đưa tù nhân ra Phủ Lý để  an táng cho bạn tù xưa nay chưa từng có.

Đường từ Ba Sao - tức Trại Nam Hà - đến Phủ Lý có lẽ chỉ khoảng 30 cây số, song đường đi xấu, lại thỉng thoảng ghé chỗ này chỗ kia, nên  phải đi cả gần hai giờ mới tới nhà thương. Chúng tôi nhận xác anh lúc 11 giờ. Trông anh cũng y như lúc đưa anh xuống bệnh xá trại. Không biêt do tình cờ hay một lý do thiêng liêng nào đó, mà cả Anh Tạ văn Dục, Anh Hồ khắc Nghiêm và tôi cùng theo một tôn giáo - Đạo Công Giáo - Riêng Anh Nghiêm và tôi cùng làm việc tại Cục An Ninh Quân Độ. Chúng tôi xin phép đọc cho Anh Dục vài kinh cầu vắn tắt. Tất cả vật dụng của Anh Dục đều xếp đặt bên xác anh trong quan tài tương đối cũng coi được. Riêng tôi, tôi thầm cầu khấn linh hồn anh và xin anh cho tôi được giữ lại quyển Kinh Thánh và cỗ tràng hạt Mân côi. Quả thật không hiểu bằng cách nào mà Anh Dục có thể lưu giữ được quyển Kinh Thánh sau hàng bao nhiêu lần khám xét tư trang. Trước đây, tôi thấy anh buổi tối, thường hay mở túi đựng đồ cá nhân, rồi cứ nhìn nhìn cái gì trong đó. Như vậy có thể những lúc đó, anh đang đọc Kinh Thánh. Thật may mắn,  tôi giữ được cả hai. Trước khi đóng nắp quan tài, hai chúng tôi được lệnh đứng hai bên phía đầu quan tài để họ chụp hình. Sau  đó, đưa quan tài lên chiếc xe " cải tiến "(5) đẩy ra nghĩa trang sát gần đó. Họ dẫn và chỉ cho chúng tôi nơi đào huyệt  an táng, đồng thời cũng dặn đi dặn lại  không được đào sâu quá " một thước tây rưỡi " - và nói rõ là sợ đụng vào xác người đã chôn trước. Họ cũng đưa cho chúng tôi một cây thánh giá gỗ để đóng trên đầu mộ khi xong xuôi. Mọi việc hoàn tất khoảng 3 giờ chiều và một lần nữa, hai chúng tôi đứng hai bên đầu mộ để họ chụp hình. Có lẽ đây là cảnh  an táng duy nhất của một tù nhân " cải tạo " mà chúng tôi biết, có đọc kinh công khai và cán bộ chụp hình. 

Dẫu biết rằng, kiếp nhân sinh rồi ai ai cũng sẽ tới lúc phải đi tới cùng đích này, nhưng nhớ lại chỉ mấy ngày trước, tuy lực tàn sức kiệt, vẫn còn thoáng thấy anh cười - mà nay lại chứng kiến hoàn cảnh ra đi bi đát của anh, thật khó mà nén được nỗi cảm thương chua xót. Không biết ở một nơi xa xôi nào đó, Chị Dục, các cháu cùng những người thân yêu của anh có nhận được một sự linh cảm với hồn phách của anh hay không. Với tôi, tôi tin là có. Dĩ nhiên, Anh Tạ văn Dục không phải là người đầu tiên và lại càng không phải là người cuối. Rồi, ngày mai, không biết sẽ tới ai đây...

Bây giờ, sau 36 năm kể từ ngày anh mất, tôi và cả gia đình mừng Xuân ở xứ người - trong bầu không khí tự do thanh thản  - một điều mà lúc đó cả anh và tôi, có nằm mơ,  cũng không dám nghĩ tới  - lại nhớ tới  anh ,  ước chi... còn có anh .  Tuy chỉ cùng chung sống với nhau hơn 4 tháng, nhưng chính quãng thời gian ấy đã ảnh hưởng thật sâu đậm tới cuộc đời tôi sau này. Quyển Kinh Thánh và Tràng Hạt Mân Côi anh lưu lại đã giúp tôi tìm lại được Nguồn Ánh Sáng và Ơn Cứu Độ mà tôi đã lạc mất. Cám ơn Anh Tạ văn Dục  -  " người bạn tù bất đắc dĩ " của tôi.  Sẽ chẳng bao giờ  quên anh trong suốt quãng đời còn lại.

Portland, OR. Tết Bính Thân 2016.

Vũ ngọc Hải. 

------------------------------ 

(1) Trại Nam Hà và Hà Tây là hai trại giam được chính quyền cộng sản coi như " kiểu mẫu " và dùng đó như những dụng cụ tuyên truyền trước sự lên án quốc tế về việc trả thù những viên chức VNCH. Hầu hết những nhân vật nổi tiếng của Chính Quyền VNCH trước đây đều bị giam ở hai trại này.

(2) Bốn " tiêu chuẩn cải tạo " này bị xóa bỏ khoảng 8-1979  sau khi có một phóng viên Nhật Bổn - vốn đã từng quen  biết cựu Thượng nghị sĩ Huỳnh văn Cao  - khi phỏng vấn cựu TNS,  đã đặt câu hỏi " Chính sách cải tạo  được thể hiện như thế nào ". Cựu TNS  trả lời : " Điều này các ông không cần phải hỏi tôi...bởi vì các ông đã thấy 4 tiêu chuẩn cải tạo được vẽ rất lớn trên tường trước khi vào đây..." Lập tức các phóng viên trong đoàn chạy ào ra và quay phim, chụp ảnh 4 tiêu chuẩn. Ngay chiều hôm đó, bảng vẽ này bị xóa bỏ.

(3)  Hồi chúng tôi mới đến trại Nam Hà năm 1978, tất cả chỉ có 14 phòng. Sau xây thêm 2 phòng 15 và 16 để nhận thêm " Bò Lục "( Cấp đại tá ). Sau đó lại thêm 2 phòng 17 và 18. Mỗi phòng có 2 đội. Mỗi đội thường độ 40 người.

(4)  Chữ " chèo " này khi chúng tôi mới tới trại, nghe các anh em trong đội 19 nói. Đội này ở phòng số 7, chúng tôi thường gọi là đội " Phục Quốc ", vì họ bị cộng sản bắt và quy tội thuộc các tổ chức  chống phá chính quyền cộng sản. Đội này già cỡ 60 tuổi cũng có mà trẻ độ 17, 18 tuổi cũng có; Giáo sư có mà không biết chữ cũng có. Chính những anh em trong họ đã nêu gương cho chúng tôi trong cuộc sống tại đây. Thật đáng ngưỡng mộ. Họ gọi công an là " chèo " - chèo cái , chèo đực. Hỏi do đâu mà có chữ này, thì chính họ cũng không biết rõ, nhưng hình như từ bài thơ " Phường Chèo " của Cụ Nguyễn Khuyến. Vua chèo - tức già Hồ- còn chẵng ra chi, nói chi tới đám chèo con " khác chi thằng hề.

(5)  Xe " cải tiến " thực ra chỉ là loại xe có 2 bánh để kéo hay đẩy. Nay thêm 2 cái chân để khi để xuống, nó không bị mất thăng bằng.