Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2017 Bình Ngô Đại Cáo

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Bình Ngô Đại Cáo

In PDF.
 
Bình Ngô Đại Cáo
bản dịch của thi sĩ Phi Khanh

Thường đã biết việc đời nhân nghĩa
Gốc nguồn cần cốt ở yên dân
Mà cờ reo, trống thúc quân
Chỉ là trừ khử bạo tàn mà nên.
Như nước ta Rồng Tiên truyền đến
Vốn đã xưng văn hiến từ lâu
Sơn hà cương vực trước sau
Bắc Nam phong tục khác nhau đã nhiều.
Xem như các tiền triều vương đế
Kể từ Đinh, Lê, Lý đến Trần
Vinh quang xây đã bao lần
Nước xưng Độc Lập cường lân phải gờm!
Muôn thu để danh thơm nòi giống
Cùng Hán, Đường, Nguyên, Tống một phương,
Dẫu rằng có lúc nhược cường
Song xem hào kiệt bốn phương thiếu gì?
Nên Lưu Cung sợ uy mất vía
Triệu Tiết nghe tiếng đã giật mình
Cử Hàm, Toa hết vung vinh
Bạch Đằng, Ô Mã đã đành sa cơ!
Xem xét lại từ xưa đã rõ
Lịch sử vinh chứng cớ đã đầy!
Tiếc trong nước độ mới đây
Ngẫm xem chính sự, phiền thay họ Hồ!
Khiến muôn dân thán đồ oán hận
Để sơn hà thêm bận đau thương.
Quân Minh là lũ điên cuồng,
Kéo sang hút tủy, róc xương đồng bào.
Tàn ác chẳng bút nào tả được,
Lại lũ tà bán nước cầu vinh.
Rắp lo đời sống riêng mình,
Làm tay sai lũ giặc Minh tham tàn.
Dân đen sống muôn vàn đau khổ
Đứa trẻ con còn đỏ không yên!
Oán hờn hơn một chục niên
Còn đâu nhân nghĩa, đảo điên đất trời!
Tiền thuế má vét thôi đà hết,
Lại bắt nào tìm vết hươu đen,
Lại nào thả lưới dò chim,
Lại nào xuống biển kiếm tìm ngọc châu.
Trên rừng rậm không đâu còn mỏ!
Loài côn trùng cũng khổ theo lây.
Điêu tàn muôn thức cỏ cây,
Điêu liên quan quả thảm thay bao người!
Loài quỷ sống uống tươi máu mỡ,
Bấy nhiêu ngày mà chửa đã no.
Xây nhà đắp đất đủ trò,
Chân tay nào phục dịch cho vừa lòng?
Phu vừa mới bắt xong lại bắt,
Luật lệ nào khe khắt gớm ghê
Bắt ra đi chẳng có về,
Bốn phương vắng lặng hết nghề cửi canh.
Tội ác, trúc rừng xanh không thể,
Ghi làm sao cho xuể thê lương,
Mênh mông sóng nước trùng dương
Không làm sao cọ sạch đường bẩn dơ!
Trời đất nào tha cho lũ ấy,
Nữa thần nhân thấy vậy mà yên?
Cho nên ta dấy nghĩa lên,
Núi Lam là chốn từng phen nương mình.
Lòng căm uất nghĩ tình sông núi,
Đã một thề không đội trời chung
Cùng phương độc ác tàn hung
Quyết ra tay giữ non sông cõi bờ!
Chốc mười mấy nắng mưa đã trải,
Nỗi đau lòng dễ phải đôi khi,
Nằm gai nếm mật bao kỳ,
Bữa quên ăn uống chỉ vì hờn căm.
Sách lược thao bao năm ngẫm nghĩ,
Lẽ phế, hung càng kỹ đắn đo
Đêm đêm trằn trọc canh giờ
Chỉ lo âu nỗi cơ đồ mà thôi!
Chính giữa lúc giặc trời đang mạnh,
Thời Nghĩa kỳ vút cánh lên cao.
Phất bay theo tiếng gió gào,
Khơi bao uất hận, gợi bao khích lòng
Duy ngặt một điều trong buổi mới
Mấy băn khoăn là nỗi riêng ta!
Sớm mai mong lúc chiều tà
Mà nhân tài chỉ như là lá thu!
Tuấn kiệt sao thưa buổi sớm
Chẳng ai cùng trên chốn ngược xuôi.
Ở nơi duy ác hiếm người
Chẳng ai cùng góp đôi lời bàn suy.
Đôi phen mảnh nhung y vùng vẫy
Chỉ nóng lòng về lấy Đông Đô!
Nhưng qua mấy thuở đợi chờ,
Cỗ xe hư tả vẫn chưa ai ngồi.
Mà trông người thì người vẫn vắng.
Vẫn mịt mờ vẫn chẳng thấy ai,
Vẫn như trông vọng ra khơi,
Ngoài khơi chỉ có nước, trời mênh mông!
Thế là ta tự lòng lo cả,
Lại càng thêm vội vã như khi.
Trong giờ chửng nịch hiểm nguy
Cứu người mà có thể trì chậm ư?
Phần giận lũ hung đồ ngang dọc,
Phần thì lo việc nước khó khăn,
Chí Linh lương hết mấy tuần,
Lại như Khôi huyện, đội quân thiếu người
Thì có lẽ sách trời đã định,
Nặng gian sơn một gánh trao ta.
Bắt qua bách chiết thiên ma,
Trải xong vất vả sẽ là thành công.
Nên ta vẫn một lòng son sắt,
Cố gắng liền bất chấp gian lao.
Quốc thù đã lấp trăng sao,
Quyết tâm rửa hận, ngại nào gió mưa!
Múa đầu gậy ngọn cờ phất phới,
Ngóng vân nghê bốn cõi đan hồ.
Khao quân chén rượu đào bồ,
Trỏ đường cứu nước reo hò xuất binh.
Khắp tướng sĩ một tình phụ tử,
Lòng ba quân tạc chữ đồng tâm.
Cho nên giặc mạnh gấp trăm,
Ta dù thế yếu vẫn cầm cự liên!
Chúng lại phải từng phen thất trận,
Mới hay khi căm giận tím gan!
Đem Đại Nghĩa thắng hung tàn
Lấy Chí Nhân để thay quân bạo cường.
Trận Bồ Đằng sấm vang sét dậy,
Miền Trà Lân trúc gẫy tro bay.
Chiến công chiến sĩ đang say,
Tiếng Nam binh lại càng lay vía thù!
Kìa Sơn Thọ đã như mất mật,
Cùng Trần Trí ngửa sấp chạy tan,
Lại loài Phương Chính, Lý An
Vội tìm nơi để được an thân hèn!
Đánh Tây Kinh tan liền thế giặc,
Lấy Đông Đô thu được cõi bờ.
Dưới Ninh Kiều máu chảy sô,
Bến Tụy Động xác hung đồ khắp nơi.
Đầu Trần Hiệp đã rời khỏi cổ
Lại ruồi bâu thây của Lý Lương,
Vương Thông hết cấp lo lường
Mã Anh thôi cũng tắt đường cứu nguy!
Chúng nó đã lực suy trí kiệt
Đành bó tay không biết tính sao
Ta đây lòng rộng trí cao
Dùng mưu kế phạt lẽ nào chẳng xong!
Tưởng nó phải thay lòng đổi nhẽ
Biết luật trời, hiểu lẽ tới lui
Ngờ đâu thế vẫn chưa thôi
Cố còn tìm lối kéo dài chiến chinh
Quen ỷ thế cậy mình là phải
Chỉ biết đi đổ lỗi cho người
Tham công bất quá một thời
Mà bầy trò đến muôn đời nhuốc nhơ!
Lại tên trẻ ranh như Tuyên Đức
Phường tiểu nhân có sức gì chăng!
Mà sai hai đứa Thạnh, Thăng
Đem đồ chửa cháy lại bằng dầu, bông!
Năm Đinh Mùi giữa trong tháng chín
Từ Khâu Ôn, Thăng tiến binh sang.
Thạnh thì từ nẻo Vân Nam,
Hai đàn hổ đói kéo tràn vào ta.
Trước thế nguy ta đà phòng giữ,
Tự điều binh ngăn lũ Bắc quân.
Mọi nơi hiểm yếu, xa gần,
Lại sai tướng chặn lương quân giặc trời.
Cho chúng tuyệt hết nơi tiếp viện.
Cho chúng thêm một chuyến lao đao!
Quân vây, ta đánh thúc vào,
Phá tan thế giặc khác nào chẻ tre!
Ngày mười tám trận Chi Lăng ải
Tên Liễu Thăng đã phải cong đuôi.
Sống thêm đến buổi hai mươi
Mã Yên một trận, hết đời Liễu Thăng.
Lương Minh ngày hăm nhăm thiệt mạng
Lý Khánh hôm hăm tám từ đời
Đao ta đang lúc sắc ngời
Giáo quân giặc phải chịu lùi lại ngay!
Thêm bốn phía quân vây thành tắc,
Cùng hẹn ngày diệt giặc cuồng xâm.
Tướng binh nhất trí đồng tâm,
Ghi lòng thắng trận mười lăm tháng mười
Khắp sĩ tốt ra oai tì hổ
Thần thứ cùng tỏ rỏ trảo nha!
Nặng thù vì nước vì nhà,
Oan khiên ấy gợi tính đà mấy mươi!
Gươm mài đá đá thời phải vẹt,
Voi uống thì sông hết nước sông!
Bao phen sôi giận đùng đùng
Nên cùng quyết rửa cho xong căm hờn!
Đánh một trận sạch trơn kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Gió to trút sạch lá vàng
Kiến khơi tổ rỗng sụt toang đê già.
Thôi Tụ phải quỳ mà xin lỗi
Hoàng Phúc kia tự trói ra hàng.
Lạng Sơn cho đến Lạng Giang,
Thây phơi xương trắng ngập đàng ải quan!
Lại Xương Giang, Bình Than nơi đó,
Máu đỏ tươi nhuộm đỏ suối nguồn.
Ầm ầm thác đổ nước tuôn,
Trùng trùng núi biếc tán hồn Bắc quân.
Gớm thay! sắc phong vân cũng đổi,
Ánh hai vừng chịu nỗi mờ trong.
Binh Vân Nam sợ run lòng,
Đến Hoa Lê bị nghẽn không lối vào...
Quân Mộc Thạnh làm sao nhớn nhác!
Bỏ Thăng thành tan tác chạy mau.
Thảm thay! suối máu Lãnh Câu
Ghê thay! Đan Xá đầu lâu đầy thành.
Quân hai mặt cứu binh sợ chết,
Đã cắm đầu chạy miết về xa.
Còn bao thành lũ khấu tà
Vội về cởi giáp xin ta cho hàng.
Bắt tướng giặc sai mang trị tội,
Nó đã quỳ tạ lỗi hôm xưa.
Vẫy đuôi phục lạy xin chừa,
Xét xem tình thực ta chưa nỡ nào!
Và cũng thể lòng cao bất sát,
Nên cũng cho lũ mạt đường sinh.
Cho từ nay chúng thất kinh,
Để cho chúng biết Nam binh là gì?
Cấp Phương Chính, Mã Kỳ hai kẻ,
Thuyền năm trăm chiếc để hồi hương.
Thuyền ra đến giữa đại dương,
Mà lòng còn vẫn tưởng đương giữ thành!
Lại Vương Thông, Mã Anh hai đứa,
Cho vài ngàn cỗ ngựa lui quân.
Ngựa đã chạy khỏi Nam quan
Mà mồ hôi vẫn chứa chan khắp mình!
Chúng nó đã thật tình phủ phục,
Sợ chết nên cúi nhục cầu hòa.
Xá chi ta chẳng buông tha?
Vả chăng muôn thuở đấy là lòng nhân.
Ta chỉ muốn toàn dân là cốt,
Trăm họ cùng sĩ tốt nghỉ ngơi,
Thực là mưu kế sách trời,
Trước sau xem chửa có đời nào hơn.
Kể từ đây giang sơn mở mắt,
Kể từ đây xã tắc vững bền.
Nhật nguyệt hối lại minh liền,
Càn khôn hết bĩ đến phen thái hồi.
Nền vạn tuế xây đời chăn chắn,
Thẹn ngàn thư sạch nhẵn trơn trơn!
Cũng nhờ Trời, Đất, Tổ Tông.
Thực anh linh mới đã luôn phù trì.
Than ôi! mảnh nhưng y vùng vẩy,
Đại định nay đã thấy nên công.
Bốn phương tỏ rạng mây hồng,
Câu ca thái vũ ngoài trong vang lừng.
Hội vĩnh thanh tưng bừng khắp chốn,
Sáo lạc hoan vang rộn từng mây.
Bình Ngô cáo một thiên nầy
Ngỏ cho dân nước đó đây biết cùng.

NT2 Nguyễn Hữu Tư sưu tầm.