Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai TRỊNH TÙNG: SAO VỘI BỎ CUỘC VUI?

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

TRỊNH TÙNG: SAO VỘI BỎ CUỘC VUI?

In PDF.
 
1.    Như một cú sét đánh vào tim, hung tín đến với tôi lúc sắp nửa đêm thứ bảy 10 tháng 12, qua giọng nói trầm buồn của Nguyễn Tiến Đạt, cựu Tổng Hội trưởng SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL: “Trịnh Tùng chết rồi, chị Tùng mới cho em biết trưa nay.” Tôi bàng hoàng, hỏi lại, dồn dập, không tin. Tin sao được, bởi Tùng mới 67, tương đối còn trẻ, so với lớp lính già thất thập cổ lai hi chúng tôi, và trông còn khoẻ mạnh lắm, sắc diện lúc nào cũng hồng hào. Phải đợi cho Đạt kể hết đầu đuôi, phải đợi được nói chuyện trực tiếp với chị Tùng, ba ngày sau, và nghe tiếng chị nức nở trong phôn: “Thôi mất hết rồi, anh Quý ơi, còn gì nữa đâu?” và “Ảnh ngồi chết trong xe, mà không kịp uống một viên thuốc nào, tội nghiệp quá” (từ ba hôm trước, anh bị cảm nhẹ, vừa mới ghé tiệm mua thuốc, sau khi được bác sĩ khám bệnh), tôi mới chợt hiểu rằng cái chết –cũng như tình yêu và chuyện tử sinh– đã nằm sẵn trong định mệnh của mỗi người, nghĩa là có thể đến với bất cứ ai, vào bất cứ lúc nào, bằng bất cứ cách gì, và tệ hơn, không bao giờ lấy hẹn trước. Nhưng dưới góc cạnh lãng mạn, và trong một nghĩa nào đó, tôi nghĩ rằng anh đã chết một cái chết đẹp, dù quá đột ngột, đẹp như con người của anh khi sống, về thể xác lẫn tinh thần –sạch trong, vằng vặc trăng sao. Một cái chết trẻ, cái chết mà người xưa chỉ muốn dành riêng cho mỹ nhân tự cổ như danh tướng, là những người mà Trời Đất đặc biệt cưng chiều, không cho phép được già, tóc bạc. Một cái chết như mơ. Hay, đúng hơn, như ngủ, mà thi sĩ Baudelaire, cũng chết trẻ, đã hơn một lần khát khao cho chính mình trong hai câu thơ rã rời, chán chường cùng cực: Tôi muốn ngủ! Ngủ hơn là sống / Trong một giấc ngủ dịu êm như nỗi chết.    
 
      Tùng đã bất ngờ ra đi, một mình thảnh thơi về miền Vĩnh Cửu, mà quên rằng anh đã để lại bao nhiêu sầu đau và thương tiếc cho vợ con không được ôm hôn anh lần cuối, và rất đông bạn bè, đồng đội, còn trên dương thế, trong số có tôi, không kịp nghe anh nói một lời chào vĩnh biệt.
  
2.   Tôi quen anh chị Tùng đã 25 năm, hay hơn. Còn nhớ, mùa hè 1990, hay 1991, từ Eastern Washington University (Spokane), tôi xuống quận Cam tham dự Đại hội cựu SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL, do Tổng Hội trưởng Nguyễn Đức Luận tổ chức. Tạm trú tại nhà anh chị Nguyễn Ngọc Dậu. Một buổi chiều, được Đỗ Đức Phú chở trên xe pick-up, cùng với vài anh em khác, có Đinh Hồng Lân, đến nhà Tùng để thăm viếng và chào mừng chị và hai con nhỏ, nghe nói, mới qua Mỹ đoàn tụ với anh. Gặp Tùng lần đầu, tôi có cảm tình ngay, và theo thời gian, tình bạn mỗi ngày mỗi đầy, bền chặt, do thái độ ân cần, từ tốn, nói năng lễ độ, pha chút hài hước, và nhất là lòng chân thành của anh. Mấy năm sau, Tùng được bầu làm Tổng Hội trưởng. Anh chu toàn nhiệm vụ một cách xuất sắc, nhiệt tình, với óc sáng tạo, uyển chuyển. Anh nhờ vợ tiếp tay may áo đại lễ, tiểu lễ cho các cựu SVSQ mặc trong những ngày đại hội. Tính tình vui vẻ, biết kính trên nhường dưới, khiến ai cũng thương mến. Ngoài ra, anh là người chồng tốt, người cha hiền, biết chăm lo, chị nghẹn ngào nói, “không tiêu xài, không đi chơi xa, vì muốn dành dụm tiền bạc cho vợ con” mà anh rất mực yêu thương. Đối đãi bạn bè với hết cả chân tình. Riêng cá nhân tôi được anh quan tâm đặc biệt, có lẽ vì thương tôi còn độc thân, cơm hàng cháo chợ, ngủ sofa, không người nâng khăn sửa túi.  
 
     Ví dụ, tháng 4, 1995, Tùng nhờ Dương Xuân Kính đi họp ở Orange County về, chuyển cho tôi, mà anh gọi là “đại ca Quý vùng Oregon”, một lá thư viết tay, kèm theo tấm ảnh gia đình anh, và một bịch “khô bò của một tiệm ngon nhất Nam Cali […] và bánh cốm, bánh xu xê, bánh gai đệ nhất hạng của Bảo Hiên Rồng Vàng, gởi lên anh Quý cho anh ăn nhức răng dài dài […]” Làm tôi vô cùng cảm động. Khô bò và các thứ bánh đã hết, nhưng sau bao năm, lá thư và bức hình vẫn còn đó, nhất là bây giờ, như là kỷ vật vô giá của người đã khuất.
 
      Tháng 10, 1996, trong tư cách là bạn và đại diện Tổng Hội, Tùng đã nhận lời mời lên Portland, cùng với hiền thê, anh chị Trần Gia Hiếu, và anh Trần Ngọc Dưỡng, tức nhà báo Vương Trùng Dương, dự hôn lễ của vợ chồng tôi, và nhân tiện họp mặt với anh em trong hai Hội Oregon và Washington. Sau đó, lần nào xuống Nam Cali dự Đại Hội, tôi cũng được anh mời ở lại nhà, được anh chị tiếp đãi nồng hậu.
 
      Một lần tôi còn nhớ mãi. Đêm ấy, tại nhà anh, có cựu chỉ huy trưởng, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, cựu Văn hóa vụ trưởng, Trung tá Hoàng Minh Hòa, và tôi. Tùng mở chai rượu cognac XO. Hai vị thầy, viện lý do sức khoẻ, không uống. Chỉ còn anh và tôi uống khô (sec), lai rai, ly này tiếp ly khác, với những món ăn do chị tuần tự bưng lên. Cả bốn người đàn ông chuyện trò rôm rả, về đủ thứ đề tài, chuyện cũ chuyện mới, cùng với những kỷ niệm đầy vơi, rất sôi nổi, đến độ Đề đốc và Trung tá, một lúc nào đó, thấy hứng khởi, cũng bảo anh rót cho mỗi vị một ly, uống để lấy sức nói tiếp. Suốt đêm, cho đến bốn giờ sáng. Ngồi kế bên anh, chị Tùng cũng góp phần vào câu chuyện. Và chúng tôi được biết, khi anh mới ra trường, đổi về Sóc Trăng, nắm một đại đội địa phương quân, và chị theo anh đóng đồn, hay hành quân tảo thanh. Vợ chồng lúc đó mới cưới, chưa có con, và hai bên cha mẹ không muốn chị đi theo anh, sợ nguy hiểm. Nhưng chị trả lời, dứt khoát: “Con không sợ. Chồng con đâu thì con ở đó, sống chết có nhau.” Quả vậy, tôi thấy, không còn một bằng cớ nào tuyệt vời hơn, hùng hồn hơn về sự can đảm và tình yêu thủy chung đích thực của một người vợ lính VNCH thời chinh chiến. Một lần, chị kể, đồn của anh bị tấn công, xạ thủ đại liên của đại đội bị thương, chị liền từ hố cá nhân bò tới, chụp cây súng và bắn tiếp vào những bóng đen đang ùa vô, và khi hết đạn, chị mở chốt lựu đạn đưa cho Tùng ném… Đến đây, chị ngừng, để làm thêm món ăn, và hẹn kể nữa, trong một dịp khác. Tùng thích buổi tối ấy lắm, luôn nhắc đến với sự thích thú, hãnh diện, mỗi lần gặp lại tôi, hoặc qua những cuộc điện đàm. Và hẹn, khi Trung tá Hòa chưa mất, rằng “nếu có dịp, bốn người mình sẽ họp lại, làm bữa nhậu nữa, uống Martel, tại nhà tụi này, như đêm nào.”
 
3.   Bây giờ thì Tùng để chị ở lại, chiến đấu đơn độc trên những nẻo đường đời đầy cạm bẫy và bất trắc. Anh và Trung tá Hòa, kẻ trước người sau, đã sớm bỏ cuộc vui. Đã lỗi hẹn. Sao thế, hả Tùng? Không cho tôi còn dịp nghe chị kể tiếp, nhỏ nhẹ, đơn sơ, đặc giọng miền Nam, về những trận đánh có chị tham gia bên chồng. Không cho tôi còn nhìn thấy nữa nụ cười tươi, điểm chút tinh nghịch, của anh mỗi lần anh đứng lên, nghiêng chai rượu, nheo mắt nhìn tôi, và trịnh trọng rót cho hai vị sĩ quan cao cấp thuộc Trường Mẹ.
 
 4.  Than ôi, bây giờ đã mất hết rồi, còn gì nữa đâu, như chị nói. Còn gì nữa đâu, mà tiếc với nhớ, mà khóc với cười, trong cuộc hành trình vô vọng tìm lại bóng thời gian đã mất. Tùng đi rồi, cả một trời sao bỗng úa tàn, và lệ hoen khoé mắt. Cho lòng tôi thương nhớ Tùng biết mấy như thương nhớ một bằng hữu, một đồng đội, một hiền đệ –từ nay mãi mãi xa rời.
  
     Thôi, hãy ngủ thêm nữa đi, Tùng ơi, như buổi trưa hôm ấy, trong xe. Giấc ngủ dịu êm như nỗi chết của Baudelaire mà tôi vừa nhắc. Giấc ngủ bình yên của những người được Đất Trời chúc phúc, thương yêu, đợi ngày về cõi Vĩnh Hằng. Giấc ngủ ngàn năm. Như mây trắng bay hoài, về đâu, ngoài kia.
 
Portland, 15/12/2016
Kim Thanh, tức Đại úy Nguyễn Kim Quý, 
Trưởng khoa Nhân Văn Xã Hội,
Văn Hóa Vụ, trường ĐH/CTCT/Đà Lạt