Bạn Đang ở đây: Tin Tức Nhận Định Thời Cuộc Đưa Hoa Ngữ vào cấp tiểu học tại VN

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Đưa Hoa Ngữ vào cấp tiểu học tại VN

In PDF.
 Thấy một số khá đông thân hữu xôn xao về việc nhà nước CSVN đang chuẩn bị đưa Tiếng TQ, tiếng Nga, tiếng Nhật và tiếng Anh vào giảng dạy, từ bậc tiểu học trở lên đến hết chương trình phổ thông cấp trung học, như ngoại ngữ thứ nhất và tiếng Pháp, tiếng Hán vào như ngoại ngữ thứ hai, xin viết ra đây đôi ý mọn để cùng trao đổi như sau:

1.-Trước hết, thiết nghĩ cần xác định tính chất căn bản của giáo dục bậc Tiểu Học và Trung Học. Nôm na thì Tiểu Học và Trung Học thuộc về bậc PHỔ THÔNG, có mục đích trang bị những kiến thức căn bản tối thiểu và phổ biến cho đại đa số công dân dưới 18 tuổi, để hoặc chuẩn bị gia nhập thị trường lao động, hoặc để được huấn nghệ, hay để đi vào chuyên môn ở bậc Đại Học.

Trên thế giới, việc học ngoại ngữ ở Tiểu/Trung học, cũng như các môn khác, không thoát ra khỏi tính chất căn bản và phổ thông nêu ở trên; nghiã là không CHUYÊN MÔN. Nói khác đi là không nên trông mong rằng đa số học sinh sẽ thông thạo một ngoại ngữ nào đó khi mới chỉ học xong Trung học; mà chỉ nên mong rằng đa số họ sẽ có đôi chút kiến thức căn bản về ít nhất một ngoại ngữ phổ biến nhất của thế giới đương thời, một căn bản đủ giúp họ tiếp tục học sâu hơn về sau khi họ cần.

2.-Việc chọn lựa ngoại ngữ đưa vào giảng dạy nên được cân nhắc dựa vào một số tiêu chuẩn nào đó.

Trước hết là mức độ PHỔ BIẾN trên thế giới của một ngoại ngữ. Phổ biến không chỉ có nghĩa là có số lượng đông người dùng nó, nhưng còn là mức rộng rãi về địa lý của ngoại ngữ. Tiếng Tàu chẳng hạn, tuy có số lượng người xử dụng đông, nhưng lại không được dùng ở nhiều vùng trên thế giới, nên rõ ràng không phổ biến bằng tiếng Anh hay tiếng Tây Ban Nha.

Kế đến là năng lực TRUYỀN ĐẠT của ngoại ngữ. Tiếng Tàu có năng lực truyền đạt khá lớn, nhất là trong lãnh vực văn hoá, nghệ thuật cổ điển, nhưng trong lãnh vực khoa học-kỹ thuật, đặc biệt là lãnh vực Tin học, thì lại kém xa tiếng Anh, Pháp, ngay cả không hơn tiếng Tây Ban Nha và tiếng Nga.

Tính vào khả năng truyền đạt còn là vấn đề ngoại ngữ nào được dùng nhiều, thông dụng trong các văn bản quốc tế (international documents, treaty, laws, business contracts, postal services, air-sea transportation, etc...), hoặc trong các lãnh vực văn hoá-nghệ thuật, hay kinh tế, v.v...

Căn cứ vào 2 tiêu chuẩn ( mức phổ biến và năng lực truyền đạt) trên đây mà xét thì những ngôn ngữ như tiếng Tàu (Quan thoại, Quãng Đông), tiếng Nga, tiếng Đại hàn, tiếng Nhật, tuy cũng đáng học do nhu cầu giao tiếp cá biệt, nhưng không nên được xếp là ngoại ngữ để đưa vào giảng dạy cho học sinh ở bậc Tiểu/Trung học của VN chúng ta.

3.-Liên quan đến việc học tiếng Tàu, xin có ý kiến như sau. 
Nên lưu ý phân biệt giữa tiếng Tàu (Quan Thoại, Quãng Đông) như một sinh ngữ và chữ Hán như một cổ ngữ hay tử ngữ. Việc lẫn lộn giữa hai loại ngôn ngữ ấy, vô tình hay cố ý, đã dẫn đến lập luận cho rằng học tiếng Tàu giúp nắm vững, và viết, tiếng Việt tốt hơn.

Chữ Hán, được vay mượn nhiều dùng trong tiếng Việt và phát âm theo lối Việt, có thể được xem là một loại cổ ngữ, vì loại chữ đó chỉ người Việt dùng và phát âm theo cách của mình, mà nếu nghe người Tàu cũng không hiểu.

Học loại cỗ ngữ Hán này đúng là có ích cho người Việt về hai mặt ngôn ngữ và lịch sử. Về ngôn ngữ thì để dùng đúng hơn một số lượng khá lớn từ ngữ Việt-Hán, do đó bồi bổ cho tiếng Việt.

Về mặt lịch sử, phải thừa nhận rằng qua hàng ngàn năm, Việt Nam đã xử dụng chữ Hán như là ngôn ngữ chính thức trong nhiều lãnh vực của đời sống xã hội. Nói cách khác, tuy đạt được sự tự chủ về hành chánh-chính trị, VN đã ngoại thuộc về mặt văn hoá-ngôn ngữ Trung Hoa trong một thời gian dài. Tổ tiên chúng ta đã phải nhiều đời ghi chép, sáng tác, học tập, v.v... dùng chữ Hán.

Tây Phương đến, tuy đặt ách thực dân lên cho VN, nhưng cũng đã đồng thời giúp chúng ta đạt được sự độc lập về văn tự; chữ Quốc ngữ là một phương tiện quý báu giúp người Việt khai sinh và duy trì sự độc lập văn hoá-ngôn ngữ, giảm bớt ảnh hưởng ngoại thuộc văn hoá vào Trung Quốc.

Dù vậy, sự xuất hiện của chữ Quốc Ngữ, cũng đã ít nhiều tạo ra một sự đoạn lìa lịch sử giữa tiền nhân và chúng ta ngày nay. Ví dụ điển hình là tuyệt đại đa số chúng ta bây giờ, khi bước vào Văn Miếu, hay vào các lăng mộ tiền nhân, thường không đọc được các văn bản ghi trên đó, không hiểu được phần lớn những diễn đạt của người xưa ghi trên các công trình kiến trúc, văn hoá cỗ!

Sống là truyền thừa, nhưng có thể truyền thừa được chăng khi chúng ta là người Việt lại không hiểu Hưng Đạo Vương đã viết gì trong Binh Thư Yếu Lược hay Vạn Kiếp Bí truyền Thư? Hay không biết nội dung Thất Trảm Sớ của Chu Văn An? Hoặc chẳng hiểu trên văn bia của các tiến sĩ đã viết những gì?

Việc đào tạo những nhà Hán học, thông qua các chương trình Việt-Hán ở bậc đại học, như nền giáo dục của chế độ VNCH trước đây đã làm, là cần thiết để có một đội ngũ những nhà nghiên cưú văn hoá-lịch sử, có khả năng đọc hiểu văn bản của tiền nhân, rồi dịch ra phổ biến cho mọi người. Làm như vậy chính là để giảm thiểu sự chia lìa lịch sự-văn hoá như đã nêu, để tái tạo phần nào sự liền mạch của truyền thống dân tộc.

Tất nhiên việc học chữ Hán như viết trên đây là học một cỗ ngữ, để bồi bổ cho tiếng Việt, và nối kết với tiền nhân về tinh thần, không liên quan gì đến việc học tiếng Tàu như một sinh ngữ đáp ứng cho các nhu cầu giao tiếp thường nhật.

Vắn tắt xin ghi ra một số ý kiến như vậy để trao đổi cùng thân hữu xa gần liên quan đến việc giới cầm quyền VNCS đang đưa ra một thay đổi, tuy nghe có vẻ lớn lao, nhưng nông cạn và kém thực tế, trong việc dạy ngoại ngữ cho học sinh Tiểu/Trung học.



Trương Đình Trung