Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai NHỮNG HẠN CHẾ & ƯU VIỆT CỦA CÁ TÍNH DÂN TỘC TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

NHỮNG HẠN CHẾ & ƯU VIỆT CỦA CÁ TÍNH DÂN TỘC TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

In PDF.
Trong cuốn Chính Đề Việt Nam của tác gỉa Tùng Phong-- nhiều người cho là của ông CV Ngô Đình Nhu, có xác định mục tiêu cuối cùng của công cuộc tranh đấu chống xâm lược, không phải là giành độc lập, thống nhất đất nước, mà chính là PHÁT TRIỂN DÂN TỘC (PTDT) hay thăng tiến con người và phát triển quôc gia. Quan điểm này tuy đã cũ theo dòng thời gian, nhưng lại khá mới mẻ trong cộng đồng Việt, có thể gây nhiều tranh luận trong giới thức giả. Tuy nhiên với tư cách là người tán đồng đề cương xây dựng đất nước theo đường lối dân chủ pháp trị xuyên qua phương pháp khoa học kỹ thuật hóa toàn diện, bài tham luận dưới đây có mục đích tìm hiểu quan điểm, thời cơ và phương thức thực hiện công cuộc PTDT trong đó bao hàm những hạn chế và ưu việt của cá tính dân tộc mà tác gỉa phân tích và đề nghị căn cứ vào tiến trình lịch sử thế giới hai ngàn năm sau Công Nguyên và Lịch Sử Việt gần một ngàn năm kể từ thời kỳ tự chủ (938) đến khi quân Pháp bắn phát súng đại bác đầu tiên vào cửa bể Đà Nẵng (1859).  Phần kế tiếp đi sâu một bước, tìm hiểu “ Tính Khí “ con người Việt Nam trong toàn bộ sự nghiệp Tây phương hoá do tác gỉa Tùng Phong đề nghị nhắm vào trọng điểm PTDT; đồng thời căn cứ trên công trình tham cứu của nhiều tác gỉa về các nước Nhật, Do Thái và cơ quan Nghiên cứu Xã hội Mỹ (American Institute For Social Research) về cá tính con người Việt Nam, để rút ra những bài học từ những nước có liên quan hay tương đồng với vận mệnh dân tộc Việt Nam để cùng nhau phản tỉnh khắc phục cá tính tiêu cực, bổ xung và phát triển những mặt tích cực của cá tính dân tộc trong huyết thống mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng nguời Việt, khẳng định một tinh thần hướng thượng với hy vọng góp phần thay đổi não trạng con người Việt chúng ta, hầu đáp ứng nhu cầu phát triển dân tộc và đất nước trong tương lai. 

VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DÂN TỘC

Trong cuốn sách Chính Đề Việt Nam của Tùng Phong (1)--dày khoảng 229 trang (?), xuất bản năm 1965, không ghi nhận một định nghĩa chính thức nào về vấn đề Phát Triển Dân Tộc, mà chỉ phân tích những trường hợp cụ thể như Nga Sô, Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn độ... cùng những phương thức chi tiết tiến hành đường lối phát triển của mỗi nước. Tác gỉa đã dồn mọi nỗ lực để phân tích lịch sử thế giới và Việt Nam dưới mọi góc cạnh để đề ra một phương pháp tiếp thu khoa học kỹ thuật của phương Tây một cách toàn diện, cũng như khai thác triệt để sự mâu thuẫn quyền lợi giữa các thế lực chính trị trên thế giới để phát triển dân tộc. Điển hình hai nước thành công trong công cuộc phát triển này, theo tác gỉa là Nhật Bản và Nga sô. Từ đó ông rút ra bài học từ những sự kiện lịch sử cụ thể để hướng về những cơ hội và điều kiện phát triển cho Viêt Nam những năm 1960s, mà viễn kiến vẫn còn giá trị rất đáng khâm phục cho đến ngày nay.

Trường hợp Nga sô,

Các nhà lãnh đạo Nga theo chiến thuật cổ truyền, đã nỗ lực hấp thụ các kỹ thuật mới của Tây phương. Nhưng ngoài kỹ thuật vật chất họ lại thâu nhận thêm thuyết Cộng Sản, vì hai lý do:

Thứ nhất,. Họ muốn gấp rút bắt kịp Tây Âu bằng cách tổ chức trước Tây phương một xã hội mới thích nghi với các phương tiện sản xuất mới như Marx đã đề nghị.

Thứ hai,  Khi nước Nga trở nên thành trì của chủ thuyết Cộng Sản, thì sự bành trướng của thuyết này trong các nước Tây Âu sẽ biến các Đảng Cộng Sản của các quốc gia này thành những đồng minh nội tuyến trong lòng địch, sẽ tiết kiệm rất nhiều xương máu cho Nga trong cuộc tranh chấp hằng mấy thế kỷ với Tây Âu. Xem thế, chuyển từ Tây Âu sang Nga, thuyết Cộng Sản đã nghiễm nhiên từ một phương thuốc được đề nghị cho xã hội Tây phương, vừa là một phương tiện giúp cho sự phát triển của Nga, vừa là một khí giới sắc bén giúp Nga đánh bại kẻ thù. Chính Mao Trạch Đông một lãnh tụ CS đã từng xác nhận: Lý thuyết Karl Marx không có gì thần diệu, nó chỉ có lợi (như một phương tiện tranh đấu), nhưng nó “không ích lợi bằng cục phân bón”.

Như vậy đối với Nga sô, thuyết Cộng Sản chỉ là một công cụ đấu tranh bành trướng. Phương pháp này áp dụng ở Nga lúc đầu đã đưa đến kết qủa, nhưng qua thử thách của thời gian, do phưong pháp cưỡng bức quần chúng qúa khắc nghiệt, đi ngược với nhân tính, đến nay tự nó đã dẫn đến thất bại hoàn toàn, chưa kể đến việc không thể áp dụng hữu hiệu cho mọi quốc gia, mà trường hợp Trung Hoa là điển hình. Đặc biệt phương pháp “gậy ông đập lưng” chỉ có tác dụng lúc đầu đối với Tây phương, sau đó dựa vào phân tich xã hội, các quốc gia Tây phương đã tìm ra phương thuốc đặc trị cho mình, và lý thuyết đấu tranh lỗi thời của Karl Marx thế kỷ 18 không còn tác dụng nữa.

Trường hợp Nhật Bản,

Dân tộc Nhật có được cái may mắn là trong thời kỳ vận mạng của quốc gia này bị đe doạ mất còn trong gang tấc, lại có được một tầng lớp lãnh đạo cực kỳ sáng suốt. Họ nhận thấy ngay ra con đường sáng của dân tộc là phải canh tân và đoạn tuyệt với quá khứ. Những người này, trong một giai đoạn quyết liệt đã cởi bỏ được cho đất nưóc cái mặc cảm tự cao tự đại từ ngàn xưa, và có đủ can đảm nhìn các biến cố với con mắt thiết thực của những nhà chính trị yêu nước. Nhờ vậy, Nhật nhận ra được ba điều tối quan trọng:

Thứ nhất: Lực lượng xâm lăng hơn hẳn lực lượng kháng chiến quốc gia về kỹ thuật tổ chức và kỹ thuật võ trang.

Thứ hai: Muốn nhất thời thắng được lực lượng xâm lăng, chỉ có cách duy nhất là chế ngự được kỹ thuật tinh xảo của địch để phục vụ cho mình.

Thứ ba: Mâu thuẫn nội bộ giữa các cường quốc trong mặt trận xâm lăng của Tây phương là cơ hội duy nhất để bảo vệ nền độc lập và phát triển dân tộc.

Óc sáng suốt phi thường của những nhà lãnh đạo Nhật Bản lúc ấy đã cấp thời tìm ra ngay từ đầu những biện pháp ứng phó duy nhất có hiệu quả mà như chúng ta đã thấy ở các nhà lãnh đạo Nga, chế ngự kỹ thuật của địch để thắng địch. Các sự kiện trên đây là nguồn gốc của cuộc cách mạng duy tân của Nhật thời Minh Trị Thiên Hoàng. Những kỹ thuật của Tây phương trong mọi lĩnh vực được phân tích học hỏi và áp dụng triệt để. Nhu cầu cấp thời đã đặt ưu tiên cho lĩnh vực quân sự và chính trị. Lề lối lãnh đạo cổ truyền theo chế độ quân chủ chuyên chế của xã hội Đông Á đã nhường chỗ cho lý thuyết chính trị của Tây phương. Quân đội tập hợp và võ trang theo thời xưa đã biến thành một quân lực hùng hậu tổ chức võ trang theo phương Tây. Sau đó các phương pháp sản xuất kinh tế được duy tân. Chuyên viên Tây phương tấp nập kéo đến, vì quyền lợi cá nhân quyến rũ và nhất là vì mâu thuẫn chính trị giữa các cường quốc chinh phục.

Nhờ sáng suốt các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã nắm ngay được cơ hội dù trễ một trăm năm. Và nhờ nắm được cơ hội ngay nên họ đã thành công trong công việc đưa dân tộc Nhật lên hàng tiến bộ như chúng ta đã thấy ngày nay. 

Cốt Lõi Của Vấn Đề Phát Triển Dân Tộc 

Cuốn Chính Đề Việt Nam là một đề cương chính trị của Tùng Phong dựa trên những phân tích lịch sủ của Việt Nam và Thế giới đã nhận định sắc bén nhiều vấn đề nền tảng trọng đại của đất nước một cách cụ thể. Trong phạm vi nhỏ chúng ta với tư cách là những thành viên của cộng đồng dân tộc, cần có sự hiểu biết căn bản để hổ trợ cho nhu cầu phát triển dân tộc trong tuơng lai. Với quan niệm này, xin được thâu tóm năm vấn đề căn bản nhất của công cuộc phát triển dân tộc: Cơ hội phát triển; chế ngự khoa học kỹ thuật; vấn đề lãnh đạo; tín hiệu tập hợp (tôn giáo) và tính khí dân tộc.

1- Những cơ hội  phát triển:

Nghiên cứu lịch sử cận đại và hiện đại tác gỉa cho rằng, Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hôi thứ nhất khi các đế quốc phương Tây (chủ yếu là Pháp) tranh giành thuộc địa trên đất nước ta. Ông cha chúng ta không đủ khôn ngoan sáng suốt như người Nhật, mở toang cửa để đón nhận, đồng thời bắt chước các thế lực đế quốc phương Tây thời ấy lợi dụng sự mâu thuẫn của họ để canh tân đất nước, phát triển dân tộc. Ngược lại chính sách “bế quan toả cảng” đã khiến người Pháp độc quyền khuynh loát, đưa đất nước vào vòng cương tỏa theo chế độ thực dân hà khắc của họ suốt một trăm năm.

Từ ngày Đại Chiến Thứ Hai chấm dút, chính trị thế giới giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản lại biểu hiện sự mâu thuẫn sâu sắc về chính trị. Chiến tranh lạnh (cold war) đã xảy ra giữ hai khối Tây Phương và Liên Sô khởi đầu bằng cuộc phong toả Tây Bá linh của Nga (1948). Tây phưong dẫn đẩu là Hoa Kỳ và Anh quốc đã tạo đồng minh bằng sự viện trợ cho các cường quốc Tây Âu theo kế hoạch Marshall, phục hưng Tây Đức và Nhật Bản. Sự viện trợ cho các quốc gia vừa độc lập, tất cả đều nằm trong kế hoạch toàn cầu của Phương Tây, nhằm liên kết các đồng minh trong một chiến lược vĩ đại bao vây Nga Sô. Đối lại, sự giúp đỡ cho Trung Hoa phát triển, sự viện trợ cho các quốc gia chống Mỹ như Cuba, tất cả đều nằm trong một chiến lược toàn cầu của Nga Sô để phá vòng vây của đối phương. Đối với các quốc gia trước kia đã bị bán thuộc địa hóa, hay bị thuộc địa hóa, các sự kiện trên thật là một cơ hội hiếm có, tự nhiên độc lập được phục hồi và tự nhiên được viện trợ để phát triển. Cho đến ngày nay, bao nhiêu quốc gia đã nắm được cơ hội ấy để phát triển? người ta chỉ nhìn thấy có Trung Hoa. Việt Nam chúng ta, sau năm chục năm trong bối cảnh đó, chẳng những chưa lợi dụng được mâu thuẫn giữa Tây phương và Nga Sô để phát triển dân tộc, lại còn bị mắc kẹt trong cái vòng mâu thuẫn đó. Do đó, chẳng những chúng ta không phát triển được, lại còn bị tiêu hao nhân lực và tài lực đến một mức độ rất đáng lo ngại.

Sau năm 1975, nhu cầu chiến lưọc của vị trí Viêt Nam không còn nữa, khi “ngoại giao bóng bàn” của Mỹ đã bắt tay được với Trung cộng, kể như một cơ hội phát triển đất nước đã vượt khỏi tầm tay của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Một cơ hội tiếp theo đang hình thành sau cuộc canh tân đất nước bằng đường lối bất kể “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình, Trung Cộng đã đạt được sự phát triển và đang hăm he đe doạ Biển Đông. Chiến lược Đối Tác Liên Thái Bình Dương (TPP) của Mỹ lại quay về lôi kéo Việt Nam vào vòng chế ngự Trung Cộng. Liệu các nhà lãnh đạo Việt nam có nắm bắt được cơ hội thứ ba này? Nếu lần này, các nhà lãnh đạo Viêt nam lại để vuột khỏi tầm tay thì, dựa theo kinh nghiệm thất bại hai lần trước, chúng ta cũng có thể đoán được hoàn cảnh nào đang chờ đợi dân tộc chúng ta. Và trách nhiệm thất bại mà thế hệ chúng ta phải mang đối với các thế hệ tương lai sẽ vô bờ bến...  

2- Chế ngự khoa học kỹ thuật : Thông thường các quốc gia chậm phát triển khi tiếp xúc với văn minh Tây phương hay khai thác, vận dụng công cụ khoa học kỹ thuật về quân sự của họ để mưu tìm thắng lợi nhất thời, ít khi nghĩ đến việc giáo dục nhân tài để chế ngự tinh hoa của khoa học kỹ thuật Phương Tây-- nguồn gốc của sự tiến bộ lâu dài, do đó khó thoát khỏi sư áp chế nặng nề của các đế quốc Tây Âu.  Đào tạo óc chính xác trong suy luận và ngăn nắp minh bạch trong tổ chức cho mỗi công dân, mới chính là cốt lõi của vấn đề phát triển dân tộc.

Trước khi khoa học phát triển như ngày nay, tập quán của người Tây phương đã chính xác trong suy luận và ngăn nắp minh bạch trong tổ chức. Trái lại, lối suy luận của người Đông Á nặng về  trực giác, tượng hình, do đó lối suy luận dù sâu sắc nhưng rất mơ hồ, khó rút ra được những định luật khoa học chi phối thiên nhiên để phục vụ đời sống con người. Sự thực, chính người Tây phương lại đã thừa hưởng những đặc tính khao học đó của những nền văn minh Hy Lạp và La Mã ngay trong lối kiến trúc câu văn của Hy Lạp cũng như của La Mã thời cố đại, do vậy chúng ta có thể tin tưởng có thể đầu tư óc khoa học này qua học tập và tích lũy bằng đường lối phát triển khoa học toàn diện.

3- Vấn đề lãnh Đạo

Quan niệm lãnh đạo: Bộ máy lãnh đạo của một quốc gia được ấn định bởi chính thể lựa chọn. Sự lựa chọn chính thể lại tùy thuộc ở quan niệm về vấn đề lãnh đạo. Khối Cộng Sản và khối Tự Do, ngày nay khác nhau trên phương diện hình thức, ở chỗ một bên chủ trương chính thể Độc tài đảng trị, một bên chính thể Dân chủ pháp trị. Về thực chất khối dân chủ pháp trị lựa chọn con đường phát triển dân tộc bằng phương thức cân bằng động, xuyên  qua đường lối điều hành thể chế dân chủ ở sự tôn trọng nhân tính con người. Phương thức cách mạng toàn diện của người CS được thực hiện bằng sự cưỡng bức quần chúng chấp nhận hy sinh khắc nghiệt trong hiện tại cho một viễn tượng lý tưởng ở tương lai. Vấn đề này cho đến nay đã được thực tế lịch sử khẳng định bằng sự ưu thắng của kinh tế thị trường đối với kinh tế xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới. Đến nay sự khác biệt không chỉ la hình thức bề ngoài mà còn ở nội dung đối nghịch về mức độ tự do hoặc độc đoán của thể chế Dân chủ pháp trị và Độc tài đảng trị.

Bộ máy lãnh đạo: Bộ máy lãnh đạo của người Cộng Sản cũng là di sản của lý thuyết Công Sản phát xuất từ phương Tây, đã bị xã hội phương Tây loại bỏ. Bô máy lãnh đạo của thể chế Dân chủ pháp trị là di sản của nền văn minh La-Hy với  kinh nghiệm tích lũy hàng ngàn năm về trước, bao hàm những nguyên tắc căn bản sau đây:

1- Bảo đảm được sự chuyển quyền một cách hoà bình.
2- Bảo đảm sự liên tục của bộ máy lãnh đạo quốc gia.
3- Bảo đảm được sự thay đổi người lãnh đạo.
4- Bảo đảm được sự áp dụng nguyên tắc thăng bằng động giữa quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể.
5- Bảo đảm sự lãnh đạo quốc gia mở rộng, để thâu nhận nhiều tài năng lãnh đạo.
6- Bảo đảm sự kiểm soát người cầm quyền, hay sự lạm quyền.
7- Bảo đảm sự hữu hiệu của chính quyền trong viếc phục vụ quần chúng.

Trong hoàn cảnh Việt Nam có những yếu tố khuynh đảo nội bộ phát sinh từ gần một thế kỷ thuộc Pháp và những yếu tố khuynh đảo bên ngoài do cuộc tranh chấp giữa Tây phương và Cộng Sản đưa đến. Vì vậy quan niệm lãnh đạo dẫn dắt đến hình thức chính thể rất quan trọng cho sự bảo vệ trạng thái thăng bằng động tiến cho cộng đồng trong những thời kỳ bình thường, càng trở nên vô cùng thiết yếu trong một thời kỳ khủng hoảng như của chúng ta hiện nay.

Theo tác gỉa Tùng Phong, trường hợp Việt Nam, không thể đặt vấn đề quan niệm lãnh đạo và chính thể mà không đề cập đến vấn đề Cộng Sản được, vì chính nhân danh quan niệm Cộng Sản lãnh đạo mà cuộc chiến tranh tương tàn đã diễn ra trên mảnh đất này cho đến những năm 70s. Và hiện nay hậu qủa còn đang đe doạ trầm trọng tương lai của đất nước trước mưu đồ xâm lấn ào ạt của kẻ ngoại thù.

Sự gián đoạn lãnh đạo: Cũng theo tác gỉa, gánh nặng mà thời kỳ thống trị của đế quốc đã để lại cho chúng ta là, sự gián đoạn trong vấn đề lãnh đạo quốc gia. Chúng ta đã thấy rằng đất nước chúng ta lâm vào một sự gián đoạn đến một mức độ trầm trọng nhất. Sự chuyển quyền không thể thực hiện được giữa lớp người trước và lớp người sau; bí mật quốc gia và bí mật lãnh đạo đều bị mất; thuật lãnh đạo không truyền lại được. Do vậy người lãnh đạo không có đủ di sản dĩ vãng để làm nền tảng cho những quyết định trọng đại, do văn khố thất lạc và bị cướp bóc. Một trong các nguyên nhân chính yếu tạo ra sức mạnh của các cường quốc là sự liên tục lãnh đạo quốc gia trong nhiều thế hệ liên tiếp. Nhờ vậy những kinh nghiệm lãnh đạo được kết tụ và lưu truyền cho các thế hệ về sau. Hơn nữa quan niệm quét sạch tàn tích trước, để xây dựng tương lai là một quan niệm ấu trĩ, không được huấn luyện về ý thức chính trị, không người lãnh đạo nào, kể cả những người cách mạng cuồng nhiệt nhất, có quyền nuôi một ý tưởng như vậy. Bởi vì “không có một hành động nào tàn sát một dân tộc bằng hành động quét sạch tàn tích trước để xây dựng tương lai”, vì như thế có nghĩa là không bao giờ chúng ta xây dựng được một kho tàng khinh nghiệm để làm hậu thuẫn cho sự lãnh đạo quốc gia. Thêm vào các gánh nặng trên đây, đế quốc đã lưu lại cho chúng ta sự thiểu người lãnh đạo trong các ngành, một trở lực to tát cho công cuộc phát triển đang đợi chờ chúng ta. Vấn đề lại càng nan gỉai khi các cộng đồng người Việt hải ngoại sau 1975 đã không tìm được mẫu số chung về người lãnh đạo, khả dĩ hợp nhất được tiềm lực đấu tranh xây dựng cộng đồng và hỗ trợ cho công cuộc phát triển đất nước vào những ngày sắp tới.

4- Tín Hìệu Tập Hợp (Tôn Giáo)

Chúng ta có thể chia các giáo lý tôn giáo ra làm hai loại theo tiêu chuẩn dưới đây:

- Loại thứ nhất là các giáo lý công nhận đời sống ở thế gian là có thực và tìm cách giải quyết các vấn đề của nhân loại ngay trong cõi đời này. Gia Tô giáo và Hồi giáo thuộc loại này

- Loại thứ hai là các giáo lý phủ nhận đời sống ở thế gian, không tìm cách giải quyết các vấn đề của nhận loại trong đời sống ở trần thế mà chỉ chú trọng đến đời sống ở thế giới bên kia. Phật giáo, Lão giáo và Ấn Độ giáo thuộc loại thứ hai.

Trong những điều kiện khắc khổ đòi hỏi nhiều hy sinh của quần chúng, cố nhiên là tín đồ của các tôn giáo thuộc loại thứ nhất sẵn sàng tham gia vào công cuộc phát triển dân tộc hơn là tín đồ của các giáo lý thuộc loại thứ hai. Bởi vì những người trước để tâm đến đời sống hiện tại hơn, trong khi những người sau này, dù không phủ nhận đời sống hiện tại, vẫn không tích cực tìm cách giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống ở thế gian. Lúc gặp gian khổ, xu hướng tự nhiên của những người này là tránh phấn đấu, tìm cách an phận hay “nín thở qua sông”. Trái lại, trong hoàn cảnh đó, xu hướng tự nhiên của những người trước là cố sức phấn đấu để tìm cách giải quyết các vấn đề ngay trong đời sống hiện tại. Hai xu hướng này đã minh chứng rõ trong xã hội Nhật Bản, Nga Sô và Việt Nam:

Nhật Bản: đã thành công trong công việc phát triển dân tộc nhờ vào sự thu hút của tôn giáo: phái thiền của Phật giáo. Trường hợp của nước Nhật mới xem qua, không xác nhận lý luận trên. Thật ra thì Thiền là một môn phái của đạo Phật, nhưng sau khi sang đất Nhật rồi, đụng với dân tộc tính của Nhật, giáo lý nhà Phật đã thay đổi một cách sâu xa đến nỗi thuyết bất bạo động của Phật đã biến thành tín ngưỡng của những nhà quí tộc say máu anh hùng (Samurai). Và giáo lý phủ nhận đời sống của Phật đã biến thành giáo lý công nhận đời sống của đạo Thiền. Hơn nữa các nhà lãnh đạo Nhật Bản thời Minh Trị, chủ trương đưa Thần đạo lên hàng quốc giáo để hướng dẫn công cuộc Tây phương hóa nước Nhật. Căn bản của giáo lý Thần đạo là tôn sùng tạo hóa dưới mọi hình thức, nghĩa là công nhận đời sống hiện tại, một cách tích cực.

Nga Sô: như chúng ta đã biết, theo Gia Tô Giáo Đông Phái. Gia Tô Đông Phái ở Hy Lạp và Tây Phái ở La Mã đã phân ly với nhau không phải vì những nguyên nhân về giáo lý mà vì những điều thuộc về nghi lễ và xử dụng tượng Thánh. Nghĩa là dân chúng Nga vẫn có tâm lý của những người tín đồ của một tôn giáo công nhận đời sống hiện tại. Tuy nhiên, trong trường hợp của Nga, yếu tố tôn giáo lại có ảnh hưởng không phải tích cực mà là tiêu cực, bởi vì phương pháp áp dụng bởi các nhà lãnh đạo Cộng Sản là một phương pháp cưỡng bách đến tột độ. Do đó mức độ tham gia đòi hỏi ở dân chúng vượt qúa mức độ sẵn sàng của tín đồ Đông Phái.

Việt Nam: Theo truyền thống văn hóa Trung Hoa. Về phương diện tôn giáo, Phật giáo và Lão giáo đã ăn sâu vào đại chúng. Nhưng cũng như ở Trung Hoa, sự phủ nhận đời sống hiện tại của hai giáo phái này đã được luân lý xã hội của Khổng Mạnh (nhập thế) quân bình. Nhờ đó mà có thể nói rằng quần chúng Việt Nam sẵn sàng tham gia công cuộc phát triển dân tộc. Nếu có trở ngại, thì chắc chắn không phải ở chỗ tiềm thức dân tộc quá thiên về các giáo lý phủ nhận đời sống, nhưng mà ở chỗ xã hội chúng ta bị tan rã, nên các tín hiệu tập hợp không còn.

Theo sự kiện phân tích trên đây, thiểu số tín đồ Thiên Chúa giáo và Phật giáo sẽ đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển dân tộc. Bởi vì trước hết ảnh hưởng quân bình của luân lý Khổng Mạnh đã chế bớt rất nhiều xu hướng trốn tránh cuộc đời của những tín đồ Phật giáo. Lẽ thứ hai là ngay trong Phật giáo cũng có hai thái độ. Thái độ xuất thế, để tìm sự cứu rỗi cho bản thân ở thế giới bên kia. Thái độ nhập thế, tìm cách cứu độ chúng sanh ngay trong đời sống. Dù sao thái độ nhập thế vẫn là một thái độ công nhận đời sống hơn là thái độ xuất thế. Và do đó, trong công cuộc phát triển dân tộc, thái độ nhập thế của các vị Bồ Tát sẽ thích hợp với nhu cầu phát triển quốc gia hơn. 

5- Tính Khí Dân Tộc

Theo tác gỉa Tùng Phong, định nghĩa chi tiết tính khí là một việc không dễ, bởi vì tính khí thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Tính khí là một đức tính của cá nhân thiết yếu cho cộng đồng hơn cả sự thông minh của trí óc. Các dân tộc đã thành công trong sự nghiệp kỹ nghệ hoá đều là những dân tộc có tính khí rất cao. Ví dụ, hai dân tộc Anh và Pháp. Và tính khí thể hiện một cách mạnh bạo nhất không chỉ trong những cơn khủng hoảng khích động đến tột độ các khả năng của cá nhân để có thể tạo ra những hành động phi thường, khắc phục trở lực từ ngoài đưa đến. Đời sống thường ngày mới là chiến trường thử thách trường kỳ đối với tính khí. Và cũng chính đời sống thường ngày mới là phạm vi môi trường phát triển của tính khí. Tính khí có điều kiện phát triển, ở một cá nhân hay trong một cộng đồng, khi nào cá nhân hay cộng đồng tin tưởng một cách vũng chắc vào một số tiêu chuẩn giá trị làm nền tảng cho đời sống cộng đồng. Bất cứ trong một xã hội nào, nếu các tiêu chuẩn giá trị còn giữ nguyên vẹn uy tín, thì tính khí đương nhiên sẽ đơm hoa kết trái tốt đẹp. Vì vậy cho nên, những điều kiện có khả năng bảo vệ các tiêu chuẩn giá trị cũng có khả năng phát huy tính khí ở đây cũng lại đòi hỏi sự liên tục trong vấn đề lãnh đạo cộng đồng.

Xã hội của Việt Nam trước đây theo Nho giáo, toàn thể cộng đồng đều tin một cách mãnh liệt vào các tiêu chuẩn giá trị của Khổng Mạnh. Nhờ đó xã hội chúng ta đã sản xuất được rất nhiều gương tính khí hào hùng. Cái tiết tháo của nhà Nho xưa ta là một hiện tượng của tính khí. Nhưng cùng với sự sụp đổ về quân sự của quốc gia, nước chúng ta bị đô hộ, xã hội chúng ta tan rã vì các tiêu chuẩn giá trị cũ bị văn minh Tây phương đả phá đến tột độ. Đồng thời với sự mất uy tín của các tiêu chuẩn giá trị cũ, tính khí của dân tộc chúng ta trở nên suy đồi. Như vậy thì công cuộc đào luyện tính khí cho cộng đồng phải bắt đầu bằng sự nêu lên các tiêu chuẩn giá trị làm nền tảng cho đời sống của cộng đồng. Ví dụ, Tổ chức gia đình là một tiêu chuẩn giá trị; hay Cộng đồng nhân loại, một tiêu chuẩn khác mà nhân loại đã hình thành sau nhiều năm tìm kiếm. Ngoài ra vì công cuộc Tây phương hóa mà dân tộc theo đuổi để sinh tồn, chúng ta sẽ tin tưởng vào những tiêu chuẩn giá trị của kỹ thuật Tây phương, hay  tin tưởng ở các đặc tính chính xác về lý trí, ngăn nắp và minh bạch trong tổ chức. Lại có tiêu chuẩn giá trị là di sản của truyền thống văn minh Á Đông: phát triển vật chất phải được thực hiện đồng thời với sự phát triển tâm linh...

Một khi đã có những tiêu chuẩn gía trị, tính khí sẽ có cơ hội nảy nở. Tuy nhiên sự nảy nở của tính khí vẫn còn tùy thuộc hai điều kiện:  thứ nhất: có những phương pháp vật chất, hoặc cá nhân, hoặc tập thể để luyện tính khí; thứ hai là: các phần tử của cộng đồng phải tin tưởng vào các tiêu chuẩn giá trị đã được chấp nhận. Đó chímh là nhiệm vụ của tổ chức giáo dục chính danh và tổ chức giáo dục quần chúng của công cuộc lãnh đạo đất nước.

Trong điều kiện thứ nhất, mục đích trực tiếp của các phương pháp thực luyện tính khí là, huấn luyện cho mỗi cá nhân tập quán chế ngự cơ thể và tư ttưởng của mình. Sự huấn luyện lúc nào cũng bắt đầu với những phương pháp chế ngự cơ thể, bởi vì hành động đối với vật chất cụ thể dễ hơn hành động đối với tư tưởng trừu tượng. Trong những phương pháp này cho đến ngày nay ta thấy các môn thể thể thao có hướng dẫn đã tỏ ra có hiệu quả nhất. Các môn thể thao tập cho ý chí chủ động các bắp thịt và các phản ứng của cơ thể. Ý chí đã chủ động được cơ thể thì lần lần đạt được lên trình độ làm chủ được tư tưởng. Các môn thể thao tập thể còn tạo được khả năng huấn luyện ý thức cộng đồng và trang bị cá nhân bằng những phản ứng cần thiết cho một đời sống cộng đồng. Nhiều môn thể thao cũng là những phương pháp để tập trung tư tưởng, trong đó có các môn võ thuật, giúp cho cá nhân chế ngự được cơ thể và dần dần lên đến trình độ chế ngự được tư tưởng. Phép yoga của Ấn Độ, phép Thiền Định của Phật và Lão Tử, phép tu dưỡng tinh thần của đạo Hồi và đạo Gia Tô, đều nhằm mục đích chế ngự cơ thể để lần lần lên đến mức chế ngự tự tưởng. Các phép sau này kiến hiệu hơn phương pháp thể thao nói trên rất nhiều, và chóng đưa con người đến chỗ tự chủ với một trình độ rất cao. Tuy nhiên các phương pháp này đều không có tính cách tập thể như những phương pháp thể thao. Mỗi cá nhân dưới sự hướng dẫn của một người được mình tôn kính làm Thầy, cố gắng tập trung tư tưởng vào một đối tượng để tìm cách chế ngự bản thân. Các phép luyện thần này đều dựa trên căn bản khổ hạnh. Tất cả các phép luyện thần và phương pháp thể thao đều dựa trên căn bản huấn luyện cơ thể và trí óc tận dụng hết khả năng trong một trật tự nào đó. Vì vậy cho nên hai cách luyện tính khí trên không đối chọi nhau, mà ngược lại bổ xung cho nhau.
 
Điều kiện thứ hai: Giáo dục quần chúng. Chúng ta đã thấy rằng, ngay trong những thời kỳ bình thường của cộng đồng, nhu cầu của sự lãnh đạo cộng đồng cũng đã đặt thành một vấn đề rất quan trọng, cần có sự hiểu biết của đa số chịu lãnh đạo về vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng. Đã như thế thì, ngay trong những thời kỳ bình thường của cộng đồng, việc giáo dục quần chúng đã là một vấn đề hệ trọng. Ngày nay cộng đồng dân tộc Việt Nam đang trải qua một thời kỳ khủng hoảng vô cùng trầm trọng. Trong lịch sử của chúng ta, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ khủng hoảng rất là ác liệt bởi các cuộc ngoại xâm, nội chiến đưa đến sự tàn sát, tương tàn. Cuộc khủng hoảng lần này nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Nó đã bắt đầu từ hơn một thế kỷ nay và cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa giải quyết được.Trong các cuộc khủng hoảng trước đây, cộng đồng của chúng ta bị những sức mạnh vật chất tàn phá kinh khủng làm chấn động. Tuy nhiên, những sức mạnh đó, mặc dầu đã gây cho cộng đồng dân tộc những vết thương mà ảnh hưởng đã kéo dài trong nhiều thế hệ, vẫn không đủ mãnh lực động đến những tiêu chuẩn giá trị làm căn bản cho đời sống của cộng đồng. Nhờ đó mà, sau khi cơn bão tố đã qua, cộng đồng của chúng ta vẫn tiếp tục được cuộc tiến hóa trên những căn bản cổ truyền vững chắc. Trái lại, trong cuộc khủng hoảng hiện nay, ngoài những lực lượng vật chất bị tàn phá không kém gì những lần trước, thêm vào những lực lượng tinh thần ghê gớm hơn mười lần, đã tấn công và đánh phá đến tận gốc rễ tất cả các tiêu chuẩn giá trị của xã hội Việt Nam. Chính vì lý do sau này mà cuộc khủng hoảng đã kéo dài đến từ hơn một thế kỷ nay. Sau cơn sóng gió vùi dập do những lực lượng vật chất gây ra đã qua rồi, cộng đồng dân tộc vẫn chưa tìm lại được trạng thái thăng bằng thiết yếu cho sự tồn tại và tiến hóa của xã hội, bởi vì các tiêu chuẩn giá trị căn bản đã bị mất mà những tiêu chuẩn giá trị mới chưa được tái lập. Cho đến khi nào chúng ta thấy các tiêu chuẩn giá trị được phục hồi, mơí hy vọng cơn khủng hoảng khốc liệt trên đi vào ổn định. 

CÁ TÍNH VÀ TÍNH KHÍ DÂN TỘC

Theo George A. DeVos trong International Encyclopedia of the Social Sciences, từ dân tộc tính (national character) được định nghĩa như một đặc tính và lối sống đặc thù của người dân thuộc mỗi quốc gia. Với nghĩa bóng, nó ám chỉ  những tác phong văn hoá được hướng dẫn bởi cá tính thuộc cơ chế tâm lý tiềm ẩn của mỗi dân tộc.

Như vậy mỗi dân tộc tùy theo hoàn cảnh địa lý, lịch sử, nguồn gốc xuất phát, qua thời gian đều hình thành những mẫu mực văn hoá điển hình trên những thành viên với những sắc thái riêng. Đó chính là cá tính của mỗi dân tộc.

Định nghĩa thứ hai, của Anthony-bourdain (2) cá tính dân tộc (national stereotype) là một hệ thống những tín niệm văn hoá, đặc biệt dính liền với quốc tịch của mỗi người. Hệ thống này bao hàm những tín niệm liên quan đến di sản của nhân loại thay đổi theo từng quốc gia như: hình thức ngôn ngữ, thói quen ẩm thực, đặc tính tâm lý, thái độ cá nhân, gía trị xã hội...

Định nghĩa thứ ba theo wikipedia mở, cá tính dân tộc ( national identity) là cá tính của một người nhận biết về đất nước. Sự cảm nhận này được chia xẻ với một nhóm người không kể đến tư cách công dân. Nhiều giáo sư còn nhìn nhận cá tính dân tộc hiểu theo khía cạnh tâm lý là sự “nhận biết khác biệt”, sự cảm nhận “chúng ta” và “ người khác”. Sự cảm nhận về người thuộc một nước sẽ được tăng cường khi có sự đe doạ từ ngoài một cách rõ rệt. Điều này sẽ thúc đẩy cá nhân kết hợp với đồng bào mình để cùng nhau tự vệ chống lai nguy cơ chung. Ví dụ Đài Loan sau những năm 1990s, khi bị mất ghế đại diện tại Liên Hiệp Quốc và bị Trung Cộng đe doạ, dân chúng đã nỗ lực ủng hộ nền độc lập cho Đài Loan, và  tự nhận mình là người Đài Loan (Taiwanese) thay vì người Hoa (Chinese) như trước đó.

Thực chất, cá tính dân tộc không do bẩm sinh. Nhiều cuộc nghiên cứu đã cho thấy nó trực tiêp nẩy nở từ những “điểm chung” của đời sống hàng ngày của  quần chúng như: ngôn ngữ, biểu tượng quốc gia, lịch sử, liên hệ huyết thống...

Sư biểu hiên của cá tính dân tộc còn tìm thấy ở khía cạnh tích cực là tình yêu nước (patriotism), hay tiêu cực là tính hiếu chiến (chauvinism).

Hai định nghĩa trên xác nhận những thuộc tính của cá tính dân tộc tiềm ẩn ở cơ cấu tâm lý người dân và thể hiện một cách cá biệt nơi những khuôn mẫu văn hoá như ngôn ngữ, thói quen ẩm thực, đặc tính tâm lý, thái độ cá nhân và gía trị xã hội...

Định nghĩa sau đây của cá tính dân tộc gần với khái niệm “Tính Khí” của tác gỉa Tùng Phong, đó là những sức mạnh tinh thần được hình thành do tự phát hay được giáo dục khi có nguy cơ đe doạ từ ngoài. Định nghĩa này còn xác nhận tính tích cực và tiêu cực của cá tính dân tộc.

Dựa vào các khái niệm căn bản trên, chúng ta tìm hiểu khía cạnh tích cực của cá tính dân tộc làm nên sự thành công qua qúa trình phát triển của hai dân tộc Nhật Bản và Do Thái. Sau đó chúng ta bước vào công trình nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Xã Hội Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) về 10 điểm Cá Biệt Của Người Việt, để rút ra bài học, tái cơ cấu lại công việc giáo dục gia đình để  tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dân tộc sau này.

1- Những Cá Tính Tích Cực Của Người Nhật (3)

Nhật Bản là một quốc gia trong vùng Đông Nam Á, có cùng một bối cảnh lịch sử như Việt Nam. Cũng được cai trị bởi một giai cấp phong kiến chuyên quyền trong một thời gian dài; cũng bị các nước phương Tây tràn ngập vào cùng một thời điểm lịch sử. Nhưng với sự sáng suốt của hoàng triều Minh trị, ngay từ lúc đầu bị các thế lực văn minh phương Tây xâu xé, họ đã dứt khoát chọn con đường duy tân đất nước bằng khoa học kỹ thuật toàn diện và triệt để. Chỉ sau một trăm năm, họ đã trở thành một quốc gia tân tiến hùng mạnh. Dù đương đầu thất bại trong trận chiến Thái Bình Dương, họ đã mau chóng trở thành quốc gia phát triển xếp hàng thứ ba trên thế giới ngày nay. Sau đây là những bài học tích cực rút ra từ những đặc tính của dân tộc Nhật.

 Sự cần mẫn của một "đàn ong" 
 
Cảnh tượng thường thấy trên các tàu điện ngầm là người Nhật không bao giờ nói chuyện rôm rả với nhau như người Việt. Trái lại, ai biết việc người nấy, tất cả đều tranh thủ mang sách ra đọc, mang laptop hoặc điện thoại ra làm việc hoặc nghỉ ngơi bằng cách chống gậy ngủ ngồi. Họ tân dụng thời gian nhàn rỗi "từng giây" để nghỉ ngơi, để làm việc, chầm chậm, từ từ nhưng chắc chắn và chăm chỉ đều đặn cả đời.
 
Mẫu người làm việc siêng năng, tiếng Nhật gọi là “hataraki-mono”, là  khuôn mẫu lý tưởng trong não trạng của mọi người Nhật. Theo truyền thống văn hoá Nhật, siêng năng trong việc làm đôi khi được đặt ưu tiên trên cả phục vụ gia đình. Thậm chí họ còn có từ “karoshi”(chết vì đam mê công việc). Chuyện rất thường xảy ra khi thấy một người làm việc thêm ngoài hợp đồng mà không cần được trả phụ trội. Rời bỏ công việc đúng giờ vẫn được xem như là một tác phong thiếu thiện chí đối với công nhân Nhật.
 
Người Nhật nói chung không thông minh lắm, nhưng họ biết cách phối hợp với nhau trong công việc. Họ giỏi không ở những cá nhân "xuất thần", mà chính ở sự hoà hợp trong tập thể. Họ giỏi cộng tác, kết hợp cùng nhau làm việc. Họ quan niệm rằng: Thành công của họ là do nỗ lực của cả tập thể chứ không phải là sự " xuất sắc" của một cá nhân.
 
Trẻ em từ bé ở Nhật đã được hướng dẫn cách hợp tác với nhau để làm việc; không phải làm việc một mình mà là phải biết hoà đồng với các bạn khác cùng làm việc tập thể. Họ được dạy là, phải biết nỗ lực làm việc hết mình vì mục tiêu chung của cả tập thể chứ không vì lợi ích cá nhân; lỗi của một người là lỗi của cả tập thể; phải biết hy sinh, gạt bỏ quan điểm cá nhân để hết mình theo đuổi mục tiêu chung.
 
Học sinh Nhật ưa làm việc theo nhóm. Khác với học sinh Mỹ-- khi buộc phải làm chung theo nhóm, họ thường hay có khuynh hướng xé lẻ--Trái lại học sinh Nhật rất ưa thích làm việc chung. Họ không thích phát biểu một mình, trái lại rất thích chia xẻ ý kiến với đồng sự và quyết định theo nhóm. Trong một lớp học có ba chục em học sinh, có rất it em muốn đứng lên đọc bài học theo sách giáo khoa. Nhưng nếu bạn chia nhóm từng ba người lần lượt đọc, thì các em tham gia rất sôi nổi.
 
Công ty là một gia đình lớn, do vậy mới có các công ty gia đình trị như Toyota, Honda, “ông chủ tư bản- công nhân". Mỗi người công nhân hay giám đốc đều là một thành viên của đại gia đình, đều cố gắng miệt mài làm việc như một đàn ong. Họ không phải làm việc vì bị thúc ép bằng quản lý, mà tự nguyện cống hiến sức lực để đóng góp thành qủa cho "đại gia đình" công ty. Do vậy, những công nhân, giám đốc ấy đến công ty làm việc như đến nhà mình. Họ trở thành những người làm công suốt đời, cống hiến hết mình với cả trái tim, khối óc và bàn tay cho công ty. Khi bất cứ người công nhân nào bị ốm đau đều được đích thân giám đốc đến thăm hỏi. Mọi người bình đẳng làm tròn nhiệm vụ của mình để đóng góp vào công việc chung.
 
Gía trị của sự làm việc
 
Đẳng cấp của một người được đánh giá bằng nỗ lực bền bỉ cả đời chứ không phải là sự xuất sắc bất ngờ. Người Nhật coi trọng sự chăm chỉ nỗ lực cả đời để đạt sự thăng tiến nhảy vọt. Với các công ty Hoa Kỳ trong vòng mười năm nhân viên làm việc hầu như đổi mới hoàn toàn. Trái lại trong những hãng Nhât, người ta thấy nhan nhản những ông giám đốc hay chủ tịch có một qúa trình làm việc tiến thân từ một công nhân thấp nhất, nhiều khi trong suốt cả cuộc đời. Nói chung người Nhật coi trọng địa vị xã hội, trân trọng một người vì họ có thành tích đóng góp bền bỉ cho xã hội, chứ không phải ở sự giàu có hay hào nhoáng bề ngoài.
 
Đúng giờ
 
Nước Nhật điều hành thời giờ rất nghiêm ngặt. Hệ thống xe lửa và xe điện ngầm nổi tiếng là đúng giờ đến từng 7,8 giây. Như vậy một sự chậm trễ dù chỉ một phút cũng có thể gây trở ngại cho toàn hệ thống đường sắt. Khi tàu bị trễ, hành khách sẽ được cấp phát phiếu chứng nhận của tài công để nộp cho chủ hãng. Và sau đó, số giờ trễ sẽ bị ghi vào hồ sơ làm việc.
 
Tiết kiệm: 
 
Người Nhật nổi tiếng với đức tính tiết kiệm. Trẻ con từ bé đã được giáo dục ý thức tiết kiệm. Họ tiết kiệm đến từng cái nhỏ nhất như, nếu đi vệ sinh ở ngoài trong vòng 30 giây thì phải tắt điện ở phòng khách; hoạc khi đi ăn tiệm, họ chỉ gọi đủ để ăn vừa hết, nếu thừa sẽ gói mang về. Cả nước đều tiết kiệm như thế, tất nhiên ý nghĩa to lớn vô cùng!
 
Tinh thần yêu nước
 
Thật vậy, người Nhật cực kì yêu nước. Chắc chúng ta còn nhớ những đội phi cơ tấn công cảm tử “Thần Phong” (Kamikaze) đâm bổ vào các chiến hạm Đồng minh tự sát để hủy diệt càc chiến hạm và tiềm thủy này trong Chiến Dịch Thái Bình Dương vào những năm 1944. Điều này đã nói lên được một phần tinh thần yêu nước cao độ của người Nhật.
Với đời thường, người Nhật khi vào siêu thị bao giờ họ cũng ưu tiên mua hàng trong nước. Thói quen này thúc đẩy tiêu thụ hàng nội địa, giúp các công ty trong nước cạnh tranh hữu hiệu với các công ty nước ngoài.
Người Nhật không mấy người gỉỏi ngoại ngữ, dù ở trung tâm thương mại hay phi trường quốc tế. Họ được chính phủ Nhật khuyến khích đọc sách báo bằng tiếng Nhật, nói tiếng Nhật ở bất cứ nơi nào. Ngay cả sách báo nước ngoài tại Nhật cũng được dịch ra Nhật ngữ. Phải chăng đây là chỉ dấu tình yêu nước của người Nhật?
 
Tinh thần Võ sĩ đạo (4):
 
Tinh thần Võ sĩ đạo (Samurai) có hai nghĩa. Theo nghĩa thứ nhất, Samurai là một bộ phận của tầng lớp võ sĩ Nhật Bản, thuộc hạ của các "Shōgun" và"Daimyō", được xếp hạng trên một số bộ phận võ sĩ khác. Theo nghĩa thứ hai và được sử dụng phổ biến ngoài Nhật Bản, Samurai chính là tầng lớp võ sĩ (武士 hay bushi) của Nhật Bản nói chung, tức là bao gồm cả Shogun và Daimyo.
 
Đến thời kỳ Minh Trị, các nhân vật trong chính phủ này đã xác định hướng canh tân nước Nhật bằng cách học hỏi theo đường lối khoa học kỹ thuật toàn diện của các “đế quốc Anh” và “đế quốc Đức”, đặt nền tảng trên sự kết hợp giữa tầng lớp quý tộc ảnh hưởng Tây phương và tầng lớp võ sĩ truyền thống Samurai. Như vậy, với cuộc “ Minh Trị Duy Tân” nửa sau thế kỷ 19, tầng lớp Samurai truyền thống đã được bãi bỏ và một tổ chức quân đội quốc gia theo kiểu Phương Tây được hình thành. Về cơ bản, có quân đội với những binh sĩ được trưng tập, bao hàm nhiều cựu Samurai được huấn luyện quân sự để trở thành các sĩ quan. Với tính kỷ luật cao, khả năng võ nghệ tốt, chuyên môn nghề nghiệp tốt và lòng trung thành tuyệt đối của truyền thống Samurai, họ nhanh chóng trở thành tầng lớp sĩ quan nòng cốt của Đế quốc Nhật. Bên cạnh đó, tầng lớp samurai cũng hóa thân rất nhiều vào tầng lớp trí thức. Họ có học thức và được đào tạo chuyên môn nên nhanh chóng trở thành nòng cốt của hệ thống giáo dục, báo chí và hành chính của chính phủ Nhật thời ấy.

Phần lớn Samurai (thời kỳ Edo) gắn liền với quy tắc danh dự gọi là Võ sĩ đạo  (武士道), luôn là những người làm gương cho cấp dưới. Một phần đáng chú ý của quy tắc Võ sĩ đạo là  tục “Seppuku” (切腹)-- tự mổ bụng, còn gọi là Hara-kiri--  cho phép một Samurai bị hạ nhục được phục hồi danh dự cho mình bằng cái chết theo cách tự mổ bụng. Tuy nhiên, quy tắc Võ sĩ đạo được viết ra trong thời bình, đã không phản ánh trung thực tính chất chiến binh của một Samurai trong thời chiến, do đó vẫn còn cách hành xử của Samurai mang tính huyền thoại. ví dụ, khả năng song đấu tâm lý (duel of wills), một kỹ thuật kiểm tra tinh thần, cho hai người đối mặt nhìn nhau không chớp mắt cho đến khi một kè thất bại. Hoặc tục mổ bụng Harakiri để rửa nhục, đã bị chính gìới chức có thẩm quyền của Nhật phê phán là quá tiêu cực, không giúp gì cho sự phát triển nước Nhật.

Nhận định

Cái may mắn và ưu việt của dân tộc Nhật là các nhà lãnh đạo dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng đã nhận ra ngay sự yếu kém của xã hội Nhật lúc bấy giờ, đã biết gạt bỏ mọi ảo tưởng ở sức mạnh huyền hoặc cổ truyền, lợi dụng kẽ hở chia rẽ về chính trị của các quốc gia xâm lược phương Tây để tận lực theo đuổi đường lối duy tân bằng phương pháp khoa học kỹ thuật toàn diện của các quốc gia Tây Âu. Nhờ vậy sau một trăm năm họ đã trở nên cường thịnh và thay đổi được thế bất bình đẳng với các nước Phương Tây.

Cá tính mạnh nhất của người Nhật là tinh thần hợp tác và sự miệt mài trong lao động tập thể. Với người Nhật, giá trị phẩm cách của một người là khả năng đóng góp tích cực cho tập thể chứ không phải là nguồn gốc gia thế hay sự hào nhoáng giàu sang ích kỷ bề ngoài.

Điểm đặc biệt là tình yêu nước đưọc thể hiện đến mức cao độ trong một hoàn cảnh bị tràn ngập bởi ngoại xâm. Đó chính là tinh thần Võ Sĩ Đạo, vốn có nguồn gốc từ những môn phái võ thuật của người Tàu, đã được các nhà lãnh đạo Nhật cải biến, khai triển áp dụng trong việc huấn luyện quân sự cũng như đào luyện các cán bộ lãnh đạo cho các cơ quan hành chánh chuyên môn của chính phủ Nhật Hoàng để nâng cao hiệu suất, phẩm cách, gương can đảm, đức hy sinh và tinh thần võ dũng của toàn quân dân Nhật đến độ đáng khâm phục.

2- 10 Bí Quyết Thành Công Của Người Do Thái (5)
 
Do Thái (Jewish) là một dân tộc nổi tiếng có nhiều điểm độc đáo, khác với nhiều dân tộc trên thế giới hiện nay. Từ hơn 2000 năm trước, đất nước họ bị ngoại xâm, tổ quốc không còn, họ phải đi phiêu bạt khắp bốn phương trời để mưu sinh, tồn tại và phát triển. Họ đã từng bị xua đuối, bị chà đạp, thậm chí có khi bị tàn sát dã man trong một lịch sử dài. Chỉ riêng trong Thế Chiến Thứ Hai đã có tới gần năm triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã tàn sát trong những lò sát sanh khủng kiếp. Thế nhưng dân tộc bất khuất này vẫn không bị diệt vong mà còn phát triển thịnh vượng. Ngày nay, họ đã lập nên nhà nước Israel độc lập, tự chủ. Dù nhỏ bé nhưng giàu mạnh, nằm trong lòng khối các nước Ả Rập thù nghịch.

Nguyên nhân nào đã dẫn tới thành công kỳ diệu của dân tộc Do Thái?  Bí quyết này họ truyền thụ cho con cháu bằng phương châm: “Gian nan là một thứ tài sản! Thất bại là mẹ thành công!” Nhưng muốn đạt được mục tiêu đó, con cái họ phải lấy bản thân ra thử thách với gian nan và thất bại bằng chính nghị lực và sự thông minh của mình. Lý Hạo - một học giả Trung Quốc, đã nghiên cứu và tham khảo ý kiến rộng rãi của nhiều học giả trên thế giới, viết ra cuốn sách nhan đề: “10 Bí quyết thành công của người Do Thái”. Qua cuốn sách này, người ta ghi nhận những bộ óc thông minh tuyệt vời, tài kinh doanh điêu luyện, tinh thần phấn đấu kiên cường và ý thức dân tộc mãnh liệt của dân tộc Do Thái.
 
Trước đây chúng ta đã biết, nhiều nhân vật nổi tiếng khai sáng những học thuyết, tôn giáo, khoa học lớn trên thế giới đều là những người mang dòng máu Do Thái như: Chúa Jésu, nhà tiên tri Mohammed, Karl Marx, Alber Einstein... Nhưng ít người biết rằng, ngày nay thế giới cũng có khá nhiều tỷ phú là người Do Thái. Có một vị học giả đã nói, một ông chủ ngân hàng lớn người Do Thái ở Washington bị "ho hắng”, lập tức toàn bộ ngân hàng trên thế giới sẽ bị "cảm cúm". Năm tập đoàn tài chính lớn của người Do Thái liên hợp lại có thể khống chế toàn bộ thị trường vàng thế giới. Một vị học giả Mỹ đã phải kêu lên: “Tiền của người Mỹ đã chui hết vào túi người Do Thái”. Những nhận xét trên cho thấy sự giàu có và ảnh hưởng của các doanh nhân người Do Thái đến mức độ nào!
 
Sau đây là 10 bí quyết, theo ông Lý Hạo, giải thích lý do sự thành công to lớn của dân tộc nổi tiếng này:

Coi trọng trí tuệ hơn tri thức
 
Ở đất nước Do Thái trí tuệ đưọc coi trọng hơn tri thức. Kinh sách doanh thương, hay sự khôn ngoan đồng nghĩa với trí tuệ. Theo họ, người ta thành công không chỉ do tri thức, cần phải có mưu trí (trí tuệ) chắp cánh cho tâm hồn. Người có trí tuệ thường khiêm tốn và được nể vì hơn nguồn gốc xuất thân. 

Tinh thần hiếu học
 
Với người Do Thái, học tập là một nghĩa vụ. Sinh mệnh có thể chấm dứt, học tập thì không. Học và hỏi là một nhu cầu lâu dài, giúp họ không ngừng tiếp cận sự hoàn mỹ. Học tập phải có mục tiêu và biết khai thác khả năng tiềm ẩn của mình. Đó chính là bí quyết của sự thành công.
 
Tri thức quý hơn tiền bạc
 
Tiền bạc có thể bị tước đoạt, tri thức thì không. Do đó, họ rất coi trọng thày giáo và cha mẹ. Họ coi việc gíao dục là mảnh đất màu mỡ để vun trồng tri thức. Người Do thái, bao hàm cả giới doanh nhân, coi đọc sách như cơm bữa và coi việc theo đuổi sự uyên bác là lẽ sống của đời người.

 Nghịch cảnh – cơ hội của vuợt thắng

Mỗi người Do Thái khi còn bé đã được giáo dục, nuôi dưỡng tinh thần tự lực tự cường, nhìn xa trông rộng để ứng phó với mọi hiểm nghèo. Họ quan niệm thua không nản, thắng không kiêu; biết lạc quan trước mọi khó khăn và đặc biệt biết biến tai ương thành động lực để làm nên sự nghiệp. Họ luôn có ý chí mạo hiểm trong nghịch cảnh và coi thất bại là mẹ thành công.

Quý trọng thời gian hơn tiền bạc

Họ cho rằng thời gian là sinh mệnh, một đi không trở lại, không được lãng phí. Ngày nào cũng là ngày cuối cùng qúy hiếm phải tranh thủ để tồn tại. Yêu người như yêu mình nên không đánh cắp thời gian của người khác. Trái lại phải làm chủ và quản lý tốt thời gian để nắm được sinh mệnh của đời mình.

Giá trị của thời gian thể hiện rõ trong kinh doanh: thời gian được coi là hàng hoá không được lãng phí. Trong mọi tình huống phải nắm chắc thông tin, ra tay trước để chủ động thủ thắng vê phần mình. Trong kinh doanh luôn tôn trọng hợp đồng và tôn trọng thời gian.

Căm ghét uy quyền

Họ quan niệm, trừ Chúa, không ai có quyền uy tuyệt đối. Bản thân không mù quáng phục tùng quyền lực. Mọi công cuộc theo đuổi kinh doanh được vân dụng bằng độc lập cá nhân. Người Do Thái căm ghét quyền uy, nhưng không từ chối sự hỗ trợ của cá nhà lãnh đạo sở tại qua hình thức ngoaị giao hậu trường (loby). Họ quan niệm có thể thay đổi tác dụng của luật pháp (nghịch đảo) hay bằng “tiểu xảo luồn lách” để đạt sự thành công trong công việc làm ăn của cá nhân hay tập thể.

Khéo xử thế, và thoả mãn với bản thân

Với bản thân: yêu mình, yêu người, sống điều độ và tận dụng thời khắc để hưỏng thụ, an dưỡng tinh thần. Vạn sự khởi đầu từ bản thân mình, tin vào bản thân với ý thức vượt thắng độc lập và hy vọng. Chiến thắng bản thân trước sau mới nghĩ đến sự chinh phục tha nhân. Biết nhẫn nại, làm chủ bản thân, không nô lệ cho tâm tư tiêu cực. Có tinh thần trách nhiệm. Tự nắm lấy vận mệnh trong tay mình. Dùng hài hước để làm vui cuộc sống và hoá giải khó khăn. Nhiệt tình phải dựa vào lý trí. 
Về mặt xã hội, hãy dùng trí tuệ hay sự khôn ngoan để xử thế. Cư xử tốt với mọi người nhất là người nghèo. Phương châm xử thế của họ là: Nhận và cho là con đường nhân sinh bền vững; tự cao tự đại là con đường ngắn nhất dẫn đến tội lỗi; coi trọng người như chính mình; giữ bí mật chuyện riêng tư của người khác; quý trọng người và vật thân quen; yêu thương mọi người, kể cả kẻ thù; coi niềm vui của người là niềm vui của mình; mọi người đều có mặt mạnh mặt yếu, cần sự cảm thông.
Trong đàm phán, không mang lòng thù hận; nên nhận yếu điểm của mình trước; không cưỡng bức người khác theo ý mình. Tôn trọng lẫn nhau trong tinh thần khoan dung độ lượng.
 
Nghe quan trọng hơn nói
 
Tập nói một tháng nhưng tập nghe một đời. Khi nói phải phối hợp nhịp nhàng với tư thế và phong thái. Nói ít nghe nhiều sẽ tránh được cái họa miệng và nhận được những tin tức tốt nhất có ích lợi cho mình. Không nghe những người nhiều lời hay thêu dệt.
Giữ vững lập trường cá nhân

Cần có lập trường riêng, tránh nhẹ dạ cả tin trong khi vẫn giám sát chặt chẽ hành động của đối phương. Nhìn vấn đề theo nhiều góc độ khác nhau. Giữ đúng cam kết và sự công bằng về hình thức. Tư duy "nghịch đảo" luật pháp bằng cách khai thác khe hở của luật pháp để đạt mục tiêu. Phương châm hành xử là: cái gì mình không thích, đừng làm cho người khác; nhường người chính là vì mình.

Kiếm tiền là trí tuệ 

Thượng Đế Thế Tục của người do Thái là đồng tiền. Họ coi trọng tác dụng của đồng tiền do sức lao động của mình làm ra: “Tay trắng làm nên đại nghiệp”. Tiền không phải là thần thánh, cũng chẳng phải ma quỷ; tiền không phân biệt cao thấp sang hèn. Đồng tiền là tấm gương phản ánh nhân cách và tinh thần dân tộc. 
Làm tiền phải giỏi tính toán, chi ly từng đồng; phát triển từ nhỏ đến lớn, và nên tập trung vào xã hội thượng lưu. 

Trọng tâm của hai nguồn tài nguyên lớn là phụ nữ và cái miệng. Kiếm tiền phải có mục tiêu rõ rệt. Người Do Thái quan niệm tiền nằm trong tay người có tiền, hay tiền đẻ ra tiền. Nếu tục ngữ Việt có câu :” Có tiền mua tiên cũng được” thì ngườ Do Thái nói, tiền có thể giúp ta đến bất cứ nơi nào mình muốn.

Nhận định

Trên đây là đề mục của 10 chương sách đã được học gỉa Lý Hạo người Hoa tham khảo, viết thành sách để tìm hiểu sự thành công vượt bực của dân tộc Do Thái.

Mặc dù Israel mới được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc bảo trợ và cho thực thi kế hoạch phân chia ranh giới phần đất Palestine do Anh Quốc ủy trị cho người Do Thái (Jewish) từ tháng 12 năm 1947, nhưng mãi đến tháng 5 năm 1948 nhà nước Do Thái (State of Israel) mới được tuyên bố thành lập. Cho đến năm 2013 dân số tại chính quốc (6.8 triệu) chỉ là phần nhỏ so với số dân sống lưu vong tại nhiều quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ ( trên 6 triệu). Mặc dù con số thống kê tại Mỹ cũng như tại chính quốc Do Thái không thống nhất, nhưng người ta uớc lượng dân số hiện nay, sau khi bị Đức Quốc Xã tiêu diệt 5 triệu người vào Thế Chiến Thứ Hai, vẫn còn có thể đạt tới con cố 15 triệu. Dù vậy, nước Israel được thành lập từ 1948, nhưng tuyệt nhiên trong quyển sách sưu khảo nói về 10 điển thành công của người Do Thái không thấy nhắc đến công cuộc đấu tranh sinh tồn đầy cam go thử thach của quốc gia Israel giữa khối người Palestine thù địch về chủng tộc và đất đai. Họ chỉ ý nhị, kín đáo nhắc đến đồng tiền là tấm gương phản ánh nhân cách và tinh thần dân tộc. Trong thực tế họ đã sử dụng sức mạnh quân sự cũng như sức mạnh của đồng tiền và khối óc ưu việt của mình để ảnh hưởng các cường quốc hàng đầu thế giới đứng sau lưng họ, hỗ trợ tích cực cho họ mỗi khi gặp nghịch cảnh đe doạ sự tồn vong của đất nước Israel.

Có lẽ vì đa số dân Do Thái đều sống lưu vong và quốc gia họ nhỏ bé, sinh sau đẻ muộn nên triết lý sống của họ luôn đề cao sự hoà ái nhún nhường với người dân bản địa. Cũng như người Hoa tại hải ngoại, họ không chủ trương tham gia quyền lực tại các nước sở tại mặc dù họ có đủ điều kiện năng lực và tài lực để thi thố. Trái lại để bảo vệ công việc làm ăn và đời sống an bình, họ sử dụng thế lực tài chánh, kinh tế  để “nghịch đảo” hay “luồn lách” luật pháp nhằm phục vụ quyền lợi của họ. Đây chính là sự khôn ngoan của người nhập cư muốn mưu tìm an lạc trong ổn định lâu dài.

Hai điểm nổi bật trong triết lý sống của họ là đầu tư theo đuổi trí tuệ suốt đời và và đem hết sự khôn ngoan va nỗ lực bản thân để kiếm tiền và làm chủ đồng tiền.

Chuyện  kể rằng, có một người lái buôn Do Thái đến mua hàng tại một xứ Ả rập xa lạ. Ông ta phải qua đêm với túi tiền vàng mang theo vì hàng mua phải đợi đến hôm sau. Vốn không quen biết ai ở vùng sa mạc cô quạnh này, ông tìm cách chôn giấu gói tiền vàng trong một khu cồn cát vắng vẻ. Sáng hôm sau ra lấy lại. Hỡi ôi túi tiền vàng không cánh mà bay! Ông lái buôn bình tĩnh quan sát xung quanh, nhận ra ở phía xa có một ngôi nhà cheo leo trên cồn cát. Ông lần mò lại chào hỏi chủ nhà và tâm sự, ông có đem theo hai túi tiền vàng để mua hàng hoá. Túi nhỏ ông đã chôn dấu kỹ, còn túi lớn ông muốn hỏi ý kiến chủ nhà có nơi nào an toàn, đáng tin cậy để gởi. Người chủ nhà mắt lấm lét đề nghị ông nên chôn dấu thì tốt hơn, vì ở đây không ai có thể tin tưởng được. Ông cám ơn cho là phải rồi kiếu từ. Thế rồi bẵng đi đến chiều, ông trở lại nơi chôn tiền cũ, bình tĩnh cúi xuống bới lấy lại túi tiền vàng bị mất. Lý do là người chủ nhà gian tham kia đã đem túi tiền nhỏ ăn trộm chôn lại chỗ cũ để mong lấy được túi lớn hơn. Câu chuyện nói nên sự khôn ngoan của người Do Thái trong việc vận dụng trí tuệ để làm chủ đồng tiền mà không phải tốn nhiều công sức.

Phương châm làm tiền được ngưòi Do Thái cô đọng thành những câu ngạn ngữ hướng dẫn đời sống: “Gian nan là một thứ tài sản! Thất bại là mẹ thành công”, hay “Tay trắng làm nên đại nghiệp”. Theo họ, đồng tiền và trí tuệ kết hợp với nhau là một sức mạnh vô địch có thể giúp ta đi đến bất cứ nơi nào. 

3- 10 Đặc Tính Cơ Bản Của Người Việt (6)

Người Việt thường hay hãnh diện mình là con Rồng Cháu Tiên, phát xuất từ huyền thoại Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ với một trăm người con sinh ra từ bọc trứng. Tỷ lệ người Việt có bằng đại học cũng được xếp hạng cao cùng với các dân tộc Á Châu so với người bản địa tại Hoa Kỳ. Từ những hãnh tiến này chúng ta phát sinh tư tưởng kiêu ngạo coi mình như những cục vàng ròng qúy hiếm. Trong khi người Nhật tự nhận mình là cục đất sét biết kết dính hữu dụng, thì mỉa mai thay người Việt lại đưọc ví như nhừng hạt kim cương đơn lẻ như hạt cát rời. Hậu qủa thế nào mỗi người chúng ta đều đã biết. Tục ngữ ta vẫn khuyên: “Đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”. Phương châm này liệu còn đáng được trân qúy bảo tồn trong công cuộc đóng góp bằng thực chất cho việc xây dựng và phát triển đất nước??

Dưới đây là kết qủa công trình nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Xã Hội Hoa Kỳ với 10 Đặc Điểm Chímh Về Người Việt: 

1.- Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn. 

2.- Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư linh hoạt và dài hạn.

3.- Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm sáng tạo.

4.- Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.

5.- Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những công việc tốt).

6. Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài. 

7. Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương). 

8.- Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau nhưng chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có. 

9.- Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hay hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ. 

10.- Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc).

Nhận định

Có thể nói những nghiên cứu và nhận xét của Viện Nghiên Cứu Xã hội Hoa Kỳ về các dân tộc thiểu số trong đó có người Việt ta, không phải là lần đầu. Nhưng mười điểu nhận xét mới nhất của cơ quan này phổ biến từ năm 2013 gần đây, đã làm cho mỗi thành viên của cộng đồng Việt chúng ta phải đặc biệt quan tâm.

Tất nhiên người Mỹ khi làm công việc này họ có mục đích của họ, nhưng với chúng ta là Người Mỹ Gốc Việt, trong tinh thần “biêt người biết ta” chúng ta rút ra được kết luận gì về những cá tính vừa tích cực vừa tiêu cực, đươc một cơ quan chuyên nghiệp đánh giá về chủng tộc mình, trong đó có mình là công dân của họ?

Nếu đem so sánh đặc điểm dân tộc tính của người Nhật, Do Thái nêu trên và Mười Đặc Điểm Về Người Việt của cơ quan Nghiên Cứu Xã Hội Hoa Kỳ, với “Tính khí” của người Việt qua tác gỉa Tùng Phong, người ta thấy hầu như trùng hợp nhau về nhiều mặt. Chỉ có điều, tác gỉa Tùng Phong nhấn mạnh đến cốt lõi tinh thần dân tộc ( national spirit) tạo thành bởi gía trị xã hội ở khía cạnh tích cực, với phương thức vận dụng thiên về tập thể, đòi hỏi sự gíao dục và lãnh đạo thuộc thẩm quyền quốc gia. Trái lại, dân tộc tính nói chung ( national character ) nặng về cá tính bẩm sinh cộng với những thói quen hình thành do gạn lọc và đào thải của mỗi dân tộc qua qúa trình lịch sử và địa lý chính trị tạo nên.

Bài tham luận này không có mục đích cổ xúy những điểm tích cực của cá tính dân tộc vì “hữu xạ tự nhiên hương”, mà chỉ đặc biệt quan tâm đến những khía cạnh tiêu cực, có tác động ngăn cản bước phát triển của đất nước, mà mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng có trách nhiệm giáo dục thế hệ tương lai cần được đặc biệt quan tâm. Vả lại, nếu chúng ta biêt “trông người lại ngẫm đến ta”, tự điểu chỉnh bản thân để tự tồn và phát triển, góp phẩn vào bước tiên hoá của nhân loại, thì qủa xứng danh với con Lạc cháu Hồng. Trong quan điểm ấy bài tham luận mong góp phần nhận diện những khiếm khuyết về 10 đặc tính cơ bản mà cơ quan nghiên cứu xã hôi Hoa Kỳ đã giày công tham cứu.

Trước hết về hình thức, bài nhận xét trình bày dưới dạng liệt kê cô đọng bằng lối văn gỉản dị nhẹ nhàng, chính xác. Thái độ nhận xét rất tâm lý, chuyên môn. Mỗi đặc điểm bắt đầu bằng nhận xét ưu điểm, rối sau dẫn dụ đến những khiếm khuyết về mặt cộng đồng, khiến người đọc cảm nhận được những sai sót của bản thân và cộng đồng một cách thành khẩn mà không bị “sốc”. Cách trình bày trái lại còn có khả năng dẫn người đọc đến những băn khoăn và ưu tư về hoàn cảnh và tương lai của đất nước và gia đình.

Về nội dung mỗi đặc điểm thể hiện trong 10 đặc điểm nêu trên đều có hai phần: điểm mạnh ( tích cực) và điểm yếu (tiêu cực). Hai mặt phản diện đặt cạnh nhau trong mỗi cá tính trái ngược làm nổi bật sự mâu thuẫn nhiều khi có tác dụng triệt tiêu, trong khi thông thường chúng ta chỉ muốn tôn lên phần hào nhoáng bề ngoài mà cố tình quên đi mặt xấu của nó, vì “đẹp thì phô ra, còn xấu xa phải đậy lại” vốn là phương thức xử trí mẫu mực của cha ông ta xưa nay. Hậu ý của cơ quan nghiên cứu muốn nhắc nhở chúng ta về những vấn nạn to lớn đã làm cho đất nước dân tộc ta rơi vào khủng hoảng triền miên bởi sự đối kháng nội bộ cũng như đối kháng ngoại nhập.

a) Những Mặt Mạnh, Yếu của cá Tính Người Việt                                                                                                                                                                                                     Một cách chi tiết chúng ta có thể trình bày lại những nhận xét trên bằng những phương trình bất đẳng thức như sau:

Cần cù<dễ thoả mãn (1)

Điều này nhắc chúng ta nhớ lại câu chuyện dân gian về Thằng Bờm với sự thoả mãn đơn giản khi nhận “nắm xôi” của ông trưởng giả đi tìm sự an bình hạnh phúc ( chiếc quạt mo). Cả hai thứ hạnh phúc biểu tượng này chẳng đóng góp gì cho sự thịnh vượng của đất nước và cộng đồng.

Thông minh>Thiếu suy tư linh hoạt dài hạn (2)

Nhìn vào giới trẻ, chúng ta thấy về học vấn và bằng cấp không thua ai, nhưng khi đã đong đầy kiến thức, thay vì “xuống núi hành hiệp”, thường thỉ dừng lại để hưởng thụ cá nhân mà không nghĩ đến việc đầu tư sáng kiến dài hạn phục vụ xã hội và đất nước. Ngày xưa trong Chiến tranh Việt nam, người ta hay kể câu chuyện nói lên tính tháo vát nhậy bén của người Việt. Có một vị cố vấn người Mỹ trong lúc đi hành quân qua một thác nước chảy mạnh, vô tình anh đánh rơi chiếc nhẫn cưới qúy gía. Anh vội quờ quạng lùng sục khắp nơi dưới nước nhưng không tìm được. Thấy vậy một anh lính Việt Nam bảo anh bước lên để anh tìm giúp. Anh cúi rạp mình cho dòng nước suối đổ trên lưng. Một lát chiếc nhẫn hiện ra, anh nhặt lên trao lại cho người bạn Mỹ với nụ cười hãnh diện. Câu chuyện nói lên sự tháo vát của người Việt trước những khó khăn cấp thời và sự lúng túng của người Mỹ trước cùng một sự việc. Với nguời Mỹ họ không làm được việc nhỏ nhặt trên như anh lính Việt, nhưng sau đó họ có thể nghĩ đến việc trở ngại của con suối và nghĩ cách chuyển dòng chảy của con suối qua ngả khác để tránh trở ngại việc di chuyển thường xuyên trong tương lai. Cái hay của anh lính Việt là nhạy bén gỉai quyết cấp thời cho xong việc, còn người Mỹ họ có thể có cái nhìn và bộ óc sáng tạo linh hoạt dài hạn khác chúng ta.

Khéo léo>hoàn thiện (3)

Xem chương trình thủ công và mỹ nghệ của người Nhật trên đài NKK (28.4) mỗi ngày sau buổi trưa, chúng ta nhìn thấy sự cần cù sáng tạo của người công nhân Nhật thật đáng khâm phục. Họ mày mò rèn từng miếng sắt vụn biến thành con dao sắc bén tiện lợi cho sinh hoạt gia đình. Nhưng không dừng ở đó. Họ ti mỉ nghiên cứu chế ra cây kiếm thép có thể chặt nguyên cả bó cây tre trúc ngọt sớt mà không giập nát. Xa hơn nữa họ phối hợp máy tiện với rèn chế ra con quay chạy theo một độ lắc đều đặn để tạo chu kỳ chế tạo chất keo mỹ phẩm... Với kỹ nghệ chế tạo công nghệ Nhật ngày nay, sai số kiếm khuyến được khuyến khích đạt mức toàn hảo trăm phần trăm thay vì năm, mười phần trăm như ở Mỹ. Nhìn lại nghệ nhân chúng ta tay nghề không thua kém ai, nhưng chỉ biết đẽo gọt thuộc lòng những mẫu mã có sẵn, chẳng mấy người có sáng kiến gì mới lạ để hoàn hảo sản phẩm hoặc biến đổi tác dụng về mặt mỹ thuật cũng như kỹ thuật để tiến xa trong việc phục vụ đời sống. Vừa qua có dịp viếng thăm làng gốm Bát Tràng vốn nổi danh nhiều đời tại ngoại ô Hà Nôị, người viết vô cùng thất vọng vì vào xem gần chục lò gốm và cơ sở sản xuất gốm sứ, ngoài những bộ tam đa phước- lộc- thọ thuần túy lệ thuộc Tàu, độc bình kiểu cổ, bát dĩa men thô và tuợng đất sét  mô hình Thị Nở, Chí Phèo cùng những con trâu đen đúa, mộc mạc thô thiển đến quê mùa... thật đáng xấu hổ  trước mắt hàng trăm khách du lịch nước ngoài mỗi ngày. Những bàn tay, cặp mắt và cái đầu của những sinh viên Mỹ thuật, cùng lòng tự hào dân tộc của khách hàng tiêu thụ ở đâu mà làng gốm nổi danh trong sách sử của ông cha ta đã đang đi vào quên lãng?

Thực tế và lý tưởng> Không phát huy được nguyên lý (4)

Nếu giới sỹ phu Việt hay ưa văn chương học thuật và sống với tâm thức huyễn tượng, lãng mạn thì trái lại giới bình dân sống rất thực tế. Hai yếu tố này đúng ra phải đóng góp tích cực cho việc truy tầm nguyên lý khoa học phục vụ đời sống. Nhưng thực tế suy tư và thực tế của dân ta không đủ chiều sâu, chỉ đắp đổi qua ngày hay “nín thở qua sông”, không có ý chí cũng như kiên nhẫn giải quyết toàn bộ khó khăn phải đương đầu, nên không đủ điều kiện rút ra được những nguyên lý khách quan để làm chủ thiên nhiên phục vụ đời sống.

Nhìn vào thực tại của thế kỷ gần đây, chúng ta thấy nhiều nhà chình trị Việt Nam phát xuất từ những tầng lớp sỹ phu yêu nươc và cống hiến cả cuộc đời cho lý tưởng dân tộc. Nhưng hầu hết chỉ tôn sùng học thuyết chính trị của nước lớn, không thấy ai đề xướng được đường lối chính trị tự chủ để gỉai quyết được thực trạng bế tắc của đất nước.

Chắc chúng ta chưa quên câu chuyện Chú Cuội hồi còn thơ ấu. Cuội là mẫu người điển hình về những thủ thuật láu cá, chuyên lấy mồm miệng đỡ chân tay, đã lấy đuôi trâu nhét vào lỗ cống cùng bạn bè hè nhau kéo khi bị người chú phát hiện. Đây là một phương thức giải quyết nhất thời hầu tránh sự nguy hiểm cho bản thân, mà không hề nghĩ đến hậu qủa tai hại của việc gian dối và một gỉải pháp vẹn toàn lâu dài hơn.

Tiếp thu kiến thức nhanh nhưng > nông cạn, chỉ để phô trương sĩ diện (5)

Người ta thường ca ngợi người Viêt chúng ta học rất gìỏi, hấp thụ kiến thức rất nhanh, nhưng mục đích của việc học là để nở mày nở mặt với gia đình, với xóm giềng, nên chỉ biết tiếp thu kiến thức đã thành hình đủ để phô trương hãnh diện, còn việc đào sâu ứng dụng và phát huy sáng kiến đòi hỏi nỗ lực động não, dấn thân và yêu nghề để tìm tòi cái mới lạ và đắc dụng thì ít ai nỗ lực đấu tư. Thực ra lối học của ta có tính “ăn xổi ở thì”. Học để lấy tiếng là người hiểu biết, còn đạt đến tận cùng của sự vật để đáp ứng nhu cầu cuộc sống thì ít ai quan tâm.

Hiếu khách>không bền (6)

Hiếu khách là cách giao tiếp tốt với mọi người mới đến để tranh thủ sư hợp tác giúp đỡ của bạn bè về mặt ngoại giao. Nếu chúng ta chỉ “khách sáo” hời hợt bề ngoài, chắc chắn không giành được cảm tình của bè bạn, do đó khó có những cơ hội may mắn đến với chúng ta và cũng từ đó khó có sự hợp tác để tiến hành công việc làm ăn với quy mô lớn.

Tiết kiệm> Hoang phí (7)

Tiết kiệm và hoang phí là hai tĩnh từ không thể đi đôi với nhau. Phương châm theo đưổi của giới tài phiệt Do Thái là tay trắng làm nên sự nghiệp và tất cả bắt đầu bằng nỗ lực tiết kiệm và đầu tư năng lực cá nhân. Người Việt chúng ta nổi tiếng là cần kiệm chắt bóp từng đồng, nhưng tiêu phí vào những cuộc “trà dư tửu hậu”, ném tiền qua cửa sổ vì một phút bốc đồng để được hơn người, hoặc thoả mãn máu đỏ đen trong một phút thí cũng không phải là hiếm. Thật đáng tiếc là trong những cuộc quyên góp hỗ trợ xây dựng cộng đồng số tiền thâu được rất hạn chế trong khi những việc làm tương tự ở những lãnh vực khác như tôn giáo, nhân đạo... kết qủa lại rất khả quan! Theo thiển ý người viết dù là nhân đạo hay tôn giáo chẳng qua chỉ là nỗ lực chăm sóc phần hổn của mỗi con người. Người viết không có hậu ý phê phán những đóng góp nhân đạo và tôn giáo của đống bào ta, nhưng ít ra hai nỗ lực này phải được cân bằng như người bản xứ đã từng làm, vì nước mất nhà tan, dân giàu thì nước mạnh, quy luật ấy không thể nghịch đảo. Phải chăng con người Việt chúng ta còn qúa nhiều ích kỷ, yêu bản thân hơn yêu đồng loại? e rằng ở đây có điếu gì chưa hoàn chỉnh?

Đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau>chỉ trong khi hoạn nạn (8)

Mới nghe qua chúng ta cảm thấy hãnh diện vì đồng bào ta có tinh thần nhân đạo, “lá lành đùm lá rách”. Nhưng suy ngẫm lại, xét về mặt hợp tác trong những điều kiện tối hảo để cùng nhau phát triển với quy mô lớn trong khuôn khổ quốc gia hay quốc tế thì chúng ta lại e dè ngăn cách. Do vậy chúng ta chỉ có lòng nhân đạo đối với kẻ sa cơ nhưng lại thiếu sự tin cậy hợp tác đối với những người xứng vai vừa lứa. Và đó cũng  là lý do chúng ta khó có sự thành công lớn, đóng góp cho sự tiến hoá của nhân loại.

Thích tụ tập>Thiếu nối kết để tạo sức mạnh (9)

Chúng ta thừa hiểu rằng con người là một con vật xã hội cần có cuộc sống nương tựa vào nhau cả về tinh thần lẫn vật chất. Người Nhật bẩm sinh họ đã có đặc điểm này. Trẻ em Nhật thường có thói quen di chuyển hay làm việc theo nhóm nên có nhiều sáng kiến đã nẩy mầm từ tập thể; và nhờ vậy họ dễ dàng thực hiện được nhiều công trình to lớn mà cá nhân tách rời không thể thực hiện được. Trái lại người Việt chúng ta có tính tự cao thái qúa nên dù rất cần đến nhau để “trà dư tửu hậu” nhưng không phải để bình đẳng hợp tác trong công việc chung, mà để có người dưới trướng để phô trương thanh thế, dù chỉ là hư danh. Do đó chỉ khi có áp lực xã hội hoặc đe doạ từ ngoài chúng ta mới thực sự bắt tay nhau.

Có câu chuyện vui kể rằng, có hai người bạn Việt và Mỹ ngồi câu cua bên nhau. Anh bạn người Mỹ lấy làm lạ là sao thùng đựng cua của anh bạn Việt Nam không đậy nắp mà cua không thể bò ra trong khi thùng của anh Mỹ dù đậy nắp vẫn bị cua đội lên vượt thoát. Anh bạn người việt giải thích rằng, cua của anh nó tự động níu càng nhau lôi xuống nên không con nào ra thoát, còn cua bên thùng của ông bạn Mỹ chúng cõng đưa nhau lên cao, do vậy dù đậy nắp chúng cũng có thể đội lên để chạy trốn! Câu chuyện dù chỉ là ngụ ngôn, nhưng đã lột tả được cá tính của mỗi dân tộc.

Chịu đựng gian khổ>Dễ dàng hy sinh việc lớn cho mục tiêu nhỏ (10)

Người Việt chúng ta rất yêu nước sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh tính mạng để bảo vệ tổ quốc. “Nằm gai nếm mật” là thành ngữ diễn tả sự chịu đựng gian khổ ấy, đặc biệt trong công cuộc chống ngoại xâm. Nhưng chỉ vì một ý kiến bất đồng hay vô ý xúc phạm của người khác, chúng ta dễ dàng đổi bạn thành thù mà quên đi lý tưởng theo đuổi và sức mạnh tổng hợp của sự hợp tác. Đây chính là hiện trạng nan gỉải của các công đồng Việt Nam hải ngoại, khiến mọi nỗ lực tập hợp của của các nhà lãnh đạo chính trị trở thành vô hiệu trước âm mưu phân hoá và thôn tính biển đảo của ngoại bang.

b) Những Vấn Nạn Về Cá Tính Trong Phát Triển

Chúng ta đã biết rằng hai dân tộc Nhật và Do Thái thành công trong công cuộc phát triển dân tộc và đất nước bởi ba yếu tố: Thứ nhất là sự đóng góp của nỗ lực cá nhân trong sinh hoạt tập thể; thứ hai là tinh thần hiếu học, khả năng đầu tư kiến thức của dân Nhật và Do Thái vào nỗ lực xây dụng đất nước; và cuối cùng là khả năng lãnh đạo, sự sáng suốt kịp thời đáp ứng nhu cầu canh tân bằng đường lối khoa học kỹ thuật triệt để, cũng như biết xử dụng sức mạnh của đống tiền và tri thức hỗ trợ cho sức mạnh cộng đồng. Buồn thay, hiện nay ba yếu tố này hầu như vắng mặt trong xã hội chúng ta!

Ông Nguyễn Quang Dy trong một bài tham luận “ Trí Thức & Phát Triển: Ám ảnh qúa khứ và hy vọng tương lai” (7) đã đưa ra ba nhận định để lý giải tại sao cha ông chúng ta cùng một hoàn cảnh như Nhật Bản (bị Tây Phương tràn ngập trong cùng một thời điểm), cùng theo đưổi đường lối canh tân (Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện ) trong khi đất nước ta “Rừng vàng biển bạc”, “nhân tài như lá mùa thư”, chúng ta không thoát được gọng kìm của lịch sử và rơi vào khủng hoảng triền miên trong bước đường phát triển và ngoại thuộc.

Theo ông, thứ nhất là tệ haị của văn hoá “hủ nho” trong giới trí thức; thứ hai là ảnh hưởng “cực đoan, qúa khích” của chủ nghĩa CS; và cuối cùng là hậu qủa của “chiến tranh bạo lực” được phủ dưới chiêu bài “chiến tranh nhân dân” của chủ nghĩa Mao, khiến đánh mất niềm tin của nhân dân và triệt tiêu khả năng tri thức của quần chúng. Với ông chỉ còn con đường “Nâng cao dân trí và hòa giải dân tộc” mới có cơ thoát khỏi cảnh “tù binh của qúa khứ” và phát triển được tương lai.

Mặc dù không nói ra, chúng ta cũng hiểu những điều ông hy vọng chính yếu nằm trong vai trò của những nhà lãnh đạo đất nước và cộng đồng hiện nay. Theo thiển ý của người viết, yếu tố lãnh đạo có tính cách quyết định nhưng chưa đủ vì thay đổi cả não trạng hủ hoá và tàn bạo của con người đắm chìm trong văn hoá hủ nho cả ngàn năm và bạo lực cả trăm năm không dễ tẩy rửa trong một thời gian hạn hẹp. Dù sao ý thức phản tỉnh cá nhân và tập thể đi đầu là giới trí thức trong việc chuyển hoá phải được bắt đầu và coi trọng.

Một điểm nữa cũng cần phải nhấn mạnh đó là tính “vô cảm”, hay “tránh xa chính trị” một cách thiếu ý thức của đa số quần chúng thầm lặng, do trầm luân đắm mình trong nếp sống thụ động “vong thân” dưới những chế độ chính trị hà khắc-- nói theo TS Iris Vinh Hayes trong bài Xin Đừng Tránh Xa Chính Trị, cũng đóng góp vào việc làm trì trệ công cuộc phát triển chung, và tạo thuận lợi cho âm mưu xâm lược tử phương Bắc.

Hai vấn nạn lớn nhất đặt ra cho chúng ta hiện nay là sự tập hợp sức mạnh của quần chúng chống lại âm mưu Hán hoá, và sự chia rẽ trong nội bộ cộng đồng dân tộc. Hai sức đề kháng này có lúc tưởng như triệt tiêu vì sự phẫn uất và nhiệt tình khiến chúng ta không phân biệt được bạn thù. Công cuộc “nâng cao dân trí và hoà giải dân tộc” phải được quan niệm như một nỗ lực tổng thể rút ra từ sự hợp tác trong tinh thần dân chủ của các thành phần dân tộc và sự đấu tranh chuyển hoá các thế lực hiện hữu qua tranh đấu hỗ trợ cho tự do và nhân quyền, thay vì triệt tiêu lẫn nhau để tìm một đáp số tàn bạo và không tưởng. Toàn dân đang trông chờ sự sáng suốt của các thành phần dân tộc trong cộng cuộc đấu tranh mất còn ở giai đoạn hiện nay.

Là người Mỹ Gốc Việt cùng hoàn cảnh như người Mỹ gốc Do Thái, với con số tỵ nạn lên đến gần hai triệu người tại Hoa Kỳ (Do Thái 6 triệu), chúng ta đã đóng góp đươc gì cho xứ sở này để củng cố vai trò tương xứng của mình? Chúng ta đã làm được gì để bảo vệ quyền lợi cộng đồng bằng lá phiếu thực thi quyền làm chủ của mỗi công dân? Chúng ta nên nhớ rằng sống trong một thể chế dân chủ pháp trị, quyền lợi của cá nhân và cộng đồng luôn ở thế cân bằng động (dynamic equilibrium). Điều này có nghĩa là sự bất bình đẳng về quyền lợi chính trị có thể xảy ra bất kỳ lúc nào nếu chúng ta không biết chủ động giữ vai trò của một sức mạnh đối trọng. Không có gì ổn định được dọn sẵn cho chúng ta thụ hưởng mãi mãi, mọi sự do ở sức mạnh của lá phiếu và nỗ lực đấu tranh vượt thắng của mỗi cá nhân trong tập thể để phát triển và giữ thế cân bằng luôn biến động giữa các cộng đồng thiểu số.

Người Do thái từ một dân tộc lưu vong bị ruồng đuổi và kỳ thị, họ đã củng cố được sức mạnh kinh tài và trí tuệ để buộc các thế lực quốc tế tạo dựng cho họ một miền đất hứa để xây dựng đất nước và phát triển dân tộc. Và trong mọi trường hợp ở các nước tỵ nạn, tiếng nói của họ luôn được tôn trọng. Như hiện nay họ (Thủ tướng Benjamin Netanyahu của Israel) đã khai thác được sự mâu thuẫn giữa hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ để đọc diễn văn sách động nhân dân Mỹ cùng chia xẻ hiểm hoạ với đất nước họ trước đe dọa thoả hiệp của chính phủ Mỹ về nguyên tử với Iran. Cái khôn ngoan của họ là đã khai thác được kẽ hở của nền chính trị Hoa Kỳ bằng trí tuệ, truyền thông và tiềm lực tài chánh vô địch của kiều dân mình, để dùng chính sức mạnh của người dân Hoa Kỳ buộc chính phủ họ phải lưu tâm đến tương lai của đất nước Do Thái. Kết qủa nhất thời ra sao không mấy quan trọng, nhưng khả năng vận dụng một cách ngang nhiên như vậy nói lên thế lực tiềm ẩn của họ trong nền chính trị Hoa Kỳ. Đây lại là một thí dụ về sở trường “nghịch đảo luật pháp” của người Do Thái ở một xứ sở trọng pháp mà người vân dụng vẫn giữ được tư cách của người bạn chứ không phải tội phạm hay kẻ nội thù.

KẾT LUẬN 

Tóm lại, tác động bởi một đề cương chính trị có viễn kiến khả thi và hiện thực vào bậc xuất sắc, hầu như chưa hề thấy tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện này, và những ưu tư phát xuất từ những nhận xét chân xác của cơ quan Nghiên Cứu Xã Hôi Hoa Kỷ, bài tham luận và biên khảo này không ngoài mục đích khơi lại một tiếng chuông cảnh tỉnh từ trong cũng như ngoài nước trước nguy cơ chia rẽ trong cộng đồng và âm mưu Hán hoá từ phương Bắc. Là  những người Việt yêu gia đình yêu tổ quốc, chúng ta hãy mở rộng tầm nhìn về tương lai đất nước và cộng đồng, mỗi người hãy để một phút lắng động tâm tư, dùng con tim và khối óc suy ngẫm về chính mình và con cháu mai sau, để có một ngày niềm tin yêu và hy vọng sẽ trải dài đến những thế hệ tương lai. Câu nói thời danh của nhà lãnh đạo tôn giáo kiêm chính trị gia Đức Dalai Lama nhắc nhở chúng ta rằng: “Chúng ta không thể thay đổi được qúa khứ, nhưng có thể sắp xếp lại tương lai”. Điều đó có nghĩa vận mệnh của dân tộc nằm trong bàn tay và khôí óc của những nhà lãnh đạo đương thời, ở giới trí thức và ở ý thức mỗi cá nhân trong tập thể, nếu chúng ta muốn nước giàu dân mạnh để con cháu ta được đứng thẳng chứ không phải sống qùy trong mảnh đất thân yêu mà tổ tiên ta đã đổ biết bao xương máu để bảo tồn và phát triển.

California ngày 7 tháng 3 năm 2015

Phạm Đức Khôi

GHI CHÚ

1- Chính Đề Việt Nam, Tùng Phong, http://huongduongtxd.com/chinhdevietnam.pdf
2- Anthony-bourdain, http://www.nomad4ever.com/2007/12/04.
3- Chia sẻ những đức tính và tinh thần quý báu của người Nhật ; https://vi-vn.facebook.com/notes
4- Tinh thần Võ sĩ đạo, http://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_Tri.
5- Tư Duy Tiến Bộ, 04:36H, 24-12-2010, tthps://sites.google.com/site/tuduytienbo/home/bai-hoc-cuoc-  song/10biquyetthanhcongcuanguoidothai.
6- American Institute of Social Reseach, the Vietnamese people have 10 major characteristics, created on Thursday, 02 May 2013 06.27, writen by Goole Search.
7- Trí Thức & Phát Triển: Ám ảnh qúa khứ và hy vọng tương lai , Nguyễn Quang Dy, 22-8-2015, “https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif”.