Bạn Đang ở đây:

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

MỘT TRẬN CHIẾN 44 NĂM VỀ TRƯỚC

In PDF.
Khoảng cuối tháng 2-1972, một Chiến Đoàn cộng (+) gồm 2 tiểu đoàn của TRĐ8 và 2 tiểu đoàn 2/7 và 3/7 của SĐ5BB, dưới sự điều động của BCH/TRĐ8 mở một cuộc hành quân. Cuộc lục soát quy mô diễn ra trong vùng Mỏ Vẹt, khoảng giữa biên giới Việt Nam và Kampuchia. Mục đích là nhằm xác định lại tin tức tình báo: Việt Cộng đang chuyển quân về đây với số lượng lớn, nhằm đánh chiếm tỉnh Bình Long, làm thủ đô cho cái lực lượng gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.
 
Lúc này tôi đang là ĐĐ phó ĐĐ5 của TĐ2/7. ĐĐ trưởng là Đạt, khóa 23 Võ Bị. Đạt ra trường tháng 12-1969, về ĐĐ/TS7. Tôi ra trường tháng 2-1971 và được đưa về tiểu đoàn này lúc đó đang hành quân vùng Snuol, Kampuchia. Đạt được chuyển từ ĐĐ/TS7 về thay cho Trung úy Tâm thuyên chuyển. Mặc dù đi lính trước tôi 2 năm nhưng thời gian trên Đà Lạt, 2 quân trường chúng tôi biết nhau rất rõ. Chúng tôi mỗi năm vào mùa quân sự đều sang học nhờ bên Võ Bị. Tôi cũng quen khá nhiều các SVSQ khóa 23VB. Có vài người từng học chung lớp hồi trung học với tôi. Thành thử giữa Đạt và tôi có sự thông cảm dễ dàng.
 
Đơn vị chúng tôi trên đường hành quân đã gặp những con đường khá rộng cỡ 5-6m do xe cơ giới ủi băng qua những khu rừng, những đồn điền cao su trùng điệp từ gần biên giới về sát ngoại vi tỉnh Bình Long. Những con đường đất đỏ còn mới toanh. Dọc theo bên đường trải dài những bó giây điện thoại to cỡ ngón tay, bọc ngoài bằng một lớp cao su màu đen khá chắc, chưa kịp chôn dấu trong lòng đất. Có phải bọn Việt Cộng đã quá coi thường phe ta hay vì thời gian ấn định quá gấp rút chúng phải hoàn thành cho được nhiệm vụ cấp trên giao phó nên không thể kỹ càng ngụy trang chăng?
 
Tiểu đoàn chúng tôi được lệnh bung rộng và lục soát. Đã có nhiều cuộc đụng độ. Đa phần, hình như chúng là những toán công binh hoặc đơn vị truyền tin đi thiết lập mạng giây liên lạc, nên mỗi khi chạm trán phe ta, chúng chỉ nổ súng lấy lệ và bỏ chạy. Cuộc hành quân sang tới ngày thứ năm thì chúng tôi được tin quận Lộc Ninh, cực bắc của tỉnh Bình Long đã thất thủ và TRĐ9 coi như bị mất liên lạc. Chúng tôi được lệnh, bằng mọi giá phải kéo về gấp để bảo vệ thị xã An Lộc. Trên đường về, chúng tôi di chuyển như chạy. Có những đụng độ trên đường nhưng chúng tôi không thèm quan tâm đến kết quả như địch chết bao nhiêu, vũ khí cũng không cần thu lượm! Điều quan trọng hàng đầu là kéo về Bình Long càng sớm càng tốt. Phải mất ba ngày để vào đến vùng hành quân sát biên giới nhưng chưa đầy một ngày, quân ta đã về tới thị xã và được phân chia vị trí bố quân.
 
Đại đội tôi, đang phiên trực chính của tiểu đoàn, được giao nhiệm vụ án ngữ phía bắc thị xã, đóng quân hai bên QL13, hướng về phía Bắc là cầu Cần Lê. Ngoài xa một chút là ngọn đồi Đồng Long, một cao điểm do một trung đội ĐPQ trấn giữ. Các đại đội còn lại được điều về bảo vệ mặt nam của thị xã từ QL13 kéo về hướng tây. Ngay góc tây nam thị xã là một căn cứ của ĐPQ, đồn Lam Sơn, được giao cho BCH/TĐ. Phía tay phải, TĐ3/7-SĐ5BB trách nhiệm bảo vệ mặt tây thị xã mà BCH/TĐ đóng trong Ty Hồi Chánh tỉnh. Đó là những gì tôi được biết về trách nhiệm của 2 tiểu đoàn thuộc TRĐ7, biệt phái cho Chiến đoàn 8 trong những ngày đầu tiên tại An Lộc. Ngoài SĐ5BB, tôi nhận thấy có sự hiện diện của LĐ3BĐQ, các TĐ/ĐPQ cơ hữu của tỉnh, một số trung đội Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ... Tổng cộng quân số của ta trong tỉnh chỉ vỏn vẹn cỡ một sư đoàn.
 
Xin nói sơ qua về thị xã An Lộc. Diện tích thị trấn chính của tỉnh Bình Long không rộng quá 2km2. Nằm dọc hai bên QL13, từ đồn điền Xa Cam phía nam lên đến đồi Đồng Long phía bắc chừng hơn cây số. Bề ngang, từ phạm vi Ty Hồi Chánh kéo qua đồn điền cao su Quản Lợi, rồi tới mấy ấp nhà dân cũng tối đa chừng 2km. Trong vài ngày đầu, không khí trong thị xã có vẻ nhốn nháo. Dân chúng khá hoang mang với cái tin Lộc Ninh đã mất vào tay Việt Cộng và bọn chúng đang sửa soạn kéo quân về đây. Tuy thấy quân ta vẫn còn hiện diện và đang chuẩn bị ứng phó, dân chúng vẫn không tránh khỏi lo sợ. Chỉ có điều, họ biết đi đâu bây giờ. Nhà cửa, ruộng vườn, sản nghiệp, mồ mả ông bà, tổ tiên tất cả đều ở đây. Làm sao họ nỡ rời bỏ ra đi.
 
Bọn Việt Cộng lúc này bắt đầu pháo kích lai rai vào thị xã. Có lẽ chúng có bọn nằm vùng cho tọa độ và chúng đang bắn thử để điều chỉnh. Sau gần một tuần hành quân trong rừng, lúc đại đội đã ổn định vị trí, tôi cũng cần mua ít đồ dùng cá nhân nên nói Đạt ra chợ một chút. Từ chỗ đóng quân ra khu chợ mới, đi bộ chưa tới 10 phút. Nhắm một quán cà phê có tiếng nhạc văng vẳng dội ra, tôi bước vào.

- Ê, Lân!
Tôi quay sang cái bàn có tiếng gọi.
- Ủa, Nguyện. Khỏe không? Cùng Trung Đoàn mà lâu quá tao mới có dịp gặp mày.

Tôn Thất Nguyện, cùng khóa với tôi, cùng trong nhóm 7 tên về TRĐ7BB, cùng nghe lời xúi dại của tôi trình diện trễ, nên cả bọn bị nhốt 7 ngày trong cái bunker trước cổng Căn cứ dã chiến của Trung Đoàn nằm phía bắc sân bay Phước Bình, dưới chân núi Bà Rá của tỉnh Phước Long.
 
Đúng ra chẳng phải chúng tôi có ý ba gai. Chỉ vì ông Đại úy Mão, chỉ huy hậu cứ TRĐ7, lúc đó còn đặt ở Phú Văn, đã gom mấy cái căn cước quân nhân của tụi tôi cất vào ngăn tủ. Tôi đòi ông ta đưa lại, ông ta không trả, nại lý do lệnh TRĐ trưởng. Tôi giải thích cho ông ta biết chúng tôi là những sĩ quan hiện dịch chứ không phải tân binh quân dịch, ông không thể coi thường chúng tôi. Có lẽ ông ta nghĩ ông có cấp bậc lớn hơn và tụi tôi chỉ là đám sĩ quan mới ra trường vô phép tắc nên không thèm nói chuyện tiếp. Vì tự ái, chúng tôi đã bàn nhau đi thêm một tuần lễ nữa.
 
Tới ngày mãn hạn, Nguyện là tay may mắn nhất, hắn được đưa về làm ĐĐ phó cho một niên trưởng Khóa 1, Trung úy Lê Bắc Việt, ĐĐ trưởng ĐĐ9/TĐ3/7. Những người còn lại cũng nhận đơn vị là những tiểu đoàn đang hành quân vùng nội địa. Riêng tôi có “số xuất ngoại”, được đưa về TĐ2/7 đang hành quân tận Kampuchia. Tôi phải mất một thời gian khá vất vả lúc đầu vì không người hướng dẫn. ĐĐ trưởng của tôi khi đó là một Trung úy từ Hạ sĩ quan đặc biệt đi lên. Hắn luôn có mặc cảm với đám sĩ quan mới ra trường, nhất là sĩ quan hiện dịch. Nhưng cũng nhờ vậy mà tôi đã tự học được rất nhiều kinh nghiệm bổ ích để có thể tồn tại và tiến thân sau này.
 
Tôi còn nhớ lần đầu tiên gặp Niên trưởng Việt... Anh lái chiếc Jeep lùn, đầu đội nón sắt, có bao một lớp vải ngụy trang giống màu vải áo dù và được bao quanh bằng một sợi cao su dẹp, to bản, ép dính một hộp băng cứu thương cá nhân hình chữ nhật vào bên hông chiếc nón sắt. Bộ quân phục màu cứt ngựa anh mặc trên người phủ một lớp bụi màu đỏ của đất núi vùng cao nguyên. Sợi dây ba chạc anh mang, lủng lẳng khẩu Colt nằm trong cái bao da màu nâu, xệ xuống bên hông phải. Trên thành ghế là cái áo giáp, một bên túi có nhét tấm bản đồ hành quân với lớp bọc nylon trong suốt phủ bên ngoài; túi bên kia máng một cái đèn pin nhà binh màu olive. Niên trưởng nhìn đám đàn em mới ra trường với ánh mắt đầy trìu mến. Cái anh mắt đó, tôi còn nhớ mãi tới ngày hôm nay. Mãi về sau này, tôi mới hiểu ý nghĩa cái nhìn đó. Anh đã từng lặn lội xông pha, từng đối đầu hiểm nguy chết chóc nên anh thương cho đám đàn em bắt đầu nối gót các anh với những gian nan đang chờ đợi. Là người đi trước, anh ước gì có thể bảo bọc cho những đứa em còn non nớt. Đó cũng là tâm trạng của tôi sau này. Tôi từng mong chờ, nếu có một chú Khóa 3 nào, ra trường về đơn vị, tôi cũng sẽ truyền đạt tất cả những kinh nghiệm sống của mình để chú ta sẽ bớt đi những vất vả, bỡ ngỡ ban đầu, để có thể tồn tại như tôi. Nhưng, Khóa 3 chả có ai phải về các sư đoàn tác chiến cả.
 
Buổi gặp gỡ trong quán cà phê nhạc với Nguyện cũng nhanh chóng trôi qua. Tôi chỉ hỏi sơ qua chỗ Nguyện đóng quân để nếu rảnh có thể tìm tới nói chuyện. Khi đứng lên giã từ, tôi nhắn Nguyện cho tôi gởi lời thăm Niên trưởng Việt.
 
Qua ngày hôm sau, đại đội tôi được lệnh ra đóng chốt trong khu rừng cao su Xa Cam, hướng nam thị xã, cách cổng Nam cả cây số. Đại đội tôi đóng ở đây như là cái chốt tiền tiêu cho thị xã, nhằm phát hiện cũng như không để Cộng quân áp sát vào vòng đai thị xã. Vị trí đóng quân nằm sâu trong lô cao su cách QL13 chừng 300m. Phía bên kia quốc lộ là một vùng đất trống đã được khai quang sâu cả nửa cây số. Nhìn xéo về hướng đông nam, xa xa là ngọn Đồi Gió mà sau này, quân Dù đã đổ bộ xuống và kéo vào giải tỏa áp lực vòng vây cho thị xã.
 
Đạt cho bung sâu về hướng tây một trung đội, cách 200m, để giữ an ninh bên hông cho BCH đại đội. Về hướng nam, Đạt cho một tiểu đội đóng chốt cách vị trí đại đội chừng hơn 100m để quan sát từ xa. Hướng đông là QL13, địa thế trống trải, chắc chắn bọn Việt Cộng không ngu dại gì dùng hướng này để tấn công tụi tôi. Mặt bắc, chính là thị xã, cách chúng tôi cả cây số với một đường hào rộng, sâu đầy mìn và chướng ngại vật mục đích để chống chiến xa, chúng tôi không cần đặt chốt nào thêm cả. Tất cả mọi người đều phải đào hầm hố có nắp kiên cố để chống pháo kích. Kinh nghiệm những lần đụng độ trên đất Kampuchia khiến chúng tôi ngày càng học được những điều hay để sinh tồn. Chúng tôi cho lính sắm những lưỡi cưa mang theo và sẵn sàng cưa những nhánh cao su để làm nắp hầm. Chỉ vài tiếng sau, chúng tôi đã ổn định vị trí. Tôi giúp Đạt ra tận trung đội tiền đồn để kiểm tra hầm hố cũng như hướng dẫn những vị trí gài mìn tự động.
 
Một ngày một đêm yên tịnh trôi qua. Ở ngoài này chúng tôi không bị pháo kích như lúc còn nằm trong thị xã. Tụi tôi chỉ nghe thấy tiếng đạn đại bác bắn đi từ hướng bắc và tây bắc rót vào thị xã tạo những âm thanh ì ùng bất kể ngày đêm.
 
Khoảng nửa đêm ngày thứ nhì, chúng tôi đang yên giấc thì nghe có hai tiếng mìn Claymore nổ vang dội trong rừng cao su mênh mông, cách nhau chừng một phút. Mọi người lật đật nhào xuống hố, báo động, sẵn sàng chiến đấu. Tất cả đều dõi mắt quan sát bên ngoài dù trời tối đen như mực. Không một tiếng động. Chuyện mìn tự động nổ trong đêm khuya cũng khá bình thường. Nhiều khi chỉ là một cành cây khô rớt, có lúc lại là một con thú rừng vô tình chạy ngang chạm dây bẫy... Tuy nhiên với tình hình hiện nay, chúng tôi phải cảnh giác cao độ. Chờ chừng nửa tiếng, không có gì khác lạ, Đạt cho lệnh chấm dứt báo động.
 
Tờ mờ sáng hôm sau, trung đội tiền tiêu cho lính ra lục soát hướng có hai trái mìn nổ đêm rồi. Trung đội gọi máy về báo có hai xác Việt Cộng và lấy được hai khẩu AK47. Tôi thay Đạt dẫn hai tên lính Quân Báo ra ngay vị trí. Hai cái xác mặc đồ bộ đội chính quy màu xanh cứt ngựa dính dầy bụi đất đỏ nằm chết ở hai vị trí cách nhau vài chục mét. Tính theo lô cao su, có lẽ chúng chia thành hai cánh, lần theo các gốc cây, để dò đường. Có khả năng xâm nhập ban đêm, đây phải là tụi đặc công hoặc ít ra cũng là đơn vị trinh sát tinh nhuệ. Tôi cố gắng quan sát thật kỹ nhưng vì khu rừng cao su không có nhiều cỏ thấp nên khó có thể ước đoán số lượng toán quân địch đi chuyển là bao nhiêu người. Tôi về lại vị trí đại đội đóng quân và báo lại cho Đạt những nhận xét của mình.
 
Chúng tôi bước sang ngày thứ ba. Một ngày nữa lại trôi qua. Lượng nước chúng tôi đem theo đã bắt đầu cạn dần mặc dù chúng tôi đã rất hạn chế. Nằm một chỗ nên lính tráng không mệt nên cũng ít uống nước. Chúng tôi, phần tiết kiệm nước, phần không muốn nhóm lửa vì nấu nướng có khói dễ lộ vị trí. Thay vào đó, lính tráng phải đổ nước lạnh vào các bao gạo sấy và bóp cho mềm để ăn. Xin tiểu đoàn tiếp tế nước thì được trả lời, tiểu đoàn cũng không có phương tiện, chưa kể đến tình trạng pháo kích thường xuyên trong thị xã cũng là một trở ngại lớn lao. Đạt ra lệnh mọi người phải tiết kiệm xử dụng nước tối đa vì chưa biết đến khi nào mới được tiếp tế. Khi màn đêm buông xuống, trừ những người có nhiệm vụ canh gác, tất cả đều cố nhắm mắt dỗ giấc ngủ, hy vọng quên đi những căng thẳng đang rình rập trong bóng đêm dầy đặc chung quanh.
Thế rồi, lại đúng khoảng nửa đêm, cũng hai tiếng mìn nổ, xé toang cảnh tĩnh mịch trong đêm vắng. Cùng một lúc, ngay trong phạm vi đóng quân của đại đội, chúng tôi nghe có tiếng la: “Xung phong, xung phong”.

“Chết mẹ, tụi nó vào tới tuyến hồi nào mà lính gác không phát hiện được!”. Tôi thầm nghĩ trong bụng trong lúc nhào xuống vị trí trong căn hầm của BC đại đội. Những ánh lửa lóe lên, những vệt đạn bay tứ phía vào không gian. Những tiếng nổ của lựu đạn, M79, trộn lẫn tiếng súng cá nhân, những tràng đại liên M60... vang lên trong hỗn loạn. Trong hoàn cảnh này, mọi lệnh lạc chỉ huy trở thành vô nghĩa. Đại đội tôi, từng được hướng dẫn về kinh nghiệm tác chiến chống đặc công mà tôi đã trải qua khi đặc công Việt Cộng đánh trường năm xưa, bây giờ họ áp dụng khá hữu hiệu.
 
Cảnh hỗn loạn trong bóng đêm kéo dài chỉ khoảng chừng 15 phút rồi im bặt. Để không làm lộ vị trí, chúng tôi không xử dụng liên lạc vô tuyến. Tất cả nằm yên tại chỗ chờ cho trời sáng, bất cứ ai di chuyển trên mặt đất là địch.
 
Buổi sáng sớm khi sương mờ chưa tan hẳn, chúng tôi bắt đầu bò lên khỏi hầm hố chiến đấu và kiểm tra lại phòng tuyến. Hai cái xác trần truồng nằm tại hai vị trí khác nhau trong phạm vi đóng quân của đại đội. Quanh bụng mỗi tên là một sợi dây, đeo lủng lẳng những trái bê-ta nội hóa vỏ bằng gỗ. Một tên mà đầu, mình, tứ chi lỗ chỗ vết đạn, đủ các loại, tay còn cầm K54. Tên còn lại, một đầu đạn M79 mầu vàng xuyên thủng qua lớp da bụng còn nằm yên trong đó chưa kịp nổ, khẩu K54 rớt cạnh đó chừng một thước. Khoảng cách bắn quá gần. Bộ đồ lòng của cái xác đổ ra ngoài lớp da bụng, tràn xuống mặt đất đã thẫm mầu máu thành những quầng thâm đen. Rải rác đó đây vài trái bê-ta đã rút chốt nhưng không nổ. Những thân cây cao su vô cớ lãnh oan những vết đạn đủ loại đang ứa những dòng mủ trắng chảy dài xuống mặt đất đỏ. Tình hình quân ta hoàn toàn vô sự. Máy PRC25 từ trung đội tiền tiêu báo về sau khi lục soát vị trí nổ của hai trái mìn: hai xác Việt Cộng nữa với một AK, một B40. Lục soát trong người một tên có một bức thư và trung đội trưởng toán tiền tiêu sẽ cho lính đem vào sau.
 
Một kết quả thật bất ngờ. Toán đặc công có 4 tên với nhiệm vụ đột nhập và phá tan cái chốt án ngữ là đại đội chúng tôi để dễ dàng cho đại quân của chúng áp sát vòng vây tiếp cận thị xã. Hai tên đặc công không mặc quần áo để khỏi vướng víu, dễ xoay sở, đã bò vào tới gần phạm vi đóng quân của đại đội vì may mắn không vướng phải mìn. Chúng đang dò dẫm tìm vị trí hầm hố của chúng tôi để thảy bê-ta tấn công thì nghe hai tiếng nổ phía sau. Đó là cánh yểm trợ với một tên mang AK, một tên cầm B40. Hai tên đi sau ỷ y đã có hai tên đi trước, không ngờ lại đá phải mìn tự động ta gài nên bỏ mạng tại chỗ. Hai tên đặc công bò vào tới sát tuyến bấy giờ nghe tiếng mìn nổ có muốn quay lại cũng không kịp nữa. Trước hết, quân ta đã báo động và xuống hố sẵn sàng chiến đấu. Bò lại ra ngoài gây tiếng động chỉ làm mồi ngon cho ta tác xạ. Hơn nữa biết chỗ nào có mìn, chỗ nào không mà né bây giờ. Thôi thì liều chết xung phong. Cuối cùng thì chúng đã đền tội: sinh bắc tử nam như ý nguyện.
 
Đọc lá thư tìm được trong túi tên Việt Cộng, chúng tôi mới biết đây là toán đặc công có nhiệm vụ đi tìm tin tức hai tên đã chết hôm trước. Thì ra chúng cùng chung một toán trinh sát đặc công, có nhiệm vụ đi trước dò đường cho lực lượng bộ binh phía sau sắp sửa chuyển tới nay mai. Chỉ có một cái chốt án ngữ của chúng tôi, chúng chưa làm gì được mà đã bỏ 6 mạng người. Chúng đánh giá là đại đội đã gài mìn dầy đặc khắp rừng cao su quanh vị trí đóng quân. Sự thật thì với cấp đại đội chúng tôi làm gì có nhiều mìn đến độ có thể rải dầy đặc mọi chỗ. Chúng tôi chỉ gài ở những vị trí mà mình nghi ngờ địch quân có thể tiếp cận mà mình không quan sát được, tùy theo kinh nghiệm của người chỉ huy.
 
Sau khi báo cáo tình hình về cho tiểu đoàn, Đạt xin được tiếp tế nước một lần nữa. Đến đây thì tiểu đoàn mới cho Đạt hay sự thực. Ngay cả BCH/TĐ cũng như các đại đội trong thị xã, cũng gặp rất nhiều khó khăn vì tình hình pháo kích thường xuyên. Tiểu đoàn đồng ý để đại đội cho những toán vào thị xã lấy nước từ giếng trong các xóm nhà dân nhưng ra vào cổng nam thị xã phải có dấu hiệu nhận bạn cũng như phải thật cẩn thận khi di chuyển và coi chừng đạn pháo kích. Đạt và tôi cùng bàn bạc. Không có nước coi như chết nhưng đi lấy nước kiểu này cũng không phải là dễ dàng.
 
Sau khi gọi máy cho các trung đội, Đạt khuyến cáo hạn chế xử dụng nước tối đa và chỉ khi nào thật cần thiết sẽ có lệnh cho các trung đội cắt người về đại đội, tập trung thành toán đi lấy nước chung.
 
Một ngày lại từ từ trôi qua chậm chạp. Bóng tối bắt đầu bao phủ mọi cảnh vật. Những hạt sương đêm sa xuống bám vào những tấm Poncho trải trên mặt đất, trên nóc hầm. Những luồng gió lạnh thỉnh thoảng thổi qua, xua đi những căng thẳng ngột ngạt ban ngày. Từ trong thị xã vẫn vọng ra tiếng đạn pháo kích nổ ì ầm. Chưa biết rồi đây số phận chúng tôi sẽ ra sao. Trong trận chiến quy mô tới cấp sư đoàn như thế này, đại đội chúng tôi chỉ là con chốt thí vì sự an nguy của đại đơn vị bên trong. Muốn tồn tại, chúng tôi phải thật bình tĩnh, tỉnh táo để nhận định tình hình và tìm phương cách ứng phó tốt nhất cho mình.
 
Tôi thiếp đi và đang mơ màng trong giấc ngủ thì những tiếng mìn nổ kế tiếp nhau vang dội trong khu rừng cao su. Nhào xuống hầm chỉ huy thì anh lính gác cho biết anh nghe có nhiều tiếng leng keng như tiếng chuông của mấy cái xe bán cà-rem. Anh đang thắc mắc đó là cái âm thanh gì, tại sao lại có giữa đêm khuya trong rừng cao su này, thì những tiếng mìn nổ liên tiếp vang dội làm anh không còn suy nghĩ gì được nữa. Lại báo động, lại súng đạn vào vị trí chờ đợi. Chỉ có thế. Địch dám tấn công thì ta sẽ trả lễ. Bằng không chỉ yên lặng chờ đợi đến sáng rồi tính.
 
Ánh sáng ban mai vừa hé dạng, toán tiền tiêu đã cho lính ra lục soát. Sáu cái xác trâu đen nhùi nhũi nằm rải rác chung quanh cái chốt không xa. Trong số đó có một con trâu cổ có đeo một cái vòng lục lạc. Mỗi khi di chuyển tiếng chuông từ vòng lục lạc đeo trên cổ sẽ phát ra cái tiếng leng keng. Ngoài 6 cái xác trâu, chúng tôi không tìm thấy gì khác. Thì ra, bọn Việt Cộng đã quá ớn những trái mìn tự động gài của chúng tôi nên đã vào ấp dân gần đó lùa bầy trâu đi chết thế mạng, cũng như nhằm phá bớt số mìn bẫy của chúng tôi.
Tới giai đoạn này, Đạt và tôi đánh giá tình hình bắt đầu cận kề nguy hiểm. Vì nhu cầu chuyển quân áp sát vòng vây vào thị xã, chúng sẽ bằng mọi cách bứng cái chốt của chúng tôi. Vấn đề chỉ là sớm hay muộn.
 
Đúng như dự đoán. Khi mặt trời vừa tỏ rõ, bọn Việt Cộng lùa quân từ hướng tây tiến vào. Chúng ẩn mình sau những xác trâu, chĩa súng bắn vào toán tiền tiêu của đại đội. Thoạt đầu lính ta có bắn ra trả đũa. Nhưng Đạt gọi máy cho Trung đội trưởng ra lệnh không cho bắn để tiết kiệm đạn dược vì có bắn cũng chả trúng ai. Hai bên cứ thế rình nhau. Đến xế trưa, một cánh quân khác của Việt Cộng, từ hướng nam nhắm vành đai thị xã tiến tới. Chúng di chuyển trong khoảng giữa đại đội và toán tiền tiêu, cách chúng tôi chỉ chừng 100m. Phản ứng tự nhiên là lính ta dương súng bóp cò. Phải thú thật đây là lần đầu tiên tôi thấy Việt Cộng ngay trước mắt và nhiều như vậy.
 
Chúng lúc đầu có bắn trả. Nhưng cuối cùng cả hai phe đều ngưng không thèm tác xạ nữa. Lý do cũng đơn giản. Bọn Việt Cộng di chuyển bằng cách vọt từ gốc cao su này đến gốc cao su khác. Lính ta khi thấy bóng một tên xuất hiện, từ lúc đưa súng lên nhắm đến lúc bóp cò và khi viên đạn ra khỏi nòng thì tên Việt Cộng đã ẩn mình sau một gốc cây khác mất rồi. Chỉ còn cách bắn hú họa chận đầu thì may ra! Việt Cộng cũng vậy, chúng bắn quân ta có vị trí ẩn núp tốt trong hầm hố thì mong trúng được ai. Tóm lại, ta không bắn địch vì tiết kiệm đạn, để phòng tới giờ phút tối cần, khi địch ồ ạt xung phong tấn công, ta còn đủ đạn mà chống cự. Còn bọn Việt Cộng, mục đích trước mắt của chúng là áp sát vành đai thị xã. Chúng tạm bỏ qua cái chốt nhỏ cấp đại đội của chúng tôi để tránh thiệt hại nhân mạng. Bởi nếu thực tâm chúng muốn nhổ, muốn bứng, muốn tiêu diệt đại đội chúng tôi, chúng có thừa khả năng và quân số để áp đảo. Tất nhiên để đạt được mục đích chúng sẽ phải tổn thất vài trăm mạng là chuyện dĩ nhiên. Bỏ chúng tôi ở đây, áp sát vòng đai thị xã cũng là cách cắt đứt và cô lập chúng tôi với đơn vị lớn bên trong; chúng tôi cũng sẽ không còn khả năng kháng cự được bao lâu.
 
Bước qua ngày thứ năm thì có một biến chuyển mới. Hình như Bộ chỉ huy của một đơn vị cấp lớn Việt Cộng di chuyển từ hướng đồn điền Xa Trạch lên để có thể trực tiếp nắm tình hình hầu dễ điều động đám bộ binh đang bám sát vành đai thị xã. Vị trí đại đội tôi là cái gai trong mắt chúng. Đúng giữa trưa, chúng bắt đầu mở cuộc tấn công vào tuyến chúng tôi. Trước hết chúng pháo súng cối 82 và 61 ly vào vị trí đại đội đóng quân. Nhờ hầm hố chúng tôi có nắp kiên cố nên không bị chút thiệt hại nào đáng kể. Sau vài chục trái cối mở đầu, chúng cho bộ đội dàn hàng ngang xung phong. Nhờ những trái mìn tự động cũng như hàng mìn có dây điều khiển, đợt xung phong của chúng bị bẻ gẫy ngay từ những phút đầu. Từ trong phòng tuyến, chúng tôi xả ra những tràng đại liên, M16, M79 nhằm chận lại bất cứ kẻ nào dám liều mạng tiến về phía chúng tôi. Có những bóng người đổ xuống từ xa. Một hồi kèn vang lên, bọn chúng từ từ rút về phía sau. Kiểm điểm lại, chúng tôi không có chút thiệt hại nào ngoại trừ số đạn dược đã bắn ra, những trái mìn đã nổ. Lợi dụng bọn chúng thu quân, Đạt cho lính bò ra thay những trái mìn mới vào những chỗ cần thiết. Chắc chắn chúng không dễ dàng chịu thua. Chúng đang “điều nghiên” để tìm cách nhổ cỏ tụi tôi.
 
Đạt bốc máy gọi về tiểu đoàn báo cáo tình hình đồng thời xin bổ xung đạn dược vì nếu tình trạng này kéo dài, khả năng cầm cự của đại đội rất mỏng manh. Trong tình hình hiện nay, quân ta hoàn toàn chiến đấu dựa vào súng đạn cơ hữu còn lại được cấp phát của đơn vị. Yểm trợ bằng pháo binh ở đây không có. Mấy khẩu 105 ly pháo binh diện địa và pháo binh cơ hữu của sư đoàn đặt trong tỉnh lỵ đã bị vô hiệu. Phản pháo thì không tới vì pháo địch đặt xa ngoài tầm tác xạ của 105 ly.
 
Mọi sự yểm trợ chỉ còn trông nhờ vào không quân của ta và của Mỹ. Từ những phi vụ Skyraider, A37, hoặc những chuyến bay từ ngoài hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ vào thả bom, những chiếc C130, C123 hàng đêm rải đạn đại bác 105 ly hay bắn M79 từng tràng xuống vị trí nghi ngờ có địch, đến những chiếc máy bay vận tải thả dù tiếp tế và cả những chiếc trực thăng liều lĩnh đáp xuống cổng nam để tải thương…
 
Đúng như dự đoán, trời vừa sập tối, bọn Việt Cộng mở cuộc tấn công đợt nhì. Lần này, chúng pháo phủ đầu thật dữ dội bằng hàng chục trái cối rải đều khắp tuyến phòng thủ. Một số hầm đã bị sạt lở, hư hại. May mắn là không có ai bị thương nhưng tinh thần binh lính thì rất căng thẳng, đang chờ đợi đợt xung phong của địch sắp bắt đầu. Đạt đã gọi về tiểu đoàn báo cáo tình hình ngay từ những trái pháo đầu tiên rót vào vị trí.

- Nam Sương, Nam Sương, đây 45 gọi. Nghe rõ trả lời.
Một giọng nói vang lên trong cái loa của máy truyền tin. Đạt vội vàng chụp lấy ống liên hợp trả lời:
- 45 đây Nam Sương. Tôi nghe 45 năm trên năm.
45 là danh hiệu truyền tin của Tư lệnh Sư Đoàn, Đại tá Lê Văn Hưng (Tháng 3/72 ông còn mang cấp Đại tá).
- Cho qua biết tình hình chỗ em thế nào?
- Trình 45, bọn nó đang đốt pháo bông mừng chúng tôi và sắp sửa cho em út đến dọn nhà.
- Tụi nó cách vị trí em bao xa?
- Chỉ chừng ba tờ về hướng nam.
- Được rồi, nói con cái yên tâm. Qua sẽ cho đốt lửa chào mừng tụi nó. Em đọc tọa độ đi.

Đạt bấm chiếc đèn pin dọi lên tấm bản đồ. Lấy cây bút chì mỡ màu đỏ, chấm cái vị trí quân địch và bắt đầu đọc:
 
- Trình 45, đây là tư tưởng đống đa (tọa độ), chuẩn Hồng Hà, trái 20, xuống 40. Tôi lập lại, trái 20, xuống 40.
- Qua nhận rõ. Con chim sắt chừng 10 phút nữa sẽ tới điểm. Cố quan sát thật kỹ rồi cho qua biết. Qua sẽ điều chỉnh nếu cần.

Đạt đưa ống liên hợp cho gã âm thoại viên, đứng thò đầu ra khỏi miệng hầm quan sát một lúc thì có tiếng động cơ ù ù trên đầu. Chỉ trong chốc lát, một tiếng rít như gió hú từ trên không trung ập xuống kèm theo những tiếng ầm ầm của những trái bom Napalm chạm vào mặt đất. Qua màn đêm tối mù, một cột lửa đỏ bùng lên, cách vị trí đại đội chừng nửa cây số.

- 45 đây Nam Sương gọi. 45 đây Nam Sương gọi.
- Nam Sương, 45 nghe.
- Xin điều chỉnh, về bắc 200.
- Qua nghe rồi, có gần chỗ em quá không?
- Xin 45 yên tâm, nhà chúng tôi có mái khá tốt. Cứ cho con rồng phun lửa gần lại mới thiêu chúng nó được.
- OK, qua nhận. Sẽ chỉnh ngay.

Không đầy 2 phút, chiếc máy bay lại rít lên và nhào xuống một lần nữa. Một luồng lửa đỏ chạy dài từ đông sang tây cả trăm thước, tính từ QL13 sâu vào khu rừng cao su Xa Cam, đúng ngay cái vị trí đóng quân mà chúng tôi đoán là BCH của Việt Cộng. Trong đêm tối, chúng tôi không nhận ra hình dạng chiếc máy bay. Chắc đó là một phản lực cơ oanh tạc của hạm đội Hoa Kỳ ngoài khơi bay vào yểm trợ mặt trận Bình Long.
Sau đợt thả bom lần nhì, chiếc máy bay vút lên không trung và mất tăm trong màn đêm dầy đặc.

- 45 đây Nam Sương gọi.
- Qua nghe.
- Trình 45, rồng phun lửa tuyệt đẹp. Ngay chóc luôn. Cám ơn 45 đã quan tâm em út.
- Vậy là tốt rồi. Cố gắng vận động con cái, giữ vững tinh thần. Phải giữ An Lộc bằng mọi giá hiểu không?
- Nhận rõ 45.

Cuộc điện đàm chấm dứt. Cuộc tấn công đại đội đang chờ đợi không diễn ra. Đạt chờ thêm nửa tiếng nữa không thấy động tĩnh gì mới cho chấm dứt báo động. Nửa đêm, trời bỗng nổi cơn giông. Gió thổi tứ phía và trên không những ánh chớp lóe lên liên tục kèm theo những tiếng sấm gầm vang dội khắp khu rừng cao su mênh mông. Không ai bảo ai, chúng tôi trải những tấm Poncho dài trên mặt đất chuẩn bị hứng những giọt nước trời ban. Nước với chúng tôi lúc này vô cùng quý giá. Con người có thể nhịn ăn năm ba ngày nhưng không thể thiếu nước quá một ngày. Qua màn đêm đen thẳm, chúng tôi không thể thấy những đám mây dầy đặc kéo tới lúc nào nhưng những hạt mưa đang bắt đầu trút xuống. Những giọt mưa xuyên qua lớp lá cây cao su trên vị trí đóng quân, rớt xuống đất, xuống những tấm Poncho đám lính đang trải trên miệng hầm, trên những hố trũng... Cả đại đội, tuy âm thầm nhưng gần như ai cũng tỉnh táo hẳn lên. Lính tráng rất lẹ làng, trong bóng đêm, bò sát tới những điểm nước trời cho, múc vội những ca nước trút nhanh vào những bi-đông, những cái bình mủ đựng nước đã cạn queo mấy ngày nay, không quên tự thưởng cho mình những ngụm nước mưa mát rượi sau những ngày nhịn khát vì dè xẻn, tiết kiệm nước theo lệnh Đạt. Trận mưa kéo dài không lâu vì cơn giông mạnh đã đuổi đi những đám mây vần vũ. Cũng tạm đủ nước cho chúng tôi trong vài ngày không phải lo lắng.
 
Buổi sáng ngày thứ sáu đã bắt đầu hé dạng. Cái tiểu đội chốt cách vị trí đại đội hơn trăm mét về hướng nam, tối hôm qua, trước khi điều chỉnh máy bay thả bom Napalm, Đạt vì an toàn đã cho rút về. Bây giờ, chúng tôi chỉ còn quan sát địch từ ngay vị trí phòng thủ của đại đội. Tầm quan sát trong rừng cao su thường rất hạn chế. Xa xa, chỗ dội bom hôm qua, chúng tôi chỉ nhìn thấy những thân cây cao su cháy xám đen, trụi lá. Khúc này, ánh sáng từ bầu trời không bị lá cây cao su che phủ nên rọi xuống mặt đất khiến khu rừng như sáng hẳn ra. Những khúc rừng còn lại, càng về xa càng mờ mờ u ám. Bọn Việt Cộng có lẽ còn sớm cũng chưa thấy động tịnh. Các trung đội hỏi xin khói lửa nấu ăn. Đạt vẫn một mực gạo sấy nước lạnh. Chúng tôi không sợ lộ điểm vì nấu nướng khói bay lên. Vị trí chúng tôi địch đã quá rõ. Không cho nấu nướng chỉ vì Đạt muốn mọi người tập trung quan sát đề phòng vì địch đang bám sát chung quanh. Chúng đang rình rập ta sơ hở để đột kích bất ngờ.
 
Qua cái khoảng trống chỗ đêm qua máy bay thả bom, chúng tôi không thấy bóng dáng tên Việt Cộng nào di chuyển qua lại. Khác hẳn với cảnh buổi chiều hôm trước khi chúng chuẩn bị tấn công xóa sổ đại đội tôi, khu rừng bây giờ hoàn toàn im ả. Có lẽ đợt bom bất ngờ tối qua đã gây thiệt hại cho chúng không nhỏ. Đạt và tôi trao đổi tình hình và cũng cảm thấy nhẹ thở phần nào. Chưa được bao lâu, trung đội tiền tiêu gọi máy về cho biết phát hiện địch đang di chuyển ngang qua vị trí bằng cách chạy nhanh qua những gốc cao su để áp sáp vào vòng đai thị xã. Từ vị trí chúng tôi nhìn ra, chúng tôi cũng nhìn thấy những tên Việt Cộng đang lúp xúp chạy băng qua những gốc cao su. Trên vai, chúng mang những hòm gỗ. Có lẽ đó là đạn dược hay đồ tiếp liệu dùng cho cuộc bao vây. Đạt không cho phép lính tác xạ để tiết kiệm đạn, trừ khi chúng tấn công trực diện vào tuyến. Cứ thế, mạnh ta ta ngó, mạnh địch địch đi. Tuy chúng không có ý định tấn công lúc này nhưng chúng tôi hiểu, chúng đang rình rập chúng tôi thật kỹ. Chúng đặt những cái chốt bám sát chúng tôi; có những tên canh phòng, leo lên những nhánh cây cao su quan sát mọi hoạt động của đại đội chúng tôi từ xa. Chỉ cần sơ sảy, lơ là là chúng ập tới tấn công ngay. Do đó, tuy tình hình tạm ổn nhưng chúng tôi lúc nào cũng căng thẳng tinh thần.
 
Nguyên một ngày một đêm trôi qua trong yên tĩnh. Sáng ngày thứ bẩy bắt đầu với một không khí u ám lạnh lẽo. Cả tuần nay, chúng tôi phải bỏ đi cái thói quen nằm võng. Hàng đêm, chúng tôi trải Poncho nằm dài trên mặt đất sát cạnh miệng hầm. Có động tĩnh là phóng ngay xuống hố để phản ứng cho kịp. Thình lình từ tuyến phòng thủ từ hướng nam có tiếng lao xao.

- Có Việt Cộng đang chạy về phía mình.

Tiếng một anh lính la lên hốt hoảng. Mọi người nhào xuống hố cá nhân. Đang đứng cạnh hầm chỉ huy của đại đội, tôi đưa mắt nhìn về phía có bóng người đang chạy lại. Một tràng đạn M16 nổ vang. Tôi thấy 2 bóng người chạy lại gần hơn. Người chạy trước dơ hai tay cao trên đầu, không có mang vũ khí, bóng người sau đó chừng chục thước không rõ lắm.

- Đừng bắn...

Bóng người chạy phía trước la lớn. Cũng may cho hắn, tràng M16 mà anh lính bắn vì phản ứng quá gấp rút nên không chính xác. Cái bóng ngã bổ nhào xuống mặt đất trong vòng đai đóng quân đại đội.
 
Mọi việc diễn ra quá nhanh chóng. “Không lý mấy tên Việt Cộng này chạy về phía ta xin chiêu hồi?”. Một ý nghĩ thoáng qua đầu tôi. Tôi chưa kịp thốt ra cái lệnh “Không được bắn” thì một tiếng nổ “Uỳnh” vang lên ngay hướng bóng người thứ nhì đang chạy vào. Một đám khói đen bốc lên kèm theo những tiếng cành cây gãy rơi lộp độp trên mặt đất. Tên này xui xẻo, đá ngay trái mìn Claymore tự động của chúng tôi. Tiếng rên la trong đau đớn vang lên thê thảm giữa rừng cao su. Đúng lúc này, cái người chạy được vào tới tuyến chúng tôi ngồi bật dậy. Anh ta cho biết anh là lính địa phương quân thuộc Chi khu Chơn Thành. Trung đội anh nằm tiền đồn và bị Việt Cộng tấn công tan tác. Anh và một đồng đội thoát được, tìm cách chạy về thị xã. Gần tới vị trí đại đội tôi, anh bị một toán Việt Cộng phát hiện và truy đuổi. Nghe anh kể, chúng tôi mới nhận ra cái phù hiệu con rùa ĐPQ trên vai áo của anh. Trong cái khu rừng cao su đất đỏ này, màu xanh của áo trận giữa ta và địch khó có thể phân biệt vì chúng đã trộn lẫn thành mầu đỏ đất. Quân ta bắn quân bạn! Anh lính may mắn thoát chết thình lình vùng dậy, nhào người định chạy ra ngoài tuyến, nơi người bạn anh đang nằm rên la trên mặt đất. Mấy người lính ôm chặt anh lại.

-Không ra được đâu. Tụi Vi Xi nằm đầy ngoài đó. Anh chưa ra tới nơi, chúng nó đã “dzớt” anh rồi. Vả lại, bạn anh bị mìn kiểu đó, có đem vào cũng không cứu được đâu!

Anh lính ĐPQ bật lên tiếng khóc hu hu. Anh khóc vì mình thoát chết trong cảnh éo le. Anh còn sống mà phải chứng kiến bạn mình nằm đó chờ chết, rên la trong đau đớn tuyệt vọng nhưng anh và mọi người đều bất lực.

Chờ anh ta nguôi ngoai một chút, Đạt kêu anh ta lại và hỏi thăm tình hình trên đường. Anh cho biết, để vào được tới đây, anh và người bạn đã phải thoát qua nhiều lớp đóng quân của Việt Cộng. Anh cho biết, chúng nó quân số rất đông, chỗ nào cũng có. Đạt bốc máy báo về tiểu đoàn. Cơn mưa đêm ngắn ngủi vừa qua cũng chỉ đem lại cho chúng tôi ít nước vừa đủ trong hai ngày tằn tiện. Như vậy, chúng tôi đã bị chúng bao vây chặt. Không cần tấn công, chúng tôi cũng sẽ trở thành bất khiển dụng trong nay mai. Không thể chết trong tình trạng bị cô lập này. Tôi bàn với Đạt. Cuối cùng, Đạt lên máy gọi về xin gặp tiểu đoàn trưởng trên tần số hẹn.
 
Với tình thế này, trong khả năng của mình, tiểu đoàn cũng chẳng có cách nào giúp đại đội tôi được. Nằm yên tại chỗ, chắc chắn tụi tôi sẽ tiêu. Sau một lúc đắn đo, tiểu đoàn trưởng đồng ý cho chúng tôi rút vào thị xã, kèm theo một lệnh. Trước khi rút, phải phá bỏ mọi hầm hố có nắp, vì nếu có lệnh bắt chiếm lại vị trí đã bỏ mà hầm hố còn nguyên vẹn thì sự tổn thất sẽ khó có thể lường được. Lệnh được truyền xuống cho các trung đội. Kế hoạch là trung đội tiền tiêu bắt đầu rút trước và băng qua vị trí đại đội khoảng 100m thì dừng lại, bố trí yểm trợ cho đại đội rút. Cứ thế rút theo đội hình nấc thang. Một trung đội được lệnh nằm lại chịu rút sau cùng, cho kéo sẵn hết mấy ống M72. Trước khi rút sẽ phóng hết số M72 đó về phía bọn Việt Cộng bám theo, cũng như có bao nhiêu mìn Claymore giăng ngoài tuyến đều bấm cho nổ hết.
 
Đúng theo kế hoạch, khi những hầm hố vừa được phá bỏ, trung đội tiền tiêu cho một tiểu đội chịu lại, phóng những trái M72 về phía địch, bấm những trái mìn dây căng sẵn ngoài tuyến rồi vừa nổ súng cá nhân vừa rút. Bọn Việt Cộng quả thật bám sát và canh phòng chúng tôi rất kỹ. Thấy chúng tôi bắt đầu loay hoay phá hủy hầm hố, chúng đoán ngay chúng tôi đang chuẩn bị rút. Đang chuyển vũ khí đạn dược, chúng cho lệnh bám sát đuổi theo. Những trái đạn cối 82, 61 ly bắt đầu rót vào vị trí chúng tôi. Một trái rớt ngay trên nắp cái hầm BC đại đội mà lính tôi vừa mới phá. Trái đạn trúng một khúc cao su, nổ tạt miểng về phía bên kia. Một làn hơi nóng rát, phả trùm vào mặt tôi. Cái sức ép của thuốc nổ đẩy tôi ngã ngửa xuống mặt đất. Loạng choạng mất vài giây, tôi lồm cồm đứng dậy. Không có thì giờ để quan sát thêm, chỉ biết là mình may mắn vì dù trái cối nổ sát cạnh nhưng tôi lại ở phía sau tầm sát hại. Những cái miểng cối khi nổ đều bắn về phía trước. Tôi chỉ bị sức dội và hơi nóng đẩy té xuống đất mà thôi. Trung đội tiền tiêu đã rút qua khỏi vị trí đại đội. Những tiếng hô xung phong vang dội khắp khu rừng cao su. Nhưng tiếng đạn bay chíu chíu trên không hay chạm vào lá cây cao su phát ra những âm thanh tạch tạch. Những trái B40, B41 chạm vào những thân cao su bùng ra những tiếng nổ ầm ầm kèm theo những cuộn khói đen khiến khung cảnh rút quân như lẫn trong hỗn loạn.
 
Trung đội nằm chịu lại bắt đầu phóng ra những trái M72 dương sẵn về hướng bọn giặc đang nhào tới. Những con cóc mìn được bóp khai hỏa, những tiếng Claymore nổ vang dội, những bóng người đổ xuống. Những bóng đen khác vẫn cứ tràn lên, những tràng đại liên M60, những trái M79, những loạt đạn M16 đồng loạt vang lên. Trước hỏa lực quá khủng khiếp, bọn người đang truy đuổi phải khựng lại, nằm bẹp sát mặt đất. Lợi dụng cơ hội này, trung đội sau cùng nhớm lên và rút thật lẹ theo hướng ra QL13. Phía sau không xa, toán đi trước cũng đã cho người nằm lại để yểm trợ cho trung đội cuối cùng này rút qua mặt. Chúng tôi cứ thế kéo ra tới đường nhựa của QL13. Gần tới quốc lộ bọn Việt Cộng không còn bám theo nữa. Chỉ có những trái cối pháo theo hú họa. Chúng tôi kiểm điểm lại, thật là may mắn, chỉ có một Hạ sĩ bị thương ở cánh tay do miểng đạn súng cối. Phần đám Việt Cộng, có lẽ qua đợt truy kích vừa rồi số tổn thất của chúng không phải là nhỏ. Chúng đã phạm một lỗi lầm lớn. Chúng ép chúng tôi vào con đường tìm đường sống qua kẽ chết. Bằng mọi giá chúng tôi phải vùng lên, phải liều. Chúng tôi liều có kế hoạch, đúng bài bản và nhất là trong tinh thần kỷ luật cao độ. Nhờ đó chúng tôi rút lui an toàn. Những nguy hiểm kề cận đã khiến mọi người quên đi mọi mệt nhọc trên đường rút lui. Giờ có được bình yên, mọi người mới thấy đuối sức. Còn cả cây số nữa mới vào tới phạm vi tỉnh lỵ. Không ai bảo ai, mọi người đều hối hả rảo bước trên mặt đường quốc lộ.

Vừa qua khỏi lớp hàng rào chướng ngại vật ở cổng nam An Lộc, chúng tôi đã nghe thấy những tiếng hú của những trái đạn pháo đang rót vào thị xã. Bất kể ngày đêm, từ các hướng bắc, tây bắc, tây... chúng bắn vào đây đủ loại đạn đại bác 130 ly, hỏa tiễn 122 ly... Chúng thỉnh thoảng chêm vào những trái đạn xuyên phá hầm. Loại đạn này chạm mục tiêu không nổ. Với sức xoáy của trái đạn được phóng từ một khoảng cách xa cả vài chục cây số, tới mục tiêu, chạm mặt đất chúng khoét những hố sâu hoắm. Khó có hầm hố nào chịu nổi mà không sập nếu những trái đạn loại này rớt ngay hoặc gần sát. Lúc đầu, chúng tôi ngồi trong hầm nghe tiếng đạn rớt và cảm thấy đất rung chuyển nhưng không có tiếng nổ, chúng tôi tưởng đạn lép. Đến khi thấy sự tác hại của chúng mới hiểu ra.
 
Vào được tới nơi an toàn, không đợi lệnh lạc, cả đám lính cởi ba-lô, bỏ súng đạn một bên nằm dài trên mặt đất thở dốc để lấy lại sức, mặc cho những trái đạn pháo muốn hú, muốn rơi chỗ nào cũng mặc. Họ quá mệt, không còn sức để né tránh nữa. Mặc cho lính tráng nghỉ ngơi một lúc, Đạt liên lạc với tiểu đoàn rồi cho lệnh di chuyển đến vị trí đóng quân. Trung đội đầu rẽ trái, cặp theo sân vận động thị xã đi về hướng tây. Cả đại đội đang hàng dọc cất bước, một tiếng bung binh từ xa vang lên. Chỉ chốc lát, tiếng trái đạn pháo rít ngay trên đầu rồi chỉ kịp nghe xè... xè.. xẹt và tiếp theo là tiềng uỳnh vang dội cách hàng quân không đầy vài thước. Phản ứng tự nhiên, đám lính với ba-lô còn đang trên lưng, tay vẫn ôm súng, phóng vội ép sát thân mình vào mặt đất để tránh những miểng pháo đang văng ra tứ phía. Thì ra từ khi kéo về Bình Long tới giờ, chúng tôi mới chính thức nếm mùi pháo kích. Cả tuần lễ năm ngoài rừng cao su, chúng tôi chỉ nếm đạn pháo của súng cối mà thôi. Cứ thế đại đội lại tiếp tục di chuyển đến vị trí đóng quân. Chúng tôi được bố trí phòng thủ một phần của mặt nam của thị xã, cách cổng nam chừng hơn trăm thước và trải dài về hướng tây, bắt tay với đại đội 8 tại đồn Cảnh sát Dã chiến của tỉnh. Trước mặt chúng tôi là con lộ đá chạy dài về hướng tây dẫn vào căn cứ Lam Sơn, nơi đặt BCH/TĐ. Phía ngoài con lộ trải đá là những lớp hàng rào kẽm gai, những lớp concertina rải bùng nhùng xen lẫn bên trên, bên dưới là những trái mìn gài đủ loại: chống người, chống chiến xa... Ngoài nữa là một giao thông hào khá rộng và sâu được xe công binh đào từ lâu nên cỏ mọc um tùm che kín những chướng ngại vật dưới đáy, mìn bẫy v.v... nhằm ngăn chận chiến xa địch thâm nhập vào thị xã. Bên kia cái giao thông hào là một khoảng đất trống chừng vài trăm thước, trước kia đã được khai quang để các đơn vị phòng thủ bên trong có thể quan sát dễ dàng mọi sự tiến quân của địch vào thị xã. Ngoài cái vùng đất trống đã bị khai quang đó là rừng cao su bạt ngàn của đồn điền Xa Cam mà đại đội tôi vừa từ đó rút về đây. Khu đóng quân của chúng tôi thuộc phạm vi quân sự nằm cạnh đồn Cảnh sát Dã chiến nên không có dân cư ngụ. Đạt cho lính đào hầm hố dài và sát theo con lộ trải đá. BC đại đội đóng phía sau một căn nhà, có lẽ là của gia đình mấy anh cảnh sát đồn bên cạnh. Họ đã bỏ đi đâu và hồi nào không biết. Bên hông nhà có một giếng nước khá sâu nhưng lúc nào cũng có nước. Cả đại đội cảm thấy thật hạnh phúc vì không phải đi xa lấy nước, nhất là trong hoản cảnh này. Thấy phía sau bức tường nhà có sẵn một cái hầm nên chúng tôi chọn để đặt BC đại đội. Mấy tên đệ tử chỉ cần kiếm thêm ít cây đà gỗ và một số vật dụng lượm lặt dựng phía bên trên là chúng tôi có một cái hầm với hai lớp nóc khá vững chắc. Nó đã giúp chúng tôi, cả gần chục mạng chui xuống, ép sát vào nhau để thoát qua nhiều đợt pháo dữ dội. Cũng may, đã không có trái nào rơi đúng miệng hầm! Chúng tôi đã giữ vị trí này cho tới rạng sáng 14 tháng 4 năm 1972.
 
Trong suốt thời gian hơn một tháng trời tại đây, bọn Việt Cộng từ ngoài khu rừng cao su thường dùng dàn thun bắn những trái lựu đạn mini, khi thì lựu đạn nổ, khi thì lựu đạn hơi cay hoặc câu vào những trái B40, B41 thậm chí cả M79 nữa vào phòng tuyến chúng tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng trả lễ bằng những tràng đại liên M60, những trái M79. Tuyệt nhiên không một phát súng cá nhân AK hay M16. Súng cá nhân trong tình huống này gần như vô hiệu quả nên cả hai bên đều không xài tới. Một buổi sáng sớm, Đạt cầm cái xẻng ra phía sau nhà làm chuyện vệ sinh, từ ngoài rừng cao su, bọn Vẹm phóng vào một quả M79. Sau tiếng nổ, tôi thấy Đạt chạy vào, từ trên miệng hầm thò mặt vào nói với tôi:

- Tao bị thương rồi.

Chỉ có thế. Tôi chưa kịp nhìn và hỏi thăm xem vết thương thế nào thì Đạt đã khuất dạng. Nửa tiếng sau, TĐ trưởng gọi máy xuống muốn gặp ĐĐ trưởng. Tôi báo cáo sự việc Đạt bị thương. Cuối cùng thì tiểu đoàn cũng được tin Đạt đã chạy ra cổng nam và leo lên trực thăng tản thương về Lai Khê rồi. Tôi được lệnh xử lý chức vụ ĐĐ trưởng.
 
Vì pháo binh ta không thể xử dụng, mọi yểm trợ cho bộ binh của ta đều nhờ vào không quân. Từ những phi vụ thả dù tiếp tế, trực thăng tản thương đến máy bay C123, C130 hàng đêm rải đại bác 105 ly, bắn M79 vào những vị trí nghi ngờ có địch, B52 thả bom cỡ nhỏ, những phản lực cơ oanh tạc từ Hạm đội Hoa Kỳ ngoài khơi bay vào, những phi tuần A37, Skyraiders của Không quân Việt Nam... tất cả đã tỏ ra rất hữu hiệu giúp quân ta giữ vững tinh thần chiến đấu và cuối cùng đã bẻ gãy mọi đợt tấn công của chúng vào thị xã An Lộc.
 
Chỉ trong vòng 3 tháng từ khi bọn Việt Cộng mở màn cuộc tấn công vào tỉnh lỵ nhỏ bé này, không một mái nhà nào trong thị trấn này còn nguyên vẹn. Số lượng đạn chúng pháo vào An Lộc không biết bao nhiêu mà kể. Nội trong đêm 13/4/1972, chúng bắt đầu pháo từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, 12 tiếng liên tục, hơn 10.000 trái đạn!
 
Trong lúc mọi người gần như ù tai vì những tiếng nổ của đủ loại đạn pháo thì chúng cho chiến xa T54, PT76 ồ ạt băng giao thông hào, ủi sập các chướng ngại vật, cán qua hàng rào phòng thủ tràn vào tỉnh lỵ. Khi nghe tiếng động cơ gầm rú, tiếng xích xe cán rầm rập trên con lộ đá, tôi leo ra khỏi hầm để quan sát. Chỉ có mấy chiếc xe tăng đang chạy về hướng chúng tôi trên con lộ đá từ hướng tây, không thấy bóng một tên bộ đội nào phía sau cả. Tôi bốc máy ra lệnh cho các trung đội cho con cái ra khỏi hầm hố, tìm cách bám theo và tiêu diệt xe tăng. Loại súng duy nhất có thể xử dụng là những ống phóng M72 mà chúng tôi thường dùng để phá hầm, phá công sự phòng thủ. Chả biết chúng có công hiệu để diệt xe tăng với lớp thép dày hay không nữa. Tình thế khẩn cấp trước mắt, không còn cách nào khác hơn. Chiếc T54 đang lù lù tiến sát, nó cán sập một căn hầm mà lính đại đội vừa ra khỏi. Một anh lính bạo dạn kéo ống M72 nhắm pháo tháp bóp cò. Một tiếng nổ lớn, một luồng khói trắng tuôn ra đằng sau ống phóng, trái đạn bay về phía trước chạm một bên cái pháo tháp rồi bay mất tiêu! Cái xe không xuy xuyển vẫn tiếp tục ủi tới. Vì không có bộ đội tùng thiết, mấy tên trên xe tăng núp kín trong thùng xe không thấy ló mặt ra ngoài. Một anh lính khác, kéo cây M72 chạy vòng qua hông nhắm vào bánh xích bóp cò. Lại một tiếng nổ vang dội. Chiếc T54 khựng lại một chút rồi chồm lên lao mạnh về phía trước ủi sập bức tường nhà mà phía sau là cái hầm của BC đại đội. Cái nòng dài của khẩu đại bác 100 ly trên pháo tháp xuyên thủng qua lớp tường bên kia gác cái nòng dài trên nóc cái hầm mà tôi vừa leo lên chưa được bao lâu. Chiếc xe tăng nằm kẹt tại chỗ nhưng tiếng máy càng rú dữ tợn hơn. Coi bộ M72 không phải là vũ khí diệt tăng hiệu quả. Một anh lính khác lợi dụng xe đang kẹt, leo lên tận pháo tháp đang tìm chỗ trống thẩy lựu đạn vào thì thình lình nắp pháo tháp có tiếng lịch kịch từ bên trong. Anh lính né sang một bên, chĩa súng và quan sát chờ đợi. Cái nắp pháo tháo được từ từ nâng lên từ bên trong. Hai bàn tay rồi cánh tay, cái đầu và cuối cùng một anh bộ đội run rẩy chui lên khỏi lòng xe. Anh ta cho biết còn một tên nữa. Sau đó tên này cũng leo ra khỏi xe. Cả hai tên bộ đội còn rất trẻ, chưa tới 20, người trắng trẻo nhưng nước da tái xanh. Chúng cho biết đúng ra tổ xe tăng có 3 người tất cả. Tên thứ ba mới bị miểng bom A37 của ta thả trúng thiệt mạng cách đây vài hôm. Chúng chưa được bổ xung vì quân số thiếu hụt. Qua tìm hiểu, chúng tôi mới biết thiết kế trên xe tăng của chúng hoàn toàn trái ngược với ta. Bàn đạp ga khi buông ra có nghĩa là cho xe chạy tốc độ mạnh nhất. Hèn chi, khi trái M72 bắn vào hông chiếc T54, chúng ngồi trong thùng xe, tuy không xây xát nhưng sức nổ gây chấn động mạnh làm cả hai ngất xỉu. Vì thế tên lái xe không còn điều khiển được chân ga nên cái xe cứ thế nhào về phía trước. Nó chỉ dừng lại khi chạm vào bức tường nhà. Một trung đội khác, gọi máy báo về, đã diệt được một T54 khác. Chiếc này đang loay hoay bò lên từ cái giao thông hào chống chiến xa ngay phía trước tuyến phòng thủ đại đội tôi. Cái hào khá sâu nên khi leo lên được khỏi thì chường ngay cái bụng lên trên không. Chưa kịp hạ bánh xích bám lên mặt con lộ đá nó đã lãnh nguyên hai trái M72, lật ngược về phía sau rớt xuống nằm gọn dưới đáy giao thông hào. Đợt tiến công bằng xe tăng của Việt Cộng vào tuyến của tiểu đoàn tôi đã bị bẻ gãy.

Sau khi báo cáo kết quả trận đánh về tiểu đoàn tôi xin Ban 2 cho người xuống dẫn độ 2 tên tù binh đi. Cũng qua hệ thống liên lạc truyền tin, có một tin không vui. Tiểu đoàn bạn bên cánh phải, TĐ3/7, vì địa thế phòng thủ ở hướng tây không mấy thuận lợi, đã bị tràn ngập bởi chiến xa Việt Cộng và coi như tan hàng vì mất liên lạc hoàn toàn. Thật bàng hoàng. Người bạn cùng khóa với tôi, Tôn Thất Nguyện, và Niên trưởng Lê Bắc Việt, người tôi từng ngưỡng mộ lúc mới ra trường bây giờ ra sao? Còn sống hay đã chết? Đành rằng, với những người lính ở đơn vị tác chiến như chúng tôi, chuyện chết chóc làm sao tránh khỏi. Nhưng việc xảy ra quá đột ngột. Cùng một lúc mất đi hai người đồng đội, hai người anh em đồng môn quả thật không thể không đau đớn, xót xa.
 
Sau khi kiểm tra lại phòng tuyến, tôi chỉ cho các trung đội trưởng những việc cần chỉnh đốn lại. Ăn cơm trưa vừa xong có lệnh gọi tôi về tiểu đoàn họp. Thường thì với tình hình pháo kích liên tục ở đây, ít khi tiểu đoàn kêu các ĐĐ trưởng về họp. Chắc hẳn đây là chuyện quan trọng. Cũng có thể vì bảo mật. Qua việc TĐ3/7 tan hàng, một số máy móc truyền tin có thể đã bị địch lấy dùng để theo dõi mọi điều động vô tuyến của ta không chừng. Đúng như tôi dự đoán, tiểu đoàn gọi các ĐĐ trưởng về họp để trao tận tay một bản đặc lệnh truyền tin mới. Tất cả tần số, danh xưng của các đơn vị đều thay đổi. Một đại đội sẽ được chỉ định đi trám lại phòng tuyến bị chọc thủng tối qua của TĐ3/7 cùng với một số đơn vị bạn nữa. Không đợi tiểu đoàn cắt cử, tôi xin tình nguyện. Tôi thừa hiểu đây là một nhiệm vụ khá khó khăn. Chúng tôi sẽ phải luồn lách thật cẩn thận qua những khu nhà đổ nát, mò lên vị trí gần nhất nơi bọn Việt Cộng vừa lấn chiếm tối qua, trụ lại chận không cho chúng tiến thêm nữa. Chỉ cần vượt qua chừng hai con phố chúng sẽ áp sát bức tường rào phòng thủ của Tòa Hành Chánh tỉnh, mà căn hầm dưới nền nhà là nơi đặt bản doanh của BTL/SĐ.

Tôi tình nguyện vì nóng lòng muốn tìm xem tông tích hai người bạn đồng môn ra sao. Cách tốt nhất là đến tận chỗ và đây là cơ hội. Nguy hiểm đang chờ đợi phía trước là chuyện tất nhiên. Nhưng tại thành phố chiến tranh này, chả có chỗ nào là an toàn cả. Khoác lên người bộ quân phục, về đơn vị tác chiến, là sĩ quan hiện dịch, tôi đã chấp nhận cái chết có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Chúng tôi sẽ bất chấp tất cả một khi bạn bè, đồng đội thân thương của mình đang gặp khó khăn phía trước.
 
Tôi trở về vị trí đóng quân của đại đội. Cho mời các trung đội trưởng vào họp, trao cho họ xấp đặc lệnh truyền tin mới, tôi truyền đạt những việc phải chuẩn bị cho một cuộc chuyển quân sắp bắt đầu. Xong xuôi, đúng 3:00 chiều ngày 14/4/1972, chúng tôi bắt đầu xuất phát.
 
Trung đội đầu ngược lên hướng bắc, luồn qua mấy dãy nhà đổ nát ra tới rìa sân vận động tỉnh thì rẽ trái. Băng qua một khu phố nhà cửa đổ nát, không một bóng người, rồi vượt qua một con lộ nhỏ, chúng tôi nhìn thấy căn nhà hai tầng của Tòa Hành Chánh tỉnh. Men theo hông trái của vòng đai bên ngoài, chúng tôi bọc về phía sau lưng Tòa Hành Chánh. Tôi ra lệnh cho hai trung đội đầu căng hàng ngang bắt đầu lục soát từng căn nhà đổ nát để từ từ tiến về phía trước, hướng tây. Mục tiêu của chúng tôi là Ty Chiêu Hồi tỉnh. Chờ cho hai trung đội này khuất hẳn trong khu nhà đổ nát, tôi kéo BC đại đội băng qua con đường tiến vào một khoảng sân trống phía sau một căn nhà nóc đã bay mất chỉ còn trơ lại mấy vách tường nửa vời, cố đứng gượng chịu lại sức tàn phá của đạn pháo. Những trái pháo của địch vẫn cứ thỉnh thoảng giã gạo. Chúng rớt đâu đó thây kệ. Chỉ khi nào chúng tôi nghe tiếng xè xè nghĩa là chúng sắp rơi sát cận kề, chúng tôi mới nhào nằm né tránh miểng mà thôi. Đưa cái ống nhòm đeo trên cổ lên mắt, tôi ló đầu qua khỏi bức tường đổ lưng chừng cố quan sát thật xa về hướng tiến quân. Không quá 200m, chỉ cách chỗ tôi đừng độ chừng vài khu phố, tôi phát hiện một cái nòng đại bác của chiếc T54 ló ra phía ngoài của bức tường nhà. Chiếc xe tăng ẩn kỹ sau căn nhà nhưng cái nòng súng thì quá dài nên không thể dấu hết. Tôi bốc máy hỏi vị trí hai trung đội. Họ lần lượt báo đang tiến lên nhưng rất chậm vì phát hiện có bóng dáng địch lố nhố phía trước không xa và có cả xe tăng nữa. Tôi hạ lệnh, bằng mọi cách, trước 5:00 giờ chiều phải lên đến vị trí ấn định gần địch nhất có thể. Nhà binh, hai tiếng “Hạ lệnh” nghe rất đơn giản dễ dàng. Trên thực tế, thi hành lệnh không phải dễ mà ra lệnh lại càng khó hơn. Ra lệnh mà không nắm chắc tình hình, không cân nhắc tính toán thì cầm chắc đưa quân vào chỗ chết. Thi hành lệnh là nhiều khi biết cái chết đang chờ đợi phía trước vẫn phải lao mình tiến tới. Tôi ra lệnh bằng mọi cách phải đến được vị trí đóng quân gần địch nhất trước 5:00 giờ chiều để còn kịp đào hầm hố tránh pháo cũng như có vị trí chiến đấu tốt để trụ lại chống trả nếu địch tấn công bất thần. Nếu không có vị trí vững chắc để trụ lại, để làm điểm tựa cho cuộc phản công sẽ diễn ra vào sáng ngày mai thì coi như nhiệm vụ của đại đội tôi coi như cầm chắc thất bại. Tôi đang nóng lòng tiến lên phía trước hầu có được phần nào tin tức về hai người anh em cùng trường đang lặng tiếng im hơi. Bằng mọi giá phải dành lại phần đất đã lọt vào tay địch. Phần BC đại đội, tôi lựa một căn nhà có một căn hầm của dân đào sẵn từ trước, cho mấy chú đệ tử chỉnh đốn thêm một lớp hầm nổi bên trên nóc nữa để phòng xa. Căn hầm không rộng lắm, chỉ đủ chỗ cho tôi trải tấm Poncho làm chỗ nằm qua đêm. Anh lính mang đồ cho tôi, một lao công đào binh, vóc dáng khỏe mạnh vừa được phục hồi và bổ xung về đại đội ít ngày trước cuộc hành quân bắt đầu, ngồi bó gối dựa vách tường ngủ vì không đủ chỗ duỗi chân. Bên cạnh, cũng ngủ ngồi là một anh lính truyền tin dự phòng thứ ba. Hai âm thoại viên chính, căng hai cái võng sát nóc hầm ngay phía trên chỗ tôi nằm. Hai cái máy PRC25 đặt dưới đất cạnh chỗ tôi nằm để tiện cho tôi khi cần liên lạc.
 
Trung đội vũ khí nặng, toán Quân Báo và mấy y tá đại đội tìm những căn nhà kế cận làm hầm hố trú ẩn qua đêm. Trung đội còn lại là lực lượng trừ bị đóng ở khu phố phía sau không xa BC đại đội bao nhiêu.
 
Sau khi các trung đội báo cáo đã ổn định vị trí, tôi dặn dò các trung đội trưởng phải đích thân kiểm soát lại vì trong tình thế này, tôi không thể làm được chuyện đó. Hồi trưa, trước khi chuyển quân, tôi đã cho lệnh nấu nướng sẵn. Bây giờ chỉ có ăn chứ không được nổi khói lửa vì sẽ lộ vị trí. Xong xuôi, tôi chấm tọa độ các vị trí đóng quân và gửi về ban 3 tiểu đoàn. Qua một ngày đầy căng thẳng mệt nhọc, tôi đặt lưng trên tấm poncho và thiếp vào giấc ngủ lúc nào không biết mặc cho tiếng xè xè, khẹt khẹt từ hai cái máy truyền tin bên cạnh cứ liên tục phát ra, mặc cho những trái đại pháo 130 hay hỏa tiễn 122 ly cứ thỉnh thoảng bay hú trên vòm trời và chạm nổ đâu đó trong thị xã.
 
Khoảng 5:00 giờ sáng, một tiếng nổ long trời ngay trên nóc hầm khiến tôi giật mình thức dậy. Hai cái thân người trên hai cái võng rớt gần như cùng một lúc xuống hai bên đùi tôi. Hai anh lính âm thoại viên lồm cồm ngồi dậy, không nói một câu, bò lẹ ra khỏi hầm. Trong bóng đêm còn mù mịt, tôi vẫn cảm giác được mùi thuốc nổ lẫn với cát bụi đang lùa vào mũi, vào họng tôi qua mọi kẽ hở. Tôi ngồi dậy, cố định thần xem chuyện gì đã xảy ra thì từ bên trái, tiếng anh lính mang đồ cho tôi vang lên, trong rên rỉ đau đớn:

- Tôi bị thương rồi ông thầy ơi!
Phản ứng tự nhiên, tôi buột miệng:
- Cố gắng chịu đựng một chút, để tao tính cho.

Một cảm giác ê ê, không đau lắm xuất phát từ bàn chân trái của tôi. “Chết mẹ, không lý mình bị thương?”. Đầu thì suy nghĩ trong khi tôi đưa bàn tay phải lần xuống chỗ có cái cảm giác ê ê nhoi nhói đó. Bàn tay tôi rờ thấy cái vớ nhà binh tôi mang trong khi ngủ đã bay mất một mảng. Những ngón tay tôi đang lướt qua những phần thịt bầy nhầy của gót chân bên trái lẫn trong dòng máu đang ứa tuôn ra. Một làn hơi lạnh từ gáy tôi chạy dài xuống sống lưng. “Tiêu rồi”. Bị thương chân trong cuộc chiến này sẽ không khá nổi. Không thuốc men cầm máu, không trụ sinh, khó tranh dành lên máy bay tản thương được...Nhiều anh lính đã phải cưa chân vài lần vì nhiễm trùng. Nhưng thôi, dẹp qua cái ý nghĩ đó trong lúc này. Bình tĩnh lại, tôi rà lại khắp thân mình từ trên xuống, không có chỗ nào khác đau đớn nữa. Chỉ có cái gót chân trái mà thôi. Tôi với chiếc giầy vải Mỹ thọc bàn chân phải vào. Khoác cái áo giáp vào người và đội chiếc nón sắt lên đầu xong, tôi mò cái giây ba chạc, mở bao súng lấy khẩu Colt 45 nhét vào bụng. Tôi cũng không quên lấy cái túi có cái mặt nạ phòng hơi độc choàng vào cổ. Xong xuôi, quay sang phía anh lính, lúc này coi bộ cơn đau hành hạ không chịu nổi nên tiếng rên la càng lúc càng bi thảm hơn, tôi dặn:
 
- Mày ngồi yên đây, tao bò sang hầm y tá kêu tụi nó qua băng bó cho mày. Cố gắng lên nghe.
 
Nói xong tôi định chống tay bò ra khỏi hầm. Không biết nghĩ sao, tôi lại tiếc chiếc giày còn lại. Chân trái bị thương, không thể mang giày nhưng bỏ thì phí quá. Tôi bèn xỏ bàn tay trái vào trong chiếc giày còn lại và từ từ bò ra phía cửa hầm.
 
Ra tới miệng hầm, một tay tôi rướn lên bám vào thanh đà gỗ trên nóc và kéo người đứng dậy. Đưa mắt quan sát chung quanh, trên nắp hầm, xác anh hạ sĩ gác nằm chết gục tại chỗ máu đổ thành vũng quanh phần cổ đã bị miểng pháo chém đứt lìa. Cái đầu không biết đã bị thổi văng mất nơi đâu. Nhìn lên bức tường nhà, tôi nhận định được, trái pháo rớt ngay bức tường, phá bay phần trên, những cái miểng vì thế tạt ngược lại xuống phía miệng hầm. Anh Hạ sĩ ngồi gác trên nóc hầm lãnh đủ chết tại chỗ. Những cái miểng còn lại chia nhau chui sâu xuống hầm. Hai cái miểng chém ngọt đứt hai sợi dây võng của hai anh truyền tin khiến họ rớt trên người tôi làm họ hoảng hồn bỏ chạy mất tiêu sau đó. Anh lính phụ máy không biết có bị gì không mà không thấy tăm dạng. Một cái miểng đã làm anh lính mang đồ cho tôi đang rên rỉ trong căn hầm. Phần tôi thì cái gót chân trái đang nát bấy. Quan sát tìm hiểu cũng đã đủ, tôi nhắm hướng hầm mấy tên y tá bò tới. Chưa đầy vài phút tôi đã tới miệng hầm. Một y tá đại đội vừa ngó thấy bóng tôi liền lật đật chạy tới đỡ tôi đứng dậy dìu vào trong hầm. Cái lưng tôi vừa lọt qua khỏi cửa hầm thì hai tiếng “Vu..u..út”, “Uỳnh” kế tiếp nhau rất nhanh. Cái bức tường nhà đổ ập xuống phía sau lưng tôi lấp kín miệng hầm. Chờ cho cát bụi lắng xuống, hai anh lính y tá rọi đèn pin và lau chùi cái chân và bắt đầu băng bó cho tôi.
 
Trái đạn pháo vừa rồi chắc chắn là đạn đại bác 100 ly từ pháo tháp T54 bắn tới. Từ khi khai hỏa đến khi nổ rất nhanh. Chúng cách chúng tôi rất gần và có lẽ chúng đã quan sát được vị trí khi chúng tôi bò lên chiều hôm qua. Bây giờ bị nhốt trong căn hầm, tôi không có cách gì liên lạc được với tiểu đoàn, thậm chí với các trung đội của mình. Hai cái máy truyền tin PRC25 đang nằm gọn trong căn hầm BC đại đội.
 
Mãi tới 8:00 giờ sáng, một toán tiếp cứu đã tìm tới, moi miệng hầm và đem chúng tôi ra. Tiểu đoàn khi mất liên lạc với tôi đã qua tần số nhỏ liên lạc với các trung đội. Ngoại trừ cái hầm BC đại đội bị trúng đạn, các trung đội còn lại vẫn yên ổn. Tiểu đoàn cử một sĩ quan khác thay tôi coi đại đội. Cuộc phản công vẫn tiếp tục. Tôi không còn cơ hội để tìm ra dấu vết hai người bạn cùng trường kể từ đó. Tôi là người duy nhất gần gũi họ, dám làm tất cả vì họ nhưng bây giờ thì đành bất lực.
 
Hai người lính thay phiên cõng tôi về phía Tòa Hành Chính tỉnh lỵ. Tới chân bức tường gạch mà phía bên trên chồng lên mấy lớp concertina. Họ bồng tôi lên cao và đẩy dưới mông tôi, cố nâng tôi cao ngang lớp hàng rào. Phía trong có mấy người y tá TĐ5 Quân Y đang đợi sẵn. Chuyển tôi vào bằng cách này là gần nhất không phải đi một vòng xa qua cổng phía trước. Cũng nhờ chiếc giày còn lại trong tay, tôi dùng nó ép cái vòng concertina bùng nhùng và lăn qua với sự trợ giúp của hai anh lính tản thương. Thân mình tôi vừa ngả qua được phía bên kia hàng rào thì hai anh y tá TĐ5QY đã đỡ gọn và bồng tôi xuống rồi khiêng vào bên trong tòa nhà đặt tôi nằm dài trên mặt đất. Vào đến đây, tôi đã thấy anh lính mang đồ đang ngồi dựa lưng vào tường nhà miệng luôn rên rỉ. Y chang cái vị thế ngồi trong căn hầm hồi hôm. Bây giờ tôi mới có dịp quan sát kỹ thương tích của hắn. Cái chân trái đã bị tiện đứt ngang bắp đùi. Chân phải cũng vậy nhưng phần chân còn lại chưa lìa khỏi vì còn sợi gân giữ lại. Vài phút sau, Đại úy Hùng, Y sĩ TĐ trưởng QY, đi lên từ căn hầm phía dưới. Ông ta lại ngay chỗ anh lính đang rên la, hỏi han gì đó. Nghe hắn trả lời mót tiểu quá mà đi không được. Từ phía sau lưng, tôi chỉ thấy ông bác sĩ lắc đầu nhè nhẹ, không làm gì thêm, ông quay lại phía tôi. Chỉ vài phút sau hắn nấc lên vài tiếng và trút hơi thở cuối cùng. Ông bác sĩ tháo lớp băng tên y tá đại đội băng tạm cho tôi, lấy lọ thuốc sát trùng dội lên vết thương rồi bảo người phụ tá đưa cho ông kim chỉ. Giờ đây chỗ vết thương càng lúc càng nhức nhối, khó chịu kinh khủng. Cái nhức buốt từ trong xương thốn ra tới ngoài da thịt. Cái miểng pháo xuyên từ gót chân, trổ xéo qua kẽ hở giữa bàn chân và mắt cá. Còn may. Nếu nó xuyên bể cái mắt cá chân thì chắc chắn cái bàn chân tôi phải cưa bỏ. Phần thịt xương chỗ gót chân tôi bể vụn nát bấy. Ông bác sĩ cứ thế dùng kim chỉ khâu, kéo những miếng da bên ngoài bao lại phần thịt nát bầy nhầy bên trong. Phải dùng danh từ “khâu sống” ở đây cho đúng nghĩa. Khâu không có thuốc tê, thuốc mê gì cả. Làm gì có được những thứ xa xỉ ấy nơi chiến trường sôi động này. Ngay cả thuốc cầm máu cũng không. Tôi chỉ biết dương mắt nhìn vết thương dưới chân tiếp tục rỉ máu.
 
Tôi cảm giác được mũi kim xuyên qua lớp da kéo theo sợi chỉ, nhưng đau đớn thì không hề, bởi vì cái đau nhức từ xương tủy lan ra còn hơn gấp bội. Sau tôi còn hai sĩ quan nữa cùng tiểu đoàn bị thương nhẹ hơn tôi một chút. Ông bác sĩ Quân y cũng băng bó cho họ xong xuôi và rút lại xuống hầm, bản doanh của Bộ Tư Lệnh SĐ.
 
Kể từ giờ phút này tôi trở thành bất khiển dụng. Tiểu đoàn cho một anh lính, tên Bốn, vào chăm sóc chung cho ba ông sĩ quan thương binh. Phải nói anh lính này rất chịu khó. Anh ta xông xáo đào cho chúng tôi một cái hầm có nắp đàng hoàng ngay trên cái sân cạnh tòa nhà. Anh gỡ những khung cửa sổ, tìm khuân về những khúc gỗ làm thành cái hầm khá chắc chắn. Hai cái võng được giăng phía trên cho tôi và Liêm, một Thiếu úy của đại đội 6. Một Chuẩn úy (lâu ngày tôi đã quên tên) và Bốn trải poncho nằm dưới đất.
 
Ba ngày đêm liền vết thương của tôi tiếp tục rỉ máu vì không có thuốc cầm. Nằm trên võng, Bốn làm cho tôi một cái đai chỉ huyết ngay bắp đùi. Chừng 10, 15 phút, tôi lại nới ra cho máu có thể lưu thông xuống dưới bàn chân. Một lúc sau, tôi lại thò tay xuống khều khều Bốn ngồi dậy cột lại cho tôi.

Đúng ba ngày sau, vết thương mới hết rỉ máu.
Tôi phải chịu đựng thêm cả tháng trời nữa ở đây. Tôi mang ơn anh lính tên Bốn vì anh đã chạy ra tận bãi thả dù tiếp tế, không dành thuốc lá, không dành đồ ăn mà chờ mọi người đi hết, anh moi tìm nhưng ống trụ sinh về chích cho tôi. Nhiều lần nghe tin có trực thăng tản thương, anh cõng tôi ra bãi đáp ngoài cổng Xa Cam. Có khi đang đi nửa chừng thì bị pháo, anh quẳng tôi xuống và hai thầy trò chỉ biết nằm ngửa nhìn trời ngóng chờ định mạng. Cũng có khi ra được tới bãi đáp thì anh không còn đủ sức cõng tôi chạy đua với những thương binh có cặp giò khỏe mạnh.

Khoảng cuối tháng 5/72, quân dù đã vào được thành phố và phe ta đã phản công lại đẩy vòng vây địch ra xa ngoài phạm vi thị xã. Nghe tin TT Thiệu sẽ đáp xuống An Lộc để ủy lạo binh sĩ, BTL/SĐ cho cắt một toán QC làm an ninh bãi đáp. Tôi được ưu tiên ra cổng tản thương. Bốn cõng tôi đến tận chiếc trực thăng tản thương. Tay tôi chạm vào cái sàn máy bay, một cảm giác mát lạnh chưa hề có trong đời. Tôi sắp an toàn ra khỏi địa ngục khói lửa.
 
Điều u uất trong lòng mãi mãi vẫn là tin tức hai người bạn. Có thể họ đã hy sinh, có thể đã mất tích nghĩa là trong chiến tranh, chết không tìm được xác. Với cuộc chiến khốc liệt như vậy, điều này không thể tránh khỏi. Nếu tôi có may mắn hơn, không bị thương và giải tỏa được vị trí lấn chiếm của Việt Cộng, chưa chắc tôi đã có cơ may để tìm thấy vị trí chôn cất họ như có người từng nói. Cái giả thuyết họ bị bắt làm tù binh càng khó có thể chấp nhận. Biết bao sĩ quan cao cấp hơn như Đại tá Vĩnh, TRĐ trưởng TRĐ9 bị bắt tại Lộc Ninh còn được trao trả tù binh. Không lý hai sĩ quan cấp úy như Niên trưởng Việt và Nguyện lại bị chúng bắn bỏ! Nếu họ là tù binh chắc chắn họ đã trở về.
 
Câu hỏi của chị Kiều Trang có thể không ai trả lời được. Tôi, một trong những sĩ quan TRĐ7 còn sống sót sau trận Bình Long, lại là người có liên quan khá gần gũi với anh Việt, cũng không thể làm gì khác hơn để giải đáp cái thắc mắc này cho chị được. Thời gian đã trôi qua quá lâu. Câu chuyện đã trở thành quá khứ, gần như huyền thoại. Chúng ta hãy quên đi, hãy khép lại... Câu trả lời đang chờ đợi chúng ta ở phía trước. Chẳng còn bao lâu nữa đâu, chị ạ!

NT2 Đinh Hồng Lân.
Có một vài chi tiết trong bài của tác giả Giao Chỉ (có thể vì viết theo lời kể của chị Kiều Trang), tôi thấy không chính xác nên xin được nêu lên:
● Trận chiến Bình Long đã bắt đầu khởi sự từ đầu tháng 3/72, ngay sau khi Lộc Ninh thất thủ. Đến tháng 4/72 thì QL13 đã bị cắt đứt. Chị Kiều Trang không có cách nào đáp xe đò lên Bình Long được vào tháng 4/72.
● TĐ3/7 cùng với 2/7 từ biên giới Việt-Miên rút về phòng thủ An Lộc ngay. Không có chuyện TĐ3/7 về Lai Khê rồi lại bốc lên vì tình hình lúc đó rất khẩn cấp.
● Chị nói ở cùng với anh Việt 2 tháng trời, chịu pháo kích. Nếu chị lên An Lộc vào tháng 4/72 thì phải đến tháng 6/72 chị mới về tới Sàigòn. Xin hỏi chị về bằng cách nào vào tháng 6 khi mà lực lượng của ta các SĐ18, SĐ21, Dù... đang dồn nỗ lực giải tỏa QL13 cũng như nhẩy vào thành phố. Rồi chị vừa về tới Sàigòn thì anh Thiếu úy hậu cứ đến nhà báo tin anh Việt tử trận (tháng 6/72).
Như tôi mô tả, nếu quả thật Anh Lê Bắc Việt và Tôn Thất Nguyện đã hy sinh thì đó là vào đêm 13/4/1972 rạng sáng ngày 14/4/1972. Chuyện hậu cứ đến tháng 6 mới báo tin là vì thủ tục hành chánh, phải chờ kiểm kê tổn thất chắc chắn sau cùng.