Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Văn Học Nhạc sĩ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Nhạc sĩ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

In PDF.
Xem kết quả: / 4
Bình thườngTuyệt vời 

 




Nói đến nhạc sĩ Phạm Đình Chương là nói đến những dòng nhạc tình ca lãng mạn từ tiền chiến đến thời đại. Những nhạc phẩm do ông sáng tác hay phổ từ thơ. Là một tên tuổi lớn của nền tân nhạc Việt Nam . Nếu phải so sánh giữa Phạm Đình Chương với Phạm Duy, có lẽ hai người nhạc sĩ này “kẻ tám lạng người nửa cân”, chỉ có điều Phạm Đình Chương không sáng tác nhạc theo kiểu “tả pín lù” như Phạm Duy “sức mấy mà buồn”, “bỏ qua đi tám”, nhạc Việt hóa, nhạc tuyên truyền. Phạm Đình Chương ông chỉ có một con đường để đi, là chọn con đường vì văn học nghệ thuật.


Chúng ta thử điểm qua những sáng tác tiêu biểu của Phạm Đình Chương :


Nhạc sáng tác :


- Hội trùng dương, Ly rượu mừng, Tiếng dân chài, Anh đi chiến dịch, Bên trời phiêu lãng, Đất lành, Đêm cuối cùng, Đến trường, Định mệnh buồn, Đón xuân, Ra đi khi trời vừa sáng (viết với Phạm Duy), Đợi chờ (viết với Nhật Bằng), Được mùa, Hò leo núi, Khi cuộc tình đã chết, Khúc giao duyên, Kiếp Cuội già, Lá thư mùa xuân, Lá thư người chiến sĩ, Mỗi độ xuân về, Mười thương, Nhớ bạn tri âm, Sáng rừng, Ta ở trời tây, Thằng Cuội, Thuở ban đầu, Trăng mường Luông, Trăng rừng, Xóm đêm, Xuân tha hương…


Nhạc phổ thơ :


- Buồn đêm mưa (thơ Huy Cận), Cho một thành phố mất tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn), Nửa hồn thương đau, Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc , Đêm màu hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn, Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, Quê hương là người đó (thơ Du Tử Lê), Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Hạt bụi nào bay qua (thơ Thái Tú Hạp), Heo may tình cũ (thơ Cao Tiêu), Mắt buồn (thơ Lưu Trọng Lư, tặng Lệ Thu), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ).. Còn rất nhiều nhạc phẩm khác v.v…



Một chút tiểu sử :


Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 và qua đời vào năm 1991. Khi soạn nhạc ông ký là Phạm đình Chương, còn đi hát, chỉ trong ban hợp ca Thăng Long, ông có tên gọi ca sĩ Hoài Bắc. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là ông Phạm Đình Phụng..


Người vợ đầu của cha ông sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói.


Người vợ sau của cha ông tức mẹ ruột ông sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ của nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là ông tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh. Phạm Đình Chương được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn ông vẫn tự học là chính.


Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương tức Hoài Bắc cùng các anh chị em ruột hai dòng như Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, để từ đó mới thành tên ban hợp ca Thăng Long.


Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác âm nhạc vào năm 1947, khi mới 18 tuổi, nhưng phần nhiều nhạc phẩm của ông thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Các nhạc phẩm đầu tiên như Ra đi khi trời vừa sáng, Hò leo núi... có không khí hùng kháng, tươi trẻ.


Năm 1954 Phạm Đình Chương cùng gia đình chuyển vào miền Nam , rồi tái lập ban hợp ca Thăng Long để hoạt động. Thời kỳ này các sáng tác của ông thường mang âm hưởng miền Bắc như nói lên tâm trạng hoài hương của mình: Khúc giao duyên, Thằng Cuội, Được mùa, Tiếng dân chài...


Thời gian sau đó, ông viết nhiều bản nhạc nổi tiếng và vui tươi hơn : Xóm đêm, Đợi chờ, Ly rượu mừng, Đón xuân...
Sau khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá tâm can: Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu, Người đi qua đời tôi, Nửa hồn thương đau.


Có thể nói Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài hát bất hủ, có một sức sống riêng như Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội &thơ Hoàng Anh Tuấn), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)...


Phạm Đình Chương cũng đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam với một bản trường ca bất hủ Hội trùng dương viết về ba con sông Việt Nam: sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long. Sau 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại California , Hoa Kỳ. Ông mất 22/8/1991 tại California .



“Nửa hồn thương đau” còn là tâm sự riêng tư


Vào những năm 60, báo chí Sài Gòn hao tốn rất nhiều giấy mực vì phải đăng nhiều kì vụ li dị giữa ca sĩ Khánh Ngọc với nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Tòa án xét xử nhiều lần chưa xong, vì thế vụ việc càng làm họ trở nên nổi tiếng hơn. Lúc đó, ban hợp ca Thăng Long đang nổi đình đám nhất trong sinh hoạt ca vũ nhạc kịch thời bấy giờ, bởi lúc ấy nhóm Thăng Long gồm nhiều ngôi sao đương thời như Hoài Trung, vợ chồng ca sĩ Thái Hằng - Phạm Duy, ca sĩ Thái Thanh, vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc) – Khánh Ngọc. Nếu không kể đến người chị dâu Kiều Hạnh là một nữ kịch sĩ đang được ái mộ trên các sân khấu thoại kịch.


Phải nói trong thời gian sau 1954, các ca kịch sĩ miền Bắc xuất hiện rất đông đảo trên sân khấu lẫn đài phát thanh như Vũ Huân, Vũ Huyến, Duy Trác, Anh Ngọc, Kim Tước, Châu Hà, Hà Thanh v.v… Một phần, do ca sĩ trong Nam lúc đó chưa xuất hiện nhiều tên tuổi lớn, chỉ có một số ca sĩ đầy triển vọng từ phòng trà Tú Quỳnh giới thiệu như Bạch Yến, Cao Thái, sau có Minh Hiếu, Thanh Thúy, Túy Phượng, Phương Dung… nhỏ hơn thì có Quốc Thắng, Kim Chi trong ban nhi đồng của nhạc sĩ Nguyễn Đức, và quái kiệt Trần Văn Trạch vừa hát và hài.


Khánh Ngọc vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một ca sĩ được nhiều người biết đến với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả nam say đắm mỗi khi cô lên hát. Đồng thời Khánh Ngọc còn đóng mấy phim với nam tài tử Lê Quỳnh như Ánh sáng miền Nam, Chúng tôi muốn sống, Đất lành loạt phim nói về những ngày di cư từ Bắc vào Nam do Mỹ thực hiện. Trước khi đưa đơn ra tòa, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình. Nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những tin “lá cải” ấy.


Chỉ đến khi một số người bạn hẹn ông đi bắt ghen tại Nhà Bè thì sự việc mới đổ bể. Lúc đó báo chí Sài Gòn biết rất nhanh, và vụ “ăn chè Nhà Bè” được tờ nhật báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà khai thác mạnh hơn các báo khác, mọi người mới biết kẻ trong cuộc gây ra chuyện này không ai xa lạ, chính là người anh rể của ông : nhạc sĩ Phạm Duy nổi tiếng thuở ấy.


Người đau lòng nhất chính là Phạm Đình Chương chồng Khánh Ngọc, vì ông rất yêu vợ, nhưng bấy giờ cả dư luận xã hội đều rõ tường tận nên đành phải gửi đơn xin li dị (dù lúc đó Phạm Duy đã từng cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng loạt bài điều tra phóng sự này).


Đây là quãng thời gian đau khổ, Phạm Đình Chương không còn tâm trí biểu diễn cùng các anh chị trong ban hợp ca Thăng Long nữa mà lui về trong bóng tối, viết những tình ca buồn như để tâm sự với chính mình. Một loạt bài hát mang tâm trạng như thế ra đời: “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Thuở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…


Sau khi li dị, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được quyền nuôi con, khi ấy mới khoảng 4 – 5 tuổi, ông bắt đầu đi hát trở lại. Một lần tình cờ ông gặp Khánh Ngọc trên một sân khấu đại nhạc hội, có ý muốn đưa cô vợ đã li dị về nhà vì trời đang mưa, nhưng ông bị từ chối. Bởi vậy khi lặng lẽ trở về căn nhà kỷ niệm một thời sống cùng Khánh Ngọc, nhìn qua màn mưa nhớ về những ngày hạnh phúc giờ trôi theo dòng nước.… có người nói Phạm Đình Chương định tự tử lúc bấy giờ, nhưng nghe tiếng khóc của đứa con trai hai người, ông mới từ bỏ ý định này !?


Hình ảnh của đêm khốn cùng ấy đã đi vào từng lời của bài hát “ Nửa hồn thương đau” được ông viết trong đêm rã rời đó. Nếu ai đã nghe một lần bài hát này và cũng đồng cảm với cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương sẽ hiểu được tâm hồn con người chỉ có thể chịu đựng một giới hạn nhất định.


Dẫu là một bản tình ca, nhưng khi nhắc tới nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người ta lại nghĩ ngay đến “Nửa hồn thương đau” bởi sự bất hủ của bản tuyệt tình ca này và sự chung thủy trong tình yêu của một người đàn ông.



Người phổ thơ ra nhạc mang tính thiên tài


Nên nói về nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” do Phạm Đình Chương phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ “Lệ đá xanh”, nhưng ông đã đổi tựa và thêm ý cho phù hợp với tâm trạng của ông lúc bấy giờ.


Có người nhận xét, lối phổ thơ thành nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương mang đặc tính thiên tài, từ những vần thơ của các thi sĩ trở thành những nhạc phẩm luôn lưu lại nhiều kỷ niệm sâu đậm trong lòng giới ái mộ như các bài Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Nửa hồn thương đau, Đêm màu hồng, Dạ tâm khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) v.v… cho nên nếu so sánh cung cách phổ thơ của Phạm Duy, có thể nói Phạm Đình Chương ngang bằng hoặc xuất sắc hơn, do ông lấy văn học đưa vào nhạc, còn Phạm Duy đưa thơ vào nhạc mang tính thị hiếu nhiều hơn.


Một nhà báo đã viết khi nhận xét nhạc phẩm “Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội” do Phạm Đình Chương phổ thơ Hoàng Anh Tuấn :


“Có thể nói ca khúc “Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội” phổ thơ Hoàng Anh Tuấn là một trong những nhạc phẩm thể hiện tài năng phối âm hoàn chỉnh sắc sảo, đặc biệt là những câu nhạc chuyển động ở cuối phiên khúc đưa người nghe đi vào điệp khúc bằng từng nốt nhạc được dựng nền trên từng hợp âm khi tiến khi thoái rất linh động, nhịp nhàng chẳng khác nào một tiểu khúc giao hưởng đầy âm vang của những hạt mưa gợi nhớ đất Hà thành một thời đã cùng giai nhân “chung nón dìu bước thơm phố phường”.


Có người nói sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Đình Chương còn trải rộng tỏa khắp trên bình diện của thể nhạc trữ tình lãng mạn, với những sáng tác phong phú đủ chủ đề nói về tuổi trẻ, tình yêu, hiện thực, hoặc chia sẻ nhịp rung cảm hân hoan cùng mọi người như các tác phẩm : Bài ca tuổi trẻ, Thuở ban đầu, Mười thương, Mộng dưới hoa, Bài ca ngợi tình yêu, Đêm cuối cùng, Heo may tình cũ, Xóm đêm v.v…


Xuyên qua các nhạc phẩm trên, người ta lại càng nhận thức đầy đủ hơn nơi ý nhạc lời ca của Phạm Đinh Chương có một tâm hồn tươi trẻ, nồng nhiệt và cũng không kém phần thương đau, xót xa trong tan vỡ của yêu đương luyến nhớ, cũng như trong cuộc đời của người nghệ sĩ luôn để lại những khối chân tình qua từng bước chân phiêu bạt mà ông đã đi qua.


“Có lẽ sự rung động dễ thương của những con tim khi chớm nở loài hoa tình yêu mới là cảm xúc tuyệt diệu nhất được Phạm Đình Chương diễn tả bằng chính nội tâm hiện thực của ông qua ca khúc “Mộng dưới hoa” phổ thơ Đinh Hùng :


Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh là bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn anh không nói năng ….


“Cuối cùng không thể nào không đề cập đến “Trường khúc Tam Giang” với những nỗi niềm diễn tả tâm tư mang lời tự thuật thật sống động, đặc sắc của 3 con sông lớn đại biểu cho mạch sống của ba Miền và được xem như là một đại tác phẩm trường tấu để đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương có tên là “Hội Trùng Dương”, với 3 tiểu khúc gồm Tiếng Sông Hồng, Tiếng Sông Hương và Tiếng Sông Cửu Long, được liên kết thật chặt chẽ bằng những tiết tấu phối hợp sự biến âm đặc biệt biểu hiện tình cảm khi nhẹ nhàng, lúc khoan thai, khi hùng tráng, lúc trầm lắng, khi ngọt ngào, lúc thiết tha, quyện lẫn trong các câu hò mang sắc thái âm điệu thổ ngữ Bắc, Trung, Nam rất duyên dáng chân thành và trong sáng tình yêu quê hương vốn được hun đúc từ ngàn đời, tựa như 3 dòng sông tuôn chảy miệt mài ra biển Đông, khi lững lờ lúc cuồn cuộn trôi mãi theo chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Sau đây là những nhạc phẩm do nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ từ thơ, mà trang “Văn nghệ người Sài Gòn” đã nói đến :



Nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau”
thơ Thanh Tâm Tuyền


Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa / Cho tôi về đường cũ nên thơ / Cho tôi gặp người xưa ước mơ / Hay chỉ là giấc mơ thôi / Nghe tình đang chết trong tôi / Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời


Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau / Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau / Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào / Em ở đâu? Anh ở đâu? / Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu


Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt / Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất / Và tiếng hát và nước mắt Đôi khi anh muốn tin/ Đôi khi anh muốn tin / Ôi những người ôi những người / Khóc lẻ loi một mình…



Nhạc phẩm ”Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội”
thơ Hoàng Anh Tuấn


Mưa hoàng hôn / Trên thành phố buồn gió heo may vào hồn / Thoảng hương tóc em ngày qua / Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà / Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hoà / Thương màu áo ngà / Thương mắt kiêu sa / Hiền ngoan thiết tha / Thơ ngây đôi má nhung hường / Hà thành trước kia thường thường / Về cùng lối đường / Khi mưa buốt, lạnh mình ướt / Chung nón dìu bước / Thơm phố phường Mưa ngày nay / Như lệ khóc phần đất quê hương tù đày / Em ngoài ấy còn nhớ hẹn xưa miệt mài / Giăng mắc heo may / Sầu rơi ướt vai / Hồn quê tê tái


Mưa mùa Thu / Năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù / Tủi thân nhớ bao ngày qua / Mưa ngùi thương nhòa trên giòng sông Hồng hà / Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hòa / Đau lòng Tháp Rùa / Thê Húc bơ vơ / Thành đô xác xơ / Cô liêu trong nỗi u hoài / Lòng người sống lạc loài / Thê lương mềm vai gầy / Bao oan trái / Dâng tê tái / Cho kiếp người héo mòn tháng ngày


Mưa còn rơi, / Ta còn ước rồi nắng yêu thương về đời / Vang trời tiếng cười / ấm niềm tin hồn người / Mây trắng vui tươi / Tình quê ngút khơi / Tự do phơi phới.



Nhạc phẩm “Mộng dưới hoa”
thơ Đinh Hùng


Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng / Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng / Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại / Âu yếm nhìn tôi không nói năng


Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ / Mây ngàn gió núi đọng trên mi / Áo bay mở khép niềm tâm sự / Hò hẹn lâu rồi - em nói đi


Nếu bước chân ngà có mỏi / Xin em dựa sát lòng anh / Ta đi vào tận rừng xanh / Vớt cánh rong vàng bên suối
Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu / Đêm nào nghe bước mộng trôi mau / Gió ơi, gửi gió lời tâm niệm / Và nguyện muôn chiều ta có nhau


Lời 2:


Tôi cùng em mơ những chốn nào / Ước nguyền chung giấc mộng trăng sao / Sánh vai một mái lầu phong nguyệt / Hoa bướm vì em nâng cánh trao


Hy vọng thơm như má chớm đào / Anh chờ em tới hẹn chiêm bao / Dưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụng / Hòa lệ ân tình nuôi khát khao / Bước khẽ cho lòng nói nhỏ / Bao nhiêu mộng ước phù du / Ta xây thành mộng nhìn thu / Núi biếc, sông dài ghi nhớ


Ôi, chưa gặp nhau như đã ước thề / Mây hồng giăng tám ngả sơn khê / Bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng / Và mộng em cười như giấc mê



Nhạc phẩm “Đôi mắt người Sơn Tây”
thơ Quang Dũng


Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai / Sông xa từng lớp lớp mưa dài / Mắt em ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh / Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai


Đôi mắt Người Sơn Tây / U uẩn chiều luân lạc / Buồn viễn xứ khôn khuây, / Buồn viễn xứ khôn khuây / Em hãy cùng ta mơ / Mơ một ngày đất mẹ / Ngày bóng dáng quê hương / Đường hoa khô ráo lệ


Tôi từ chinh chiến đã ra đi / Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì / Sông Đáy chạm nguồn quanh phủ Quốc / Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay


Em vì chinh chiến thiếu quê hương / Sài Sơn, Bương Cấn mãi u buồn / Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em có bao giờ, Em có bao giờ, Em thương nhớ thương.

NGUYỄN VIỆT