Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Ức Trai Sưu Tầm TÌM HIỂU VỀ BẦU CỬ TỔNG THỐNG MỸ 2016

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

TÌM HIỂU VỀ BẦU CỬ TỔNG THỐNG MỸ 2016

In PDF.
 Nhân mùa bầu cử Tổng Thống(TT) Mỹ năm 2016, xin được ghi chép ra sau đây đôi nét khái quát về cuộc bầu cử, nhằm giúp cho những vị ở ngoài nước Mỹ, hoặc ở Mỹ nhưng chưa quen với quá trình tuyển cử của nước này, có thêm đôi chút thông tin để tiện theo dõi cuộc tranh cử TT đang diễn ra sôi nổi.
Bầu cử TT Mỹ gồm hai giai đoạn: Tuyển cử Sơ bộ và Tuyển cử Tổng quát (Primary election and General election).

A.-TUYỂN CỬ SƠ BỘ: CAUCUS và PRIMARY

Việc bầu chọn ứng viên từ mỗi chính đảng, thường được gọi là tuyển cử sơ bộ (primary election, PE), diễn ra theo hai hình thức thông thường: Caucus và Primary, bắt đầu từ Mồng Một Tháng Hai, kéo dài cho đến giữa Tháng Sáu.
 
Nguyên thuỷ thì caucuses là những cuộc họp của các đảng viên, do lãnh đạo các đảng ở cấp địa phương như phường (precincts), hay thị trấn nhỏ, tổ chức và chi phối, để chọn đại biểu (delegates) đi dự hội nghị của đảng ở cấp cao hơn: hạt (county), quận (congressional district), và tiểu bang (state).
 
Từ đầu thập niên 1970 đến nay, do sự chi phối của giới lãnh đạo đảng giảm đi, kết quả cuối cùng của các buổi họp caucuses là do sự bầu chọn của những thành viên đã đăng ký sinh hoạt đảng (registered members). Tại các cuộc họp caucuses này, sau khi thảo luận, các thành viên sẽ bầu công khai, bằng cách đứng theo từng nhóm, được phân định tương ứng với các ứng viên (candidates), hoặc bằng cách đưa tay. Các viên chức đảng, phụ trách buổi họp caucus sẽ theo đó đếm phiếu để biết lượng đảng viên ủng hộ cho mỗi ứng viên (candidates). Bằng một thủ tục khá phức tạp, số lượng cử tri ủng hộ cho mỗi ứng viên sẽ được quy thành số đại biểu (delegates) để đi dự hội nghị đảng ở cấp cao hơn. Đại biểu thường là những đảng viên chức sắc, tích cực, có quan hệ gắn bó một hay nhiều ứng viên nào đó. Thông thường, các ứng viên của đảng Dân Chủ còn lập danh sách đại biểu riêng do mình chọn.
 
Có sự khác nhau trong cách tổ chức và chọn đại biểu của caucus tại các tiểu bang. Có tiểu bang chọn đại biểu theo lối tỉ lệ (proportional representation); nghiã là đại biểu được chọn cho một ứng viên nào đó là tuỳ theo bách phân số phiếu ủng hộ mà ứng viên đó đạt được. Nhưng có tiểu bang lại chọn đại biểu theo nguyên tắc Winner-take-all principle, theo đó ứng viên nào nhận được số phiếu ủng hộ cao nhất, trong một cấp nào đó, sẽ nhận được toàn bộ số đại biểu tương ứng của cấp đó.
Một chi tiết cần lưu ý là các caucuses là do các chính đảng tổ chức và chịu mọi chi phí.
 
PRIMARY 

Là tuyển cử sơ bộ ở cấp địa phương của các chính đảng trong quá trình chọn ứng viên ra tranh cử toàn quốc. Các primaries là do chính quyền các tiểu bang tổ chức, tài trợ, và kiểm phiếu. Khác với caucus, tuyển cử primary được thực hiện theo lối bầu phiếu kín; mỗi thành viên tham dự được phát phiếu, rồi bầu chọn ứng viên bằng cách bỏ phiếu vào thùng. 

Có hai loại primaries: Khép kín (close) và mở rộng (open). Loại khép kín chỉ dành cho những đảng viên có đăng ký với đảng liên quan (Cộng Hoà, hoặc Dân Chủ). Lọại mở rộng dành cho bất kỳ công dân không đảng phái nào muốn tham gia và hiện diện trong ngày bỏ phiếu của primary.

Trước thập niên 1970, ở đa số tiểu bang, các chính đảng dùng phương thức caucus để chọn ứng viên. Nhưng kể từ sau cuộc cải cách năm 1972, đa số tiểu bang lại áp dụng phương thức primary.
 
Năm nay 2016, chỉ còn 14 tiểu bang (Alaska, Colorado, Hawaii, Idaho, Iowa, Kansas, Kentucky, Maine, Minnesota, Nebraska, Nevada, North Dakota, Washington, and Wyoming), hạt thủ đô District of Columbia, và 4 vùng lãnh thổ (American Samoa, Northern Marianas, Puerto Rico, và Virgin Islands) là vẫn còn áp dụng phương thức caucus. Phần đông các bang khác dùng primaries. [1]

Tuỳ theo mức độ thắng lợi của mình trong các cuộc bầu cử Sơ bộ PE, mỗi ứng viên sẽ được đại diện bởi một số đại biểu tương ứng. Những đại biểu này là những đảng viên cao cấp, đến lượt họ, sẽ tham dự kỳ đại hội toàn quốc của đảng của mình, CH hoặc DC, (DNC or RNC) để đề cử ứng viên (nominee) ra tranh cử trong cuộc tuyển cử Tổng quát, GE, bầu chọn Tổng Thống.
 
SỐ LƯỢNG ĐẠI BIỂU (DELEGATES) CỦA MỖI CHÍNH ĐẢNG
 
Số lượng đại biểu của mỗi đảng thường căn cứ vào 2 khía cạnh: Dân số & Sự trung thành (population & loyalty).
 
ĐẢNG CỘNG HOÀ (CH)
 
Mỗi tiểu bang, bất kể lớn nhỏ, được có 10 đại biểu. Kế đến, tại mỗi tiểu bang, cứ một đơn vị quận bầu cử quốc hội Liên Bang (congressional district, CD) được có 3 đại biểu. Hiện nay mỗi CD có dân số chừng 710,000 cử tri. Tiểu bang đông dân, có nhiều CDs, sẽ có nhiều đại biểu hơn. Loại đại biểu  này còn được gọi là district delegates, có khoảng 1,503 đại biểu, chiếm chừng 52.8% tổng số.
 
Xét về yếu tố trung thành, thì mỗi bang sẽ tự động có thêm 3 đại biểu (bonus delegates), nếu bang đó bầu cho ứng viên đảng CH trong mùa bầu cử trước, hoặc có Thống Đốc, Thượng Nghị Sĩ là người của đảng CH, hoặc bang đó có đảng CH chiếm đa số ở quốc hội của bang. Loại đại biểu này thường được gọi là At-large delegates, chiếm chừng 40.4% tổng số.

Ngoài ra, tại mỗi bang, 3 đảng uỷ viên có chân trong hội đồng toàn quốc (Republican National Committee, RNC) sẽ tự động là 3 đại biểu tại đại hội Đảng toàn quốc.Số đại biểu này chỉ chiếm khoảng 7% tổng số.[2]

Tổng cộng trên toàn quốc, đảng CH có 2472 đại biểu. Trước đại hội đảng toàn quốc (RNC) vào giữa tháng Bảy sắp đến, ứng viên nào đạt được số 1237 đại biểu sẽ trở thành ứng viên chính thức của Đảng (party's nominee) để tranh chức TT trong giai đoạn tuyển cử toàn quốc (general election, GE).
 
ĐẢNG DÂN CHỦ (DC)
 
Cách tính đại biểu của đảng DC cũng tương tự như của đảng CH, chỉ khác một điểm là số đại biểu trong mỗi CD thay đổi tuỳ vào số lượng đảng viên DC trong từng quận CD; quận nào có đông đảng viên hơn thì có số đại biểu nhiều hơn.
 
Về việc cử đại biểu thì đảng DC, một cách tổng quát, áp dụng nguyên tắc đại diện tỉ lệ (proportional representation); mỗi ứng viên nhận được số lượng đại biểu tương ứng với bách phân phiếu nhận được tại các caucuses hay primaries.

Trong khi đó phía đảng CH lại để tuỳ quyền lãnh đạo đảng ở các tiểu bang quyết định cách phân phối đại biểu. Có bang áp dụng lối đại diện tỉ lệ; có bang lại áp dụng winner-take-all, có bang lại áp dụng hỗn hợp cả hai lối.

Ngoài ra, trong việc áp dụng nguyên tắc đại diện tỉ lệ còn có sự ấn định bách phân tối thiểu cho việc ứng viên (candidates) nhận được đại biểu, gọi là threshold; ứng viên phải nhận được tối thiểu từ 15% (đảng DC) đến 20% (đảng CH) số phiếu trong các cuộc caucuses hay primaries để bắt đầu được có đại biểu.

Trên toàn quốc, đảng DC có 4,763 đại biểu. Ở kỳ đại hội toàn quốc (DNC), ứng viên nào đạt được 2383 đại biểu sẽ trở thành ứng viên chính thức của Đảng (nominee) để tranh ghế TT trong cuộc bầu cử toàn quốc.
 
SIÊU ĐẠI BIỂU (SUPER DELEGATES)
 
Ngoài những đại biểu được đề cập trên đây, đảng DC có thêm loại đại biểu gọi là Siêu Đại Biểu, Super-delegates (SĐB). 

Đảng DC có tổng cộng chừng 712 SĐB, gồm các viên chức cao cấp của Đảng, các TNS, Dân biểu, Thống Đốc, cựu TT và PTT, các cựu chủ tịch uỷ ban quốc gia của Đảng, v.v... Tổng số SĐB chiếm đến chừng hơn 15% tổng số đại biểu của toàn Đảng. 

SĐB có vai trò rất quan trọng, nhất là trong đảng DC; có ảnh hưởng quyết định trong trường hợp có 2 ứng viên cuối cùng của Đảng có số phiếu bầu suýt soát nhau (tight nomination race). Đặc điểm của SĐB là, khác với đại biểu thường, họ là loại unpledged delegates, nghiã là họ không bị ràng buộc với, và không bị  bó buộc phải bỏ phiếu cho một ứng viên nào cả, họ được tự do trong việc dồn sự ủng hộ cho một ứng viên vào phút chót của cuộc đua.
 
Trong cuộc bầu cử sơ bộ năm 2008, tại Đại hội Toàn quốc của đảng DC (DNC), chính số phiếu của SĐB đã giúp Obama cuối cùng thắng bà Clinton, trở thành ứng viên chính thức (party's nominee) của Đảng ra tranh cử toàn quốc.[3]
 
LƯỢNG CỬ TRI THAM GIA BẦU CỬ SƠ BỘ CỦA CÁC CHÍNH ĐẢNG.
 
Nhìn chung, số lượng cử tri Mỹ tham gia bầu chọn ứng viên của các chính đảng trong Tuyển cử Sơ Bộ (Primary election, PE) thường rất thấp so với số cử tri tham gia Tuyển cử Tổng Quát (General election, GE). Chẳng hạn, theo Drew Desilver, thì trong lần bầu cử TT năm 2012, chỉ có chừng 28 triệu cử tri tham gia các PE, so với số hơn 129 triệu cử tri tham gia GE.

Riêng năm nay, 2016, phiá đảng CH tuy có số cử tri tham gia PE gia tăng một cách đáng kể, cao nhất từ năm 1980, nhưng cũng chỉ chừng hơn 17% số cử tri. Phiá đảng DC thì chừng 12%.[4] Như vậy, tổng cộng từ cả hai đảng thì số lượng cử tri tham gia bầu cử PE không tới 30% tổng số cử tri trên toàn quốc.

Xin lưu ý rằng, Mỹ là quốc gia có số cử tri đi bầu thấp nhất so với nhiều quốc gia phát triển khác. Chẳng hạn, trong mùa bầu cử GE năm 2012, chỉ có chừng 129 triệu, tức khoảng 54% cử tri đi bầu; muà GE năm 2008 trước đó thì có phần cao hơn chút ít; chừng hơn 131 triệu!
 
B.-TUYỂN CỬ TỔNG QUÁT (GE): BẦU TỔNG THỐNG
 
Tuyển cử Sơ bộ (PE) kết thúc bằng đại hội toàn quốc của các chính đảng. Công việc chính của các đại hội này là đúc kết quá trình tuyển cử PE toàn quốc, chính thức hoá việc đề cử ứng viên của mỗi đảng ra tranh cử TT. Năm nay đảng CH sẽ tổ chức đại hội toàn quốc (Republic Natoinal Convention, RNC) từ 18 đến 21 tháng Bảy tại Cleveland, Ohio. Đại hội đảng DC (Democratic National Convention, DNC) sẽ từ 25 đến 28 tháng Bảy tại Philadelphia, Pensylvania.
Cuộc tuyển cử Tổng Quát GE để bầu TT Mỹ chính thức bắt đầu từ sau các đại hội đảng toàn quốc nói trên đây. Cuộc tuyển cử này sẽ kết thúc vào tháng Mười Một. 

Tuyển cử Sơ bộ, PE, là sự chọn lựa ứng viên trong nội bộ của mỗi đảng, và thường căn cứ trên phong cách (personality, character) của cá nhân ứng viên. Tuyển cử Tổng Quát, GE, trái lại là một cuộc tranh đua giữa đại diện của hai chính đảng về chủ trương, chính sách và đáp án cho các vấn đề của quốc gia và quốc tế. Nói khách đi, GE tập trung vào vấn đề quan điểm (political views) của ứng viên trước các đề tài đối nội và đối ngoại. Trên nguyên tắc, cử tri là kẻ sẽ cho phán quyết cuối cùng đối với cuộc tranh đua ấy, thông qua lá phiếu của mình. 
 
Một điểm cần đặc biệt lưu ý là cử tri Mỹ không trực tiếp bầu TT, mà là gián tiếp, thông qua một cử tri đoàn (Electoral College) gồm 538 thành viên. Các con số cấu thành số 538 này là tương ứng với số 435 Dân Biểu, 100 Thượng Nghị Sĩ, và 3 đại biểu của quận Thủ Đô (District of Columbia). Ứng viên nào đạt được 270 phiếu (CTĐ) sẽ đắc cử TT. Số cử tri đoàn, như vậy sẽ được phân bố không đồng đều giữa các tiểu bang, căn cứ trên dân số. Những tiểu bang đông dân như California có đến 55 phiếu cử tri đoàn (electoral voters), bang Texas 38, bang Florida 29. Những bang nhỏ như bang Wyoming hay bang North Dakota chỉ có 3, v.v...

Đi kèm theo cơ chế CTĐ trên đây là việc áp dụng nguyên tắc (Kẻ-thắng-lấy-hết) Winner-take-all đối với tuyển cử Tổng Quát, GE. Theo nguyên tắc này, ứng viên nào thu được nhiều nhất phiếu cứ tri (popular voters) tại bang nào sẽ được nhận toàn bộ phiếu CTĐ của bang đó. Một ví dụ là năm 2000, ở bang Florida, ông Bush được 2,912,790 phiếu cử tri; ông Gore được 2,912,253 phiếu. Nghĩa là ông Bush chỉ hơn có 537 phiếu, trên tổng số gần 6 triệu phiếu. Dù vậy, ông Bush vẫn thu được toàn bộ 25 phiếu cử tri đoàn của bang Florida, và nhờ vậy mà thắng cử.

Cuộc bầu cử năm 2000 Bush-Gore còn nêu một điểm nữa là trên toàn quốc, ông Gore thu được hơn ông Bush đến 500,000 phiếu cử tri (popular voters), nhưng chỉ vì thua ông Bush có 537 phiếu cử tri ở Florida, là bang có đến 25 phiếu cử tri đoàn, mà cuối cùng thất cử. Nói cách khác, một ứng viên được đa số cử tri toàn quốc bầu, đã không đắc cử TT! Trong lịch sử Mỹ, còn có hai cuộc bầu cử TT khác, một vào năm 1824 và một vào năm 1876, cũng với tình cảnh tương tự như vậy! Sự kiện này nhắc nhở mọi người rằng ở Mỹ cử tri không  trực tiếp bầu TT (directly voting) và nhấn mạnh đến khiếm khuyết của cơ chế Cử Tri Đoàn, một đặc trưng của tuyển cử TT ở Mỹ.[5]
 
VẤN ĐỀ TÀI CHÁNH
 
Theo số liệu của Federal Election Commission thì, tính cho đến nay, quỹ vận động tranh cử chung cho mọi ứng viên là chừng 494 triệu dollars; nghiã là gần nửa tỉ dollars! Những nguồn tài trợ chính của quỹ gồm có: Đóng góp của cá nhân, của các uỷ ban vận động chính trị (Political Action Committee, PACs), của riêng ứng viên, và của chính phủ Liên Bang (rất nhỏ, chưa đến 1 triệu dollars). Phần đóng góp cá nhân và của PACs là lớn nhất, tổng cộng đến hơn 460 triệu dollars. Phần tiền túi của các ứng viên là rất nhỏ, chừng gần 20 triệu dollars.[6]

Trong mùa tranh cử 2016 này, bà Clinton đứng đầu danh sách ứng viên về quỹ vận động tranh cử. Một số báo cáo cho biết tổng cộng quỹ của Bà lên tới hơn 180 triệu dollars. Người về nhì là TNS Bernie Sanders với gần 150 triệu dollars. Bên phía đảng CH thì Ted Cruz là cao nhất với hơn 100 triệu dollars! Ông Donald Trump, tuy là ứng viên dẫn đầu, chỉ có khoảng hơn 25 triệu, và phần lớn trong số này là tiền túi của ông ta. [7]

Người đóng góp lớn nhất cho bà Clinton là Soros Fund Management, một công ty đầu tư tài chánh nổi tiếng của tỷ phú Soros, với số đóng góp lên đến hơn 7 triệu dollars. Những người đóng góp nhiều khác cho Clinton là Euclidean Capital và Pritzker Group, với khoảng từ 3 đến 3.5 triệu dollars! Nghiã là bà Clinton đã nhận được đóng góp rất lớn lao từ giới tài chánh nổi tiếng ở Wall Street. Trong lúc đó, đối thủ của Bà là TNS Bernie Sanders, lại nhận được sự ủng hộ tài chánh phần lớn từ những công dân bình thường với đóng góp nhỏ; đặc biệt là từ giới trẻ.

Bên phía CH, theo một nghiên cứu đăng trên New York Times, thì đóng góp tài chánh đáng chú ý nhất, ủng hộ cho các ứng viên của Đảng, đến từ 158 gia đình (families) giàu có nhất của nước Mỹ hiện nay, thuộc nhóm những chủ nhân lớn trong hai lãnh vực tài chánh và dầu hoả sa thạch (shale oil). Phần đóng góp của những gia đình này là khá lớn, từ 250,000 dollars/ gia đình cho đến 15 triệu dollars/gia đình (Wilks Family of Texas)![8]

Tất nhiên những gia đình trên đây mang khuynh hướng chính trị bảo thủ (conservative) của đảng CH. Họ ủng hộ việc giảm điều tiết kinh doanh (business regulations); giảm thuế lợi tức, thuế tư bản và thuế thừa kế; cắt giảm chi tiêu đối với các chương trình xã hội; chống lại nỗ lực đối phó với Climate Change,  v.v... họ quan niệm rằng những chính sách như vậy giúp duy trì sự tăng trưởng kinh tế.
 
Từ lâu,đã có nhiều nỗ lực để cải cách quỹ vận động tranh cử (campaign finance reforms) nhằm hạn chế ảnh hưởng của đồng tiền lên sinh hoạt chính trị của quốc gia và để cho nguyện vọng của đa số được phản ảnh trung thực. Đáng kể là năm1974, Quốc Hội thông qua Federal Election Campaign Act, FECA cùng với việc thành lập cơ quan Federal Election Commission, FEC. Mục đích của FECA là hạn chế sự đóng góp tài chánh của tư nhân và các công ty lớn cho các ứng viên, cũng như hạn chế mức chi tiêu của ứng viên và những người ủng hộ họ vào việc vận động tranh cử. Luật giới hạn sự đóng góp cá nhân không quá 1000 dollars/ người và đóng góp của mỗi tổ chức không quá 5,000. Luật cũng buộc công khai hoá mọi sự đóng góp.

Một nỗ lực cải cách mới hơn là luật Bipartisan Campaign Reform Act, BCRA thông qua năm 2002, do hai TNS McCaine (CH) và Feingold (DC) bảo trợ. Trọng tâm của luật này là cấm những đóng góp không kiểm soát được của các công ty lớn cho các chính đảng và ứng viên và hạn chế việc sử dụng tiền của các công ty, hoặc nghiệp đoàn, vào việc quảng cáo chính trị trong mùa tuyển cử.
 
Tuy nhiên cả hai đạo luật trên đây đều lần lượt, thông qua hai vụ án, bị Tối Cao Pháp Viện (TCPV) tuyên bố vi hiến (unconstitutional). Vụ gần đây nhất và gây xôn xao nhiều hơn cả là vụ án United Citizens vs. Federal Election Commission. Trong vụ này, TCPV với tỉ số phiếu 5-4 đã phán quyết rằng việc hạn chế sự đóng góp của các công ty-công đoàn vào vận động tranh cử là vi phạm Tu Chính Án số Một về Tự do Ngôn luận!  [9] Phán quyết đó của TCPV đã gần như vô hiệu hoá mọi nổ lực cải cách tài chánh trong vận động tuyển cử ở Mỹ cho đến nay!
 
ĐẶC ĐIỂM CỦA TUYỂN NĂM 2016
 
Nét đầu tiên đáng chú ý là sự phân hoá ngay trong nội bộ 2 đảng lớn, CH và DC, giữa từng lớp lãnh đạo đảng và quần chúng. 

Trong đảng DC, sự xuất hiện của TNS Bernie Sanders, với sự ủng hộ của đông đảo đảng viên trẻ ngày càng tăng, biểu lộ một sự đối kháng rõ nét với bà Hillary Clinton, được sự ủng hộ mạnh mẽ của tầng lớp trên trong Đảng. Bà Clinton, dù với một chiều dày hoạt động chính trường và uy tín lớn, theo một số thăm dò lại không được sự tin nhiệm của công chúng cử tri như ông Sanders. Đại đa số cử tri ngoài Đảng cho rằng nếu đặt vấn đề tin cậy (trust) thì họ tin ông Sanders hơn bà Clinton; họ cho rằng ông Sanders đã luôn nói những gì Ông tin tưởng, còn bà Clinton nói theo cung cách hoa mỹ của một chính trị gia, nhưng thiếu chân thật. Một điều thú vị là tuy ông Sanders đã già, nhưng các thăm dò cho thấy Ông được giới trẻ, đáng tuổi cháu nội-ngoại của Ông, dành nhiều ủng hộ cho Ông hơn cho bà Clinton. [10]
 
Hai nhân vật này của đảng DC không chỉ tương phản nhau về tính cách (character) mà còn cả về lập trường. Trong lúc bà Clinton tự nhận mình có khuynh hướng cấp tiến (progesssive) với một số chủ trương như duy trì Affordable Care Act (Obamacare), nâng mức lương tối thiểu lên $12/giờ, trợ cấp ngân quỹ giáo dục cho tiểu bang, v.v... thì TNS Sanders lại tỏ ra  ngay cả cấp tiến hơn (more progessive) với những chủ trương như thay thế Obamacare bằng hệ thống y tế thống nhất theo kiểu Âu Châu, nâng mức lương tối thiểu lên $15, và hệ thống giáo dục đại học công miễn phí. Ngoài ra, một số đề nghị thuế khoá của TNS Sanders cũng tỏ ra "tả" hơn so với bà Clinton.[11]
 
Sự xuất hiện của TNS Sanders, với sự nhấn mạnh đến bất bình đẳng tài sản trong xã hội Mỹ và những đề nghị cấp tiến của Ông, không khỏi khiến người ta nhớ lại sự ủng hộ nồng nhiệt của giới trẻ đối với ông Obama trước kia vào năm 2008. Vào thời đó, Obama cũng tỏ ra rất cấp tiến, với nhiều hô hào về đổi mới và hy vọng (change and hope). Nhưng rồi dần dà, giới trẻ và quần chúng đã thất vọng, nhận ra rằng giữa một Obama trong mùa tranh cử và một Obama TT là cả một vực thẳm mênh mông, đủ rộng để chôn vùi mọi hy vọng tốt đẹp lúc đầu. Chỉ nội một việc bỏ ra gần 8 trăm tỉ dollars để bailing out cho các ngân hàng lớn, nhằm cứu các tập đoàn tài chánh Wall Street ra khỏi cuộc khủng hoảng do chính họ tạo ra, với lý do là "too big to fail", cũng đủ cho mọi người, nhất là giới trẻ, thấy rõ chân tướng của Obama; một agent của tư bản tài chánh, không hơn, không kém. Nói vậy không có nghĩa rằng Obama, xét từ góc độ cá nhân, là một con người xấu, nhưng chỉ để nhận ra rằng cơ cấu chính trị hiện thời của Mỹ vẫn còn nằm trong bàn tay nhào nặn (manipulating) của thiểu số tư bản công nghiệp-tài chánh, phục vụ quyền lợi của thiểu số tầng lớp ở trên, hơn là vì lợi ích chung của đa số; và rằng trong một cơ cấu như vậy, sự lựa chọn giữa hai ứng viên của hai chính đảng, có vẻ như đối lập, chung quy chỉ là một việc tượng trưng, nặng về hình thức hơn là thực chất. Nhiều cử tri Mỹ đã kết luận rằng ai lên làm TT thì cũng thế thôi, nếu không có những thay đổi căn để đối với cơ cấu chính trị hiện thời.

Mức độ phân hoá giữa tầng lớp lãnh đạo và quần chúng thể hiện mạnh mẽ và rõ nét hơn trong đảng CH. Sự xuất hiện và nổi lên nhanh của ông Donald Trump, được đông đảo giới bình luận quy cho là do sự bất mãn của lớp đảng viên thường và quần chúng đối với cấp lãnh đạo của Đảng, gọi là Republican Establishment. Vắn tắt thì Republican Establishment gồm tất cả những định chế truyền thống, các viên chức cao cấp, cơ quan truyền thông, cùng giới tài chánh nồng cốt của đảng CH. Lâu nay đông đảo đảng viên thường và số quần chúng có khuynh hướng bảo thủ đã ngày càng tỏ ra thất vọng và bực bội đối với Republican Establishment. Họ cảm thấy bị giới đó "phản bội"; trong khi tranh cử họ được hứa hẹn đủ điều, nhưng khi mùa tranh cử qua đi, đâu vẫn hoàn đó và mọi nguyện vọng của họ bị dìm vào quên lãng. Số đảng viên thường và quần chúng bảo thủ đó ngày càng mất tin tưởng vào Republican Establishment và chính quyền; họ không còn tin rằng những sinh hoạt chính trị theo lối cũ là phương cách hữu hiệu để nguyện vọng của họ được hiện thực hoá và quyền lợi chính trị của họ được bảo vệ. Họ thấy có nhu cầu cần bày tỏ phản ứng. Sự ra đời của phong trào Tea Party chính là nằm trong phản ứng đó. Phong trào đó đã thành công trong việc đưa vào Quốc hội những đại biểu bảo thủ nhất; Ted Cruz và Marco Rubio nằm trong số đó. 

Tâm trạng bất mãn, nổi loạn nêu trên đây đang được nhiều bình luận gia dùng để giải thích sự xuất hiện đột ngột và lên nhanh của ông Donald Trump. Một đặc điểm của ông Trump là sự độc lập về tài chánh và chính trị đối với tầng lớp lãnh đạo của đảng CH, tức đối với Republican Establishment. Lâu nay, để trở thành một ứng viên của đảng CH, một người phải có quan hệ rộng rãi với giới lãnh đạo Đảng, được giới này ủng hộ về chính trị, tiến cử và hậu thuẩn về tài chánh. Không có sự ưng chuẩn ngấm ngầm của Republican Establishment, không một ứng viên nào có thể trụ lâu dưới ngọn cờ của Đảng. Donald Trump là ngoại lệ. Tuy ra tranh cử dưới cờ của đảng CH, nhưng vì quá giàu, ông ta không cần sự ủng hộ tài chánh của Republican Establishment, cũng chẳng cần sự tiến cử của các giới chức cao cấp trong Đảng. Ông ta có sự tự do để muốn nói sao thì nói và làm sao thì làm, hầu như chẳng mấy bận tâm khẩn cầu sự ưng chuẩn (endorsement) của ai cả. Tính cách độc lập, lối ăn nói thẳng thừng, và vẻ ngoại lệ của Donald Trump đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với đông đảo đảng viên CH thường và đám quần chúng bảo thủ vốn đang bất mãn đối với hiện tình kinh tế-chính trị.

Lúc đầu giới lãnh đạo của đảng CH nói riêng và Republican Establishment nói chung có vẻ coi thường Donald Trump, nghĩ rằng Trump chỉ là một hiện tượng nhất thời, sớm muộn sẽ bị các ứng viên khác, những người có bề dày kinh nghiệm chính trường và được truyền thông ủng hộ mạnh, loại bỏ ra khỏi cuộc đua.

Thời gian cho thấy rằng, sự tin tưởng nói trên của giới lãnh đạo đảng CH là sai. Donald Trump đã không bị loại dễ dàng như họ mong đợi; trái lại càng lúc càng củng cố thế đứng của mình,  càng được đông đảo cử tri ủng hộ, loại dần những ứng viên nặng ký, kể cả Jeff Bush và Marco Rubio, và dẫn đầu! Cuối cùng giới lãnh đạo đảng CH đành thừa nhận thực tế và tìm cách chặn Donald Trump lại. Họ đã bỏ ra hàng chục triệu dollars để vận động chống lại Trump,huy động truyền thông để bôi xấu và làm giảm uy tín của ông ta. Nhưng vô ích, có vẻ như sự bất mãn đối với Republican Establishment là không gì dảo ngược được. Phóng viên Chuck Todd, sau thắng lợi của Trump ở Florida hôm 15/3, đã phải thốt lên "The Republican Establishment died last night!", ám chỉ rằng giới lãnh đạo CH đã không ngăn chận được đà ủng hộ ngày càng tăng của cử tri bảo thủ dành cho ông Trump[12]. 

Trình trạng trên đây đặt giới lãnh đạo đảng CH vào thế lưỡng nan (dilemma). Một mặt thì sự thống nhất và đoàn kết nội bộ sau lưng một ứng viên duy nhất là một nhu cầu căn bản cho sự thắng lợi của Đảng trong cuộc chạy đua vào White House. Nhưng mặt khác, giới lãnh đạo lại không đồng ý với, hay đúng hơn, không thể chấp nhận được người ứng viên đang dẫn đầu cuộc đua sơ bộ hiện nay trong Đảng, và đang có tư thế áp đảo hai ứng viên còn lại, là ông Trump. Những gì đang diễn ra hiện nay thể hiện nỗ lực của giới lãnh đạo đảng CH trong việc đối phó với thế lưỡng nan đó.
 
Trong những ngày này, sau khi Donald Trump đã thắng tiếp ở Arizona, vượt hơn người về nhì là Ted Cruz đến 250 đại biểu, Ông được một số nhân vật cao cấp của đảng CH mời gặp và họp kín. Dư luận đoán chắc là giới lãnh đạo đảng CH đang tìm cách lôi cuốn ông ta để giữ cho được sự thống nhất của Đảng trong cuộc bầu cử tổng quát sắp đến, cố tránh cho đại hội toàn quốc của đảng CH (RNC) trong tháng Bảy tới khỏi rơi vào tình cảnh phức tạp của một Contested/ Brokered Convention, là một đại hội trong đó giới lãnh đạo Đảng sẽ tổ chức một cuộc đầu phiếu nhiều vòng của toàn thể đại biểu để chọn ứng viên cuối cùng. Trong những vòng bỏ phiếu đó, các đại biểu sẽ trở thành những unpledged delegates, nghĩa là không bị ràng buộc với các ứng viên như trước, mà được tự do bầu chọn bất kỳ ứng viên nào họ thích. Chẳng hạn số đại biểu hiện cho đến nay bị ràng buộc và thuộc về Donald Trump, đến lúc đó có thể không bầu cho  Trump nữa, mà cho một ứng viên khác họ thích, hoặc một ứng viên mà giới lãnh đạo ưng chuẩn. Một tình huống như vậy có thể đẩy ông Trump, với hàng chục triệu cử tri ủng hộ ông ta, tuyên bố tách ra và ứng cử độc lập. Tất nhiên đó là một tình huống rất xấu cho đảng CH.
Tóm lại, cuộc tuyển cử TT 2016 phơi bày khó khăn chính trị của nền dân chủ Mỹ ở cả hai khía cạnh lịch sử và chính trị.
 
Về mặt lịch sử, các thủ tục tuyển cử sơ bộ, caucus và primary, là không thống nhất trên quy mô toàn quốc, mà biến thiên giữa các tiểu bang, ngay cả giữa các địa phương trong cùng một tiểu bang. Có bang tổ chức caucus, có bang lại theo lối primary. Rồi ngay primary thì có bang theo lối mở (open), bang lại theo lối đóng (close). Thủ tục chỉ định đại biểu (delegates) cho ứng viên cũng rất phức tạp và thay đổi theo từng tiểu bang. Có bang theo lối đại diện tỉ lệ, theo đó mỗi ứng viên hưởng số đại biểu tuỳ theo bách phân cử tri bầu cho mình; bang khác lại theo lối ai thắng-lấy hết (winner-take-all principle). Giai đoạn tuyển cử tổng quát (general election) để chọn TT từ ứng viên của hai đảng chính, CH-DC, với việc áp dụng nguyên tắc Ai-thắng-lấy-hết cùng quy chế Cử tri đoàn (college of electors), cũng là một khó khăn khác của di sản lịch sử. Sự khó khăn này là nguyên nhân khiến số lượng cử tri tham gia bầu cử TT ở Mỹ thấp hơn nhiều so với các quốc gia dân chủ tiên tiến khác trên thế giới (không mấy khi tới 60% tổng số cử tri). 

Những khó khăn lịch sử trên đây cũng là nguyên nhân dẫn đến những khó khăn chính trị khác. Nổi bật nhất là sự mất tin cậy của đa số cử tri đối với từng lớp ưu tú (elite) của xã hội và với giới lãnh đạo của hai chính đảng, CH-DC. Hơn nữa, còn là sự mất tin tưởng của đông đảo cử tri vào hệ thống chính trị hiện hữu. Nhiều công dân không còn quan tâm đến việc thực thi quyền bầu cử của mình, nghĩ rằng với hệ thống và cơ cấu chính trị hiện thời, quá nặng di sản lịch sử và bị kim tiền khuynh loát, đã ngày càng trở nên kém hiệu năng, tiếng nói và nguyện vọng của đa số càng lúc càng bị từng lớp ưu tú thao túng và dẫn dắt một cách sai lạc. Đây chính là lý do của sự xuất hiện, từ những thập niên qua, nhiều nỗ lực nhằm hình thành một chính đảng thứ ba ở Mỹ và sự phân hoá hiện nay trong hai chính đảng trong mùa bầu cử TT 2016 này.

THAM KHẢO

[1] http://www.cfr.org/elections/us-presidential-nominating-process/p37522
Government in America by Edwards et al.
[2] https://www.gop.com/the-official-guide-to-the-2016-republican-nominating-process/
[3] http://www.cfr.org/elections/us-presidential-nominating-process/p37522
[4] http://www.pewresearch.org/fact-tank/2016/03/08/so-far-turnout-in-this-years-primaries-rivals-2008-record/
[5] http://www.factcheck.org/2008/01/the-florida-recount-of-2000/
[6] http://www.fec.gov/disclosurep/pnational.do
[7] http://www.opensecrets.org/pres16/index.php
[8] http://www.nytimes.com/2015/10/11/us/politics/wealthy-families-presidential-candidates.html#donors-list
[9] https://www.oyez.org/cases/2008/08-205
[10] http://www.cbsnews.com/videos/frank-luntz-on-focus-group-why-voters-wont-vote-for-trump-and-clinton/
[11] http://www.businessinsider.com/hillary-clinton-vs-bernie-sanders-on-the-issues-2015-9
[12] http://www.realclearpolitics.com/video/2016/03/16/chuck_todd_the_republican_establishment_died_last_night.html