Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Baudelaire và nỗi cô đơn tột cùng

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Baudelaire và nỗi cô đơn tột cùng

In PDF.
Thưa quý bạn, quý vị,

Trong đời, ai trong chúng ta ít nhất cũng có một lần cô đơn, ngồi suy ngẫm vế tình yêu, tình bạn, tình đời. Và buồn. Khi chán chường, đau khổ, những nhà thơ, nhà văn có cách giải thoát bằng cách "vịn câu thơ mà đứng dậy", như thi sĩ Phùng Quán đã viết. Họ là những người may mắn. Còn những độc giả, không viết văn và không làm thơ, sẽ chỉ biết mượn lời thơ hoặc câu văn của họ để tự an ủi. Như của Baudelaire và Wilcox dưới đây.
Cuối tuần này, xin quý bạn cùng tôi hãy "vịn câu thơ mà đứng dậy".
 
25 Feb 2016
Kim Thanh


Baudelaire và nỗi cô đơn tột cùng
 
 
Baudelaire (Foto vào năm 1863)
Signatur
     Charles Baudelaire được xem là một thi sĩ lớn của nền văn chương Pháp thế kỷ XIX. Sinh năm 1821 tại Paris, ông bắt đầu sinh hoạt văn chương rất sớm. Viết nhiều thể loại, với những bài phê bình hội họa (Delacroix, Ingres, trong Salons), nghệ thuật (Curiosités esthétiques, xb 1868), âm nhạc (Wagner et Tannhauser à Paris, 1961), và văn chương (L’Art romantique, xuất bản 1868), truyện ngắn (La Fanfarlo, 1847), nhật ký (Mon cœur mis à nu, Journaux intimes, xb 1887), dịch và nghiên cứu về Edgar Poe (Traduction des Histoires extraordinaires d’Edgar Poe, 1856), viết báo, làm thơ văn xuôi (Le Spleen de Paris, xb 1869). Tuy nhiên, tác phẩm để đời và nổi tiếng nhất của ông phải là thi tập Les Fleurs du Mal, xb năm 1859, gồm 100 bài, và chia làm 5 tiết mục, và khi tái bản năm 1861, tăng thêm 36 bài. Chữ  Mal trong nhan đề, xét theo nội dung của các bài thơ, được hiểu vừa là đau khổ vừa là điều ác, nên rất khó dịch đầy đủ hai nghĩa trong một đề tựa. Người ta thường chọn dịch, riêng rẽ, một trong hai. Có thể đề nghị: Hoa Ác Khổ? Chỉ sau hơn một tuần được bày bán, Les Fleurs du Mal và Baudelaire bị báo Le Figaro tố giác chống đạo và vi phạm thuần phong mỹ tục. Tập thơ bị tịch thu và thi sĩ phải ra tòa, bị Tòa án, nhân danh đạo lý và tôn giáo, phạt vạ 300 francs và cấm lưu hành một số bài. Việc kiểm duyệt sách vở vào thời ấy xảy ra rất thường. Trước Baudelaire, hai anh em Goncourt (vì một bài viết về cái nịt ngực và một bức tranh vẽ thần Vénus và Adonis ôm nhau trần truồng) và Flaubert (vì quyển Madame Bovary) cũng đã phải ra tòa, nhưng trắng án, nhờ luật sư giỏi. Trường hợp Baudelaire, khi bị tuyên phạt, chỉ có một mình Victor Hugo dám đứng ra viết bài bênh đỡ ông. Nhưng nhờ vụ kiện, Baudelaire càng thêm nổi tiếng. Phải đợi đến năm 1949, gần một thế kỷ sau, danh dự của thi sĩ mới được phục hồi và các bài thơ bị cấm được in lại.

     Trong Les Fleurs du Mal, người ta đọc thấy sự giằng co trong con người Baudelaire giữa Thiện và Ác, giữa buông thả nhục dục, trác táng (bên gái giang hồ và thuốc phiện) và ước mơ, nếu không nói là cố gắng, vươn lên tình yêu và thế giới thanh cao (cho những mỹ nhân mà ông không thể với nắm được), giữa sự chìm đắm trong vũng lầy đêm tối và khát khao ánh sáng và mặt trời chói lọi. Người ta cũng thấy trong thi tập quan niệm của Baudelaire về thơ và vai trò, nhiệm vụ của một thi sĩ. Và nhất là nỗi đau khổ và cô đơn tột cùng của ông, do những thất vọng và thất bại về tình yêu, gia đình, tiền bạc, nợ nần và bệnh hoạn. Ông mất năm 1867, lúc 46 tuổi, được chôn tại nghĩa trang Montparnasse. Baudelaire là một thi sĩ “độc lập”, nhưng trường phái nào, từ cổ điển, lãng mạn đến hiện đại, tượng trưng, siêu thực, v.v..., cũng xem ông là người của họ. Trong số các thi sĩ Việt Nam thời tiền chiến, Xuân Diệu là người chịu ảnh hưởng Baudelaire nhiều nhất, trong khi Hàn Mặc Tử không ưa ông (xem Chơi giữa mùa trăng), có lẽ cũng nhân danh đạo đức. Một nửa tổng số bài thơ trong Les Fleurs du Mal viết theo lối sonnet: 14 câu (thập tứ cú thi) gồm hai đoạn 4 câu và hai đoạn 3 câu, qui luật gieo vần rất khắt khe. Sau đây là bản dịch của một bài sonnet, “Recueillement”,  rất nổi tiếng. 
 
Trầm Tư
Recueillement
 
Bài thơ này đã được Claude Debussy viết thành ca khúc cho piano năm 1890, Léo Ferré phổ nhạc và hát năm 1967, và Marc Seberg hát trong album Le Chant des terres năm 1985.
 
Sois sage, ô ma Douleur, et tiens-toi plus tranquille.          
nhạc sĩ Claude Debussy
Hãy ngoan ngoãn, hỡi Khổ Ðau của tôi, và hãy đứng yên.
Tu réclamais le Soir; il descend; le voici :                          
Em gọi Chiều Tà; chiều xuống, rồi đó:
Une atmosphère obscure enveloppe la ville,                      
Một không gian u tối phủ trùm thành phố,
Aux uns portant la paix, aux autres le souci.                       
Mang cho người này bình an, kẻ khác muộn phiền.
 
Pendant que des mortels la multitude vile,                   
Trong khi đám đông bọn người hèn mạt,
Sous le fouet du Plaisir, ce bourreau sans merci,         
Dưới ngọn roi Khoái Lạc, tên đao phủ hà khắc, 
Va cueillir des remords dans la fête servile,                
Sắp hái ăn năn trong lễ hội nô tì,
Ma Douleur, donne-moi la main; viens par ici,            
Khổ Ðau ơi, hãy đưa tay cho tôi; hãy đi lối này,
 
Loin d’eux. Vois se pencher les défuntes Années       
Xa họ. Hãy thấy nghiêng đổ những Năm tàn rũ 
Sur les balcons du ciel, en robes surannées;                 
Trên ban-công của trời, trong xiêm y xưa cũ;
Surgir du fond des eaux le Regret souriant;                 
Hãy thấy hiện lên từ đáy nước Tiếc Nuối mỉm cười;
 
Le Soleil moribond s’endormir sous une arche,             
Hãy thấy Mặt Trời hấp hối dưới vòm cầu say ngủ,
Et, comme un long linceul traînant à l’Orient,              
Và, như một dải liệm dài kéo lê về hướng Ðông,
Entends, ma chère, entends la douce Nuit qui marche.
Hãy nghe, em hỡi, hãy nghe tiếng Ðêm dịu dàng bước đi.
 
CÔ ĐƠN
Ella Wheeler Wilcox, bài “Solitude” trong tập Poems of Passion                   
                                                                                                 
Ella Wheeler Wilcox (1855-1919)
Ella Wheeler Wilcox (1855-1919) là một thi sĩ Mỹ, không nổi danh so với những cây đại thụ của văn học Mỹ thế kỷ XIX như Edgar Poe hay Walter Whitman. Bà không được văn học sử nhắc đến nhiều. Tác phẩm của bà gồm có tuyển tập Poems of Passion (1883) và Poems of Pleasure (1888). Thơ bà bình dị, điều mà bài thơ sau đây có thể chứng minh. Bài thơ này được chọn dịch vì có những câu, và nhất là hai câu đầu, quá nổi tiếng, thường được nhiều người (trong số có Tổng thống Kennedy) trích ra, và trở thành như châm ngôn. Những điều mà bài thơ nêu lên phù hợp với những gì chúng ta biết về tình người, tình bạn, tình đồng chí, và tình đời nói chung, không sai chút nào dù có vẻ yếm thế, qua những không gian và thời gian khác nhau. Ca dao Việt Nam có câu: Khi vui thì vỗ tay vào / Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai. Và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã thở than: Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử  / Hết cơm, hết gạo, hết ông tôi (bài “Thế thái nhân tình”).
                                                                  
Laugh, and the world laughs with you;  
Hãy cười lên, cả thế giới cười với bạn;
Weep, and you weep alone.    
Hãy khóc đi, bạn chỉ khóc một mình.
For the sad old earth must borrow its mirth;    
Vì trái đất già nua buồn bã phải mượn niềm vui;  
But has trouble enough of its own.     
Nhưng tự nó có đủ khốn khổ rồi.
Sing, and the hills will answer;     
Hãy hát ca, và những ngọn đồi sẽ trả lời;
Sigh, it is lost on the air.     
Hãy thở dài, tiếng than mất tan trong gió.
The echoes bound to a joyful sound.     
Vọng âm dội lên từ một giọng cười hớn hở
But shrink from voicing care.     
Nhưng loãng vơi khi chia sẻ muộn phiền.
 
Rejoice, and men will seek you;      
Hãy hoan lạc, và bao kẻ sẽ tìm đến;
Grieve, and they turn and go.       
Hãy khổ sầu, họ vội quay lưng.
They want full measure of all your pleasure,      
Họ muốn bạn sướng vui lễ hội tưng bừng,
But they do not need your woe.      
Nhưng lúc bạn đớn đau ai người cần biết.
Be glad, and your friends are many;       
Hãy vui lên, bằng hữu sẽ kéo về đông nghẹt;
Be sad, and you lose them all.      
Hãy buồn rầu, bạn sẽ mất họ hết.
There are none to decline your nectared wine,      
Không ai chối từ rượu ngọt bạn rót mềm môi,
But alone you must drink life’s gall.      
Nhưng một mình bạn phải uống chén đắng của đời.
 
Feast, and your halls are crowed;       
Hãy mở tiệc, và nhà bạn khối người tấp nập;
Fast, and the world goes by.       
Hãy nhịn ăn, và thiên hạ dửng dưng.
Succeed and give, and it helps you live,      
Hãy thành công và gia ơn, bạn được giúp vui sống,
But no man can help you die.      
Nhưng ai nào đỡ bạn trong phút lâm chung.
There is room in the halls of pleasure      
Trong những sảnh đường khoái lạc luôn có chỗ
For a long and lordly train,      
Cho hàng đoàn khách khứa cao sang
But one by one we must all file on       
Nhưng từng người một chúng ta phải xếp hàng
Through the narrow aisles of pain.      
Bước qua hành lang chật hẹp của u sầu thống khổ.
 

Portland  1/2011
Kim Thanh