Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Bạn Đọc Viết Việt Nam: Mùa Xuân hoa không nở!

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Việt Nam: Mùa Xuân hoa không nở!

In PDF.
“Việt cộng bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung cộng đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung cộng đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên và cho Việt Cộng thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hoàn cầu thời báo). Câu chuyện ấy ra sao, nó là chuyện cười, chuyện diễu hay có là điều để chúng ta phải suy nghĩ, lo toan, giải trừ?
 
Không, tôi cho rằng, đó là những chứng từ (nếu có) sẽ buộc vào cổ tập đoàn Việt cộng. Nó không có một chút ý nghĩa và pháp lý nào với dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ:
 
 Đường đỏ là đường biên giới theo công ước Pháp-Thanh 1887. Đường hồng là đường biên giới theo HUBG 1999. Khu vực Lão Sơn là khu có vòng xanh. Vùng gạch chéo là đất của VN bị mất. Bản đồ tấm số 15.

Đường đỏ là đường biên giới theo công ước Pháp-Thanh 1887. Đường hồng là đường biên giới theo HUBG 1999. Khu vực Lão Sơn là khu có vòng xanh. Vùng gạch chéo là đất của VN bị mất. Bản đồ tấm số 15.

Phạm văn Đồng, người ký bản Công Hàm bán nước năm 1958, có lẽ  đã không dự tính cho bản thân thêm một lần trở thành tội đồ của dân tộc Việt trong hội nghị gọi là Thành Đô vào ngày  3-4 Tháng 9, 1990 cùng với Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười. Bởi lẽ “Khi tiếng súng ngưng, chúng tôi đếm được 3700 địch quân địch bỏ thây tại chỗ. Tư lịnh sư đoàn chúng tôi, cựu chiến binh từ thời nội chiến, cũng phải nói rằng ông ta chưa bao giờ thấy nhiều xác chết như thế. Ngày 14 tháng 7, chúng tôi ra tín hiệu cho phép phía VN đến thu hồi xác chết…. “. 

“Hỏi xem, TC đã sử dụng bao nhiêu sư đoàn, ta sẽ biết số người Việt Nam bị  giết. Đó chỉ là một phần trong câu chuyện về cuộc chiến biên giới để rồi nó được kết thúc “êm” trong bối cảnh Thành Đô. Ở đó “ phiá Việt Nam đã phải ký nhượng 600 km² phần đất Tổ Quốc phiá Bắc Việt Nam, trong đó có phần núi Bạc, núi Lão Sơn cho Trung Quốc” (Trần trung Đạo, Núi Lão Sơn còn hay mất?) . Vinh hay nhục theo bản án này? Hẳn nhiên, để đổi lấy tình hữu nghị 4 tốt 16 chữ vàng khè thì đây phải là bước đường vinh quang tột đỉnh không ai có thể làm được ngoài Việt cộng.  Để rồi 9 năm sau, 1999  Việt cộng ký Hiệp Thương biên giới, ở đó, Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Lãm… đội mũ nón lìa quê mẹ sang xứ người. Cũng từ đây, có thể nói, không còn một nơi nào trên đất nước Việt Nam mà không có gót chân của bọn Tàu cộng, trong đó có nhiều nơi bị chiếm đóng vĩnh viễn.
 
Đất nước bị xâm thực, bị Tàu chiếm đóng, Việt Nam về đâu?
 
Chuyện “đàn bò vào thành phố” muôn đời là nỗi đau của người dân Việt. Nỗi đau không chỉ bắt nguồn bằng đôi mắt u buồn của những người tỵ nạn CS, những người đã bỏ nước ra đi. Nhưng là sự cảm nhận bằng cuộc sống dù người đó sống xa quê hương, hay đang nương tựa ngay trên phần đất được gọi là quê hương của mình. Thật vậy, nỗi đau của đất nước Việt Nam bị rơi vào tay Việt Cộng hơn 40 năm trước chừng như không giảm. Tệ hơn, mỗi ngày thêm quặn thắt.
 
Ai cũng biết, dưới thời Tổng Thống Ngô đình Diệm. Trước là vì lòng nhân của dân tộc, sau là tương lai của đất nước. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chào đón những Hoa kiều đang sinh sống ở Việt Nam gia nhập vào đại gia đình Việt Nam không chỉ bằng việc nhập tịch, nhưng là cuộc sinh sống và theo nguồn ngôn ngữ văn hóa Việt. Kế đến, để bảo vệ nền kinh tế của quốc dân, chủ quyền đất nước, chính phủ quy định một số ngành nghề, thương vụ người Hoa kiều không được tham dự vào trong thương trường Việt Nam. Đây không phải là việc bài ngoại, trái lại, là một căn nguyên trong sự phát triển kinh tế quốc dân của một nước có chủ quyền. Chuyện xưa là thế, nhưng từ ngày Việt Nam Cộng Hòa bị mất tên, bị thay thế bằng “ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt cộng”, câu chuyện của nhà Việt Nam đã ra khác, đổi khác.
 
Trước hết, ngoài phần lãnh thổ bị thu nhỏ lại vì bản Công Hàm 1958 và Hiệp định biên giới 1999 của Việt cộng, để Ải Nam Quan, Núi Lão Sơn, Bản Giốc, bờ biển Tục Lãm… phải xa lìa đất mẹ, đội mũ cối sang Tàu. Ai cũng nghe đến chuyện kinh hòang hơn cả ác mộng: Việt cộng dọn đường đưa Việt Nam trở thành một đơn vị tự trị của Tàu như Mông Cổ. Sự thật ra sao? Cho đến nay, ngoài những đồ đoán bất lợi, người ta hầu như không biết rõ những điều khoản căn bản được ghi chép trong “Hội nghị Thành Đô” vào 1990 giữa Việt cộng và Trung Cộng là gì. Nhưng có một điều chắc chắn, ở đó không có những tín hiệu đáng mừng cho số phận Việt Nam. Lý do, một kẻ gặp khốn cùng trong sinh hoạt nội bộ, hoàn toàn thất thế thua trận nơi chiến trường, phải tự xin đầu hàng và thần phục đối phương thì không bao giờ có được những điểm lợi thế trong đàm phán cho mình.
 
Dĩ nhiên, Việt cộng cũng không thoát được quy lệ này khi Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Phạm văn Đồng mũ áo sang hầu Tàu cộng ở Thành Đô vào 1990. Tệ hơn, vốn liếng lúc ra đi là cái rổ không còn cạp. Bên ngoài, quan thày Liên Sô và cộng sản Đông Âu đã trổ cờ Tự Do. Bản thân thì ngu dốt, đói rách, lại là kẻ thua trận trực diện trên chiến trường với đối phương, lấy gì để trả gía cho hội nghị, đàm phán? Ấy là chưa kể đến một điểm vô cùng quan trọng mà tập đoàn này phải đối diện với TC. Nếu việc xin làm đầy tớ không được Trung cộng chấp nhận, cứu vớt, bàn cờ Việt Nam sẽ đổi màu. Khi đó, bản thân những kẻ cướp của giết người, bán nước hại dân mấy chục năm qua sẽ ra sao? Chỉ vài câu hỏi ngắn đã diễn tả mọi nỗi khốn cùng của Việt cộng khi đó. Từ đó cho thấy, nếu được Trung cộng nâng đỡ, cưu mang, chúng sẽ ký kết với bất kỳ những điều khoản nào có lợi cho bản thân chúng. Phận dân phận nước vốn đã là không có ở trong tầm mắt cộng sản, càng không còn ý nghĩa gì trong giai đoạn này.  
 
Đó là lý do để Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Lãm ra đi mở đường cho rừng đầu nguồn, Tây Nguyên, Vũng Áng, Đà Nẵng, Cửa Việt, Bình Dương, Nha Trang, Vũng Tàu, Biên Hòa đến Cần Thơ, Mỹ Tho, Cà Mâu…. Và rất nhiều địa điểm trên toàn nước Việt, không một nơi nào mà không có những đám người Tàu mọc lên. Nơi thì dưới dạng “công nhân xây dựng”. Nơi thì “khai thác lâm sản, mỏ quặng”. Nơi thì dựng nhà chiếm đất, họp chợ. Nhiều đến cái độ mà công an Việt cộng trông thấy là lỉnh đi nơi khác thay vì giáp mặt và cũng không dám dòm ngó gì đến “luật lệ” của những địa phương ồn ào này. Từ đó, ai cũng thấy một hành động vô cùng nguy khốn cho đất nước đã và sẽ còn tiếp tục diễn ra ở trên mảnh đất hình chữ S này.
 
Nhớ lại, ngay từ khi có tên nước Nam, Tầu chưa bao giờ bỏ ý  định thôn tính mảnh đất gồm đủ những lợi thế và hùng tài ấy. Rồi Mỹ đã một lần đến Việt Nam, tuy nhân danh là bảo vệ vòng đai Tự Do cho thế giới, nhưng thực tế cũng vì quyền lợi của Hoa Kỳ mà đến rồi đi. Ngày nay họ muốn quay lại cũng là vì nhìn ra được vấn đề của lầm lẫn, của quyền lợi. Tuy nhiên, ngày nào lợi ích của con buôn không còn, nó lại đi.
 
Nhưng Tàu hoàn toàn khác. Tập đoàn này cho người tràn xuống phương Nam không phải chỉ vì lợi lộc của kinh tế nhất thời, nhưng là việc kiên trì muốn chiếm thế đất, nắm lấy cuộc xoay vần của phương Nam. Theo đó, khi muốn trấn giữ biển Đông, hợp thức hóa “đường lưỡi bò” theo “Công Hàm 1958”, và hợp thức hóa Hiệp Ước Thành Đô 1990, Tàu không muốn và không bao giờ muốn đánh chiếm phương Nam. Trái lại, họ chỉ cần chiếm lĩnh, chế ngự hoàn toàn tập đoàn Việt cộng, dù kẻ đó là Nguyễn phú Trọng hay Nguyễn tấn Dũng. Nói cách khác, Tàu không bao giờ có thể chiếm giữ Việt Nam bằng vũ lực, nhưng việc sẽ “bảo hộ”, nuôi dưỡng và vỗ béo tập đoàn Việt cộng tại Hà Nội để chúng tự xin làm con nuôi là có thừa. Ở chiều ngược lại, tập đoàn Cộng sản Việt Nam này cũng chỉ mong ước có bấy nhiêu. Theo đó, chuyện tạo ra phe Dũng, phe Trọng là rất cần phải có để tất cả tập đoàn nô lệ đều được ăn!
 
Trong khi đó, cuộc sống của dân tộc Việt Nam ngày nay chỉ có một thế duy nhất để tồn tại là Diệt cộng, thoát cộng. Ngoài tiến trình thoát cộng, giải cộng, bài Trung cộng, chúng ta không còn một chọn lựa nào khác. 

Bởi vì, sau khi thoát cộng, dù Mỹ đến, hay đi, Việt Nam vẫn có cuộc sống trong Độc Lập của mình. Nước Nam không phải là khu chợ trời. Đường biên giới đã có, phải là những mốc điểm giữ nước, phải được kiểm soát, bảo toàn. Đó là thế đứng buộc chúng ta phải đứng cho vững, không khi nào rời.

Kế đến, ai cũng biết, Cộng sản là kẻ thù của nhân loại trong mọi thời điểm. Nó không thể là “bạn kết nghĩa” của người Việt Nam. Bằng chứng ư:

“Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do nhà nước trực tiếp quản lý:-Sỹ quan ngụy quân từ cấp Thiếu tá trở lên.- Sỹ quan cảnh sát từ cấp Trung úy trở lên. Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của ngụy quyền đã giữ chức vụ, từ chủ sự phòng cơ quan trung ương, Ty phó, quận phó trở lên…”( điều IV,QD111/CP Việt cộng)
 
Đã thế, sau khi cướp được nhà Việt Nam, hầu như không có phần đất nào trên bản đồ hình chữ S này lại không có những loại bảng đỏ: “Việt cộng mãi mãi biết ơn Trung Quốc, Quân đội VC đời đời nhớ ơn Trung quốc”! Xem ra những khẩu hiệu loại này đều là mơ ước của Lê chiêu Thống, Trần ích Tắc xưa. Tiếc rằng thành phần này chưa có một ngày “vinh quang” để  tô vẽ nên chúng! Tuy thế, ngày nay trong chốn tuyền đài, có lẽ họ đã hết cô quạnh vì được gặp những bậc thầy lừng lẫy của mình là Hồ chí Minh, Lê Duẫn, Đặng xuân Khu, Phạm văn Đồng và tập đoàn cộng sản. Đó là những kẻ, xin được một bao gạo, nhận được hai qủa mìn để giết dân, giết đồng bào là mừng rỡ trong thế “ăn qủa táo, rào cây sung”. Coi kẻ cho qủa mìn là thầy là cha mẹ. Trong khi tình yêu, bầu sữa của cha mẹ, anh em, của đồng bào ruột thịt thì được trả nghĩa bằng cây mã tấu của Hồ chí Minh.” Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi…”. (“Thứ trưởng” Chu văn Biên!)
 
Thử hỏi xem những thành phần gọi là “cách mạng” này lĩnh lương, hưởng lộc từ đâu thế? Tiền bằng mồ hôi, nước mắt lao nhọc của cha mẹ, anh em và nhân dân Việt Nam hay là tiền của Tàu? Nếu đó là tiền của Tàu cộng thì việc họ tàn ác với nhân dân, lấy đất Việt dâng cho Tàu, đáng mặt kẻ đầy tớ rồi đấy! Chỉ cần học tiếng Tàu và quên thật nhanh tiếng Việt như Phạm vũ Luận “giáo dục” nữa là xong. Trường hợp đó là tiền, là mồ hôi, là nước mắt, là lao nhọc của Việt Nam thì phải trả về cho Việt Nam.
 
Tóm lại, sau 70 năm cơ khổ dưới ách bạo tàn của Cộng sản dưới cái tên gọi Hồ chí Minh, người Việt Nam chỉ có một con đường để chọn lựa:
 
1.     Một là “hồ hởi” theo Việt cộng tung hô tên Tàu ô Hồ chí Minh bán nước, giao đất cho Tàu để hưởng lộc (dù vài ngày?).
 
2.     Hai là hãy kiên cường bước theo bước đi của người Quang Trung trong mùa xuân 1789, để từ đó ta về trong tiếng ca vang, đem cuộc sống làm ngườòi về cho dân tộc. Ở đó, ta theo hướng đi của tiền nhân ta. Đem giáo hóa vào nơi chưa khai quang. Lấy tình thương giải nghĩa cho hận thù. Và lấy tình dân tộc mà răn đe tội ác.
 
Đó chính là ý nghĩa trong mùa Xuân của Dân Tộc, của đất nước, mà Tiền Nhân đã trao tặng và gởi lại cho con cháu hôm nay tự quyết.
 
 
17/01/2016
Bảo Giang