Bạn Đang ở đây: Thông Báo Phân ưu GỬI THEO NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

GỬI THEO NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG

In PDF.
Nếu như chú từ giã cô Đăng, con cháu, các anh chị, người thân và bằng hữu vào một thời điểm nào đó của những ngày tháng khác trong năm. Vào môt mùa Xuân, khi các loại hoa chung quanh nhà do chính tay chú nuôi trồng, thi nhau rực rỡ sắc màu. Vào mùa Hè có nắng chan hòa khu đồi Murray. Hay vào tiết đông tuyết phủ đầy phố phường, thì nỗi tiếc thương chú cũng vẫn đầy ắp lòng mọi người. 
 
Nhưng, buổi chiều buồn ấy, khi chiếc xe vô tri, rời nhà đưa chú vào căn phòng giã biệt, một chiều không phải Xuân-Hạ-Đông, mà lại vào một chiều thu. Thì ngoài niềm tiếc thương, sự ra đi của chú còn man mác một nỗi buồn nhân thế - Chiều thu cuối tháng 9 khi chú ra đi là lúc trời mới vào thu. Thu vàng, đẹp quyến rũ, nhưng cũng buồn não nề. Ngàn năm xưa, bên Trung hoa, mỗi khi thu về có loài hoa cúc mang tên Hoàng hoa, bắt đầu nở, mà Hoàng hoa trong Kinh thi ai cũng biết, là biểu tượng của chia phôi, là giã biệt, là xa cách quan san, là nỗi buồn muôn thủa chinh phụ.

“ Giã nhà đeo bức chiến bào, thét roi cầu Vị ào ào gió thu.”

Mới đây, chỉ một mùa thu trước, gặp nhau trên sân tập buổi chiều, tôi nghe chú ngâm nga đoản khúc Lưu Trọng Lư:  "Em không nghe mùa thu, lá thu kêu xào xạc, con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô" - bạn hữu nói giọng chú gần như Sĩ Phú, cũng không sai. Rồi chú cất tiếng với Giọt Lệ Thu, chú nhớ nữ sĩ Tương Phố với Khúc Thu Hận. Chú còn kể lại tôi nghe vào những mùa thu như hôm nay, chú hay nghe Khánh Hà qua Les Feuilles Mortes của Joseph Kosma. Chú thuộc cả lời ca được Johnny Mercier chuyển qua tiếng Anh: “The falling leaves, drift by my window- Những cánh lá tả tơi rơi bên cữa sổ “.

Cho nên, ngày chú ra đi, ngày buồn với mùa thu tiễn chú, có vạn lá vàng bay phủ ngập lối đi, là những dấu ghi thời gian khó quên trong ký ức những người ở lại. Tôi viết đoản văn này gửi theo chú vì cảm xúc rất sống trong tôi cùng với niềm thương tiếc một người thân trong gia đình - một mất mát bàng bạc gói ghém qua hơi thu mà trong một nghĩa nào đó, chú đã chọn cho mình. 

Cuối tuần vừa rồi gia đình và thân hữu - gồm cả những người từ ngàn dặm - gặp nhau qua lễ cầu nguyện cho chú. Tiếp sau là buổi hội ngộ đầy nồng ấm giữa gia đình và những bạn hữu đúng nghĩa của chú. Tình thương yêu chú đã lấp khuất những xa lạ, vùi mờ những ngăn cách màu da, ngôn ngữ, từ tất cả người tham dự. Để chỉ một tấm lòng với chú, một tình thân với nhau. Họ đã nói về chú với tất cả  tình yêu mến.

Tôi xin trích một phần những lời ân tình này :

- Chú không thể đi.
Chú còn vợ con, hai cháu, lúc nào cũng mở rộng cánh tay ôm ấp
Chú còn những mơ ước của một đời hạnh phúc chờ đón
Chú còn quyến thuộc yêu thương vỗ về
Chú còn bằng hữu xa gần trọn vẹn tình nghĩa huynh đệ.
Sự đau đớn nào cũng có giới hạn của thời gian. 
Nhưng sự đau đớn của vĩnh biệt được đếm từng giây, từng phút, 
đã từ từ đến với chú hồi tháng 5 
và đã ngừng lại lúc 10 giờ 44 phút, 
ngày 26 tháng 9 vừa qua, 
là một đớn đau vô hạn định.”

Đại diện đại gia đình
(Chị Trâm - cháu Ánh)

- Bố tôi là nguời rất tình cảm và mang nặng tinh thần bằng hữu. Hai đối tượng tiêu biểu nhất để người ta có thể nhận ra điều này, là gia đình và thân hữu. Trước nhất gia đình luôn được đặt lên trên và biệt đãi. Bố tôi yêu thương mẹ và chúng tôi trên hết mọi sự và bằng tất cả tấm lòng. Đối với hai cháu lại càng được qúi thương. Ngày hai cháu Maddie và Ben lần lượt ra đời, bố tôi đã học cách tắm rửa cho cháu, vui chơi với cháu và cả nâng niu đưa cháu vào mỗi  giấc ngủ.

Với bạn hữu, luôn tìm cách giúp đỡ khi họ cần đến. Cho nên, khi tin bố tôi qua đời chỉ mấy ngày, gia đình nhận không biết bao nhiêu lời chia buồn dưới đủ mọi hình thức gửi đến tỏ lòng tiếc thương.

Hôm nay bố đã ra đi, mặc dù biết bố không còn nữa và thật đau xót trước thực tế này. Nhưng chúng tôi cũng được an ủi phần nào khi thấy bố đã có một đời sống tuyệt vời và được mọi người hết lòng  yêu mến.
 
Thưa bố,

Khi bố còn, mẹ và chúng con rất yêu qúi bố, bây giờ thì lại luôn nhớ bố. Bố biết mẹ và chúng con yêu mến bố như thế nào, nhưng nếu như chúng con không biểu lộ đủ để bố hiểu, thi chúng con xin lỗi bố. Thôi, bố đi trước đi, một ngày nào đó, mẹ và chúng con sẽ theo sau và gặp lại bố. 
(Elizabeth Duong – Youngest child)
 
- Tôi biết tôi không thể giữ anh ở lại cùng sống với tôi trên trái đất này. Nhưng một điều tôi có thể giữ, là những ngày vui cùng chia sẻ với anh.
Hồi tháng 8 tôi trở lại Oregon và được gia đình TS Nguyễn Kim Qúy mời tôi và Kính một bữa ăn tối. Bữa ăn thật hợp khẩu vị do chị Quý nấu. Ba chúng tôi đã có một buổi tối tuyệt vời. Chúng tôi nâng ly hẹn ngày này sang năm sẽ tái ngộ để mừng cho tình bằng hữu qúi giá này, nhưng Kính đã thất hẹn. Tôi thật tiếc nhớ Kính và nguyện sẽ mang những kỷ niệm êm đẹp và ấm cúng này vào tận đáy lòng.
(Dr Harry Norman, Vice President, Fullerton University, California) 

- Quen biết anh, từ 1985, qua suốt bao năm, tôi thấy trong anh một người thật tốt, đối xử tử tế với mọi người. Anh luôn hòa nhã, lịch sự, khiêm cung. Còn nhớ, trong chức vụ Điều Hợp Viên Tỵ nạn và Di Trú của thành phố Portland, anh đã giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi của rất nhiều đồng hương và cộng đồng VN Oregon một cách tích cự, hữu hiệu. Tình nguyện hoạt động cho người già và giới trẻ, đồng sáng lập Hội Cao Niên Việt Nam và đẩy mạnh sinh hoạt lãnh đạo của thanh niên Mỹ gốc Á châu tại Portland. Sau năm năm vừa đi làm vừa đi học, anh nhận văn bằng Cao học về Hành chánh công quyền và được mời dạy như giáo sư thính giảng về văn hóa và Ngôn ngữ Việt tại PSU. Khi anh còn sống, những thành qủa ấy, ít người để ý, cũng như đối với tình yêu hay hạnh phúc người ta đang có trong tay. Đến khi anh không còn nữa, tất cả trở thành chứng tích của một sự dấn thân sáng chói, của những hoạt động Cộng đồng tuyệt vời.
(TS Nguyễn Kim Qúy)

- Anh Kính là người bạn vong niên mà chúng tôi từng xem như một đàn anh. Chúng tôi xưng hô với anh Kính trong thân tình là anh em. Anh Kính và cá nhân chúng tôi có những kỷ niệm thật đáng nhớ trong thời chúng tôi được đồng hương tại Oregon tín nhiệm trách vụ Chủ tịch Cộng đồng.

Tuy anh Kính không là vị cố vấn trực tiếp, nhưng anh thường có những ý kiến, những lời khuyên mà những lời khuyên hay lời cố vấn đó thường mang lại sự tốt đẹp cho Cộng đồng VN chúng ta, nếu không muốn nói là những thắng lợi đáng kể cho quyền lợi giữa Cộng đồng VN và chính quyền bản xứ, đặc biệt là giữ vững là ranh Quốc cộng.
(Giáo sĩ Huỳnh Quốc Bình, Cựu Chủ tịch Cộng đồng VN Oregon).

- Anh Paul Kính là một người đặc biệt cả về cá tính lẫn tài năng. Anh là một Phối trí viên  chương trình định cư và Tị nạn thuộc thành phố Portland, tôi với chức vụ giám đốc chương trình song ngữ ESL của sở học chánh, chúng tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ anh, vừa để cùng nhau phác họa những đề án giúp cho học sinh và thanh thiếu niên cơ hội học hành, vừa để tham vấn anh những vấn đề liên quan đến người tị nạn Đông nam Á mà chúng tôi đều có phần trách nhiệm liên hệ. Chính trong cương vị này mà tôi hiểu được thật rõ con người anh. Chính nhờ anh, mà người tị nạn ĐNÁ được hưởng nhiều quyền lợi và nhất là được trọng kính xứng với nhân cách của chính mình,

Chúng tôi tiếc anh, một người lãnh đạo giầu khả năng. Một người bạn chân tình. Một cộng tác tiên lỗi lạc. Tôi sẽ không bao giờ quên anh, Paul Duong."
(Tou Meksavanh- Hawaìi) 
 
- Chú Kính với tư cách một người bạn học dưới mái trường Đại học Luật khoa Saigon, chú có nhớ chú và một số bạn hữu đến nhà tôi ở cư xá Lê Đại Hành học thi suốt ngày đêm để làm sao thi đậu lên lớp. Kể từ đó chú trở lên thân thuộc với gia đình của tôi và nhận ông cụ tôi làm bố đỡ đầu và gia nhập đạo Công giáo. Đến năm 1968 chiến tranh VN trong giai đoạn khốc liệt và có lệnh tổng động viên, thế là chúng ta tạm xếp bút nghiên theo nghiệp binh đao. Chú chọn ngành Chiến Tranh Chính Trị, còn tôi gia nhập quân chủng Không quân.

Được biết trong thời gian học tập tại trường với giáng dấp thư sinh và ăn nói từ tốn mà chú đã được lọt vào mắt nâu của cô gái họ Cao tên Kim Đăng, một trong những người đẹp của xứ anh đào Đà lạt. Sau khi ra trường chú đã thành hôn với cô Kim Đăng.
(Nguyễn Bá Đức)

- Anh Dương Xuân Kính, một thành viên trong đại gia đình Nguyễn Trãi chúng tôi vừa nằm xuống đã để lại bao sự thương nhớ của bạn bè và cũng vừa đúng 47 năm chúng tôi cùng gia nhập khoá Nguyễn Trãi 2 Trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà lạt.

Thế rồi vào năm 1975, những bước chân chúng tôi theo vận nước mà nổi trôi. Đại gia đình Nguyễn Trãi cùng chung với nỗi điêu linh của đất nước. Nay anh ra đi trước – và tuy biết rằng, rồi ai cũng sẽ có ngày ra đi, kẻ trước người sau, chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Nhưng với bao kỷ niệm ngọt bùi đã chia sẽ thật khó mà tránh được nỗi thương nhớ bạn.”
(Lưu Công Đàm. Hội Ái hữu CTCT Oregon).

- Chú,
Trong thời gian trọng bệnh, chú đã chứng tỏ cho cả gia đình biết quyết tâm của chú trong việc chống lại bệnh tật. “I will never give up “. Chú đã nói với cả nhà như vậy. Và cả nhà đã hết sức tán đồng và tiếp tay chú trong quyết tâm, một quyết tâm Quyết Sinh đáng cảm phục.
 
Nhưng định mệnh quá khắt khe. Một nhà văn, rất tiếc tôi không nhớ tên, đã viết một câu  chí lý: “Cái biết, sự suy nghĩ và ước mơ, thường có nơi con người. Nhưng cái biết và suy nghĩ thì có giới hạn vì thuộc con nguời. Còn mơ ước thì mênh mông, vô giới hạn và thuộc Thượng đế.”

Mơ ước của chú và cũng là của cả gia đình, vì thế, hãy trả lại cho quyền năng của Thượng đế. Và giờ đây, nơi cao vời bên một thế giới khác, hẳn chú đã nhớ lại điều trước đây mình thường nói với nhau : “ Thị Tử Vi Qui ”- Chết là về quê. 
 
VMH.