Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Bạn Đọc Viết Nước Đức thống nhất 25 năm nhìn lại

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Nước Đức thống nhất 25 năm nhìn lại

In PDF.
Ngày 3 tháng 10 năm 1990 là ngày nước Đức thống nhất, tính cho đến năm 2015 là đã được 25 năm. 25 năm tuy là một thời gian rất ngắn nếu so với chiều dài lịch sử của một quốc gia, nhưng đủ dài để có thể nhìn lại những gì đã qua.

Con đường đi đến thống nhất

Sau đệ Nhị Thế chiến, nước Đức và Berlin bị  Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô  phân chia làm  4 khu vực
Năm 1945 nước Đức đầu hàng, chấm dứt đệ nhị thế chiến. Tháng 2 năm 1945 tại Hội nghị Jalta ở bán đảo Krim và sau đó vào tháng 7/8 cũng năm đó tại Hội nghị Potsdam ở Đức, ba nước đồng minh Mỹ,
Sau đệ Nhị Thế chiến, nước Đức và Berlin bị  Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô  phân chia làm  4 khu vực
Anh và Liên Xô  đã họp nhau lại để phân chia nước Đức. Nước Đức và cả Berlin bị chia làm 4 khu vực do 4 cường quốc Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô  chiếm đóng và cai quản. Bốn năm sau tức là năm 1949, Tây Đức do Mỹ, Anh và Pháp kiểm soát thành lập nước Cộng hoà liên bang Đức (Bundesrepublik Deutschland, viết tắt BRD) và Đông Đức do Liên Xô kiểm soát đã thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Đức (Deutsche Demokratische Republik, viết tắt DDR). Hai nước một dân tộc theo đuổi hai nền chính trị và kinh tế hoàn toàn khác nhau. Tây Đức theo chế độ tự do với nền kinh tế thị trường xã hội (Soziale Marktwirtschaft) lấy D-Mark (viết tắt DM) làm đơn vị tiền tệ, còn Đông Đức theo chế độ cộng sản với nền kinh tế quản lý tập trung (Zentralplanwirtschaft) lấy đồng Mark (viết tắt DDM) làm đơn vị tiền tệ. 

Năm 1952, giữa biên giới nội địa Đông và Tây một hàng rào thép gai dài hơn 1.300 km do Đông Đức dựng lên với một khu vực cấm có chiều ngang 5 km và người dân muốn vào đó phải có giấy phép đặc biệt. Tuy nhiên thành phố Berlin vào thời đó vẫn còn bỏ ngỏ, người dân được sử dụng lỗ hổng này để qua lại Tây Berlin. Cho đến tháng 8 năm 1961, bức tường Berlin bằng bê tông mới được xây lên. Thành phố Tây Berlin bây giờ nằm trơ trọi như một hải đảo được bao vây bởi một bức tường dài tổng cộng 155 km, trong đó có 43,1 km là biên giới giữa Tây và Đông Berlin cộng thêm 111,9 km biên giới giữa Tây Berlin với Đông Đức. Hình như có một điều nghịch lý, tường càng cao, càng dài thì người dân lại càng bỏ nước ra đi càng nhiều dù có nguy hiểm đến tính mạng. Tính từ năm 1949 cho đến 1961, có 2,6 triệu người đã rời bỏ Đông Đức. Từ năm 1961 đến 1988 hơn 100.000 người đã vượt thoát qua biên giới Đức và qua bức tường Berlin. Khoảng 600 người đã bị lính biên phòng Đông Đức bắn chết khi tìm cách trốn qua Tây Đức, riêng tại bức tường Berlin có ít nhất136 người chết [1]. Có 75 ngàn người bị giam tù vì tội có ý định hay hành động „trốn đi“. Tây Đức nhờ kế hoạch Marshall của Mỹ nhằm tái thiết lại các nước Tây Âu và chính sách kinh tế thị trường xã hội kèm theo điều kiện chính trị thuận lợi, đã phát triển vượt bực và trở thành một cường quốc về kinh tế. Đảo lại chính sách kinh tế quản lý tập trung và sự bó buộc trong khối Warsaw đã làm cho kinh tế Đông Đức suy sụp. Sự nghèo nàn về vật chất, sự cách biệt quá lớn về kinh tế giữa hai nước đã là những nguyên nhân xô đẩy người dân phải quay lưng lại với đất nước mình, nhưng nguyên nhân chính vẫn là sự khao khát tự do, dân chủ và thống nhất của người dân Đông Đức.

Khúc quanh lớn nhất vào tháng 5 năm 1989, chính quyền Hungary đã ra lệnh phá hàng rào mở cửa biên giới cho dân chúng được tự do đi lại. Hungary là một nước cộng sản ở Trung Âu nằm trong khối liên minh quân sự Warsaw do Liên Xô thành lập sau đệ nhị thế chiến. Bức màn sắt, biên giới phòng thủ giữa Đông Âu và Tây Âu trong đó có bức tường Berlin, mở ra một cánh cửa lần đầu tiên từ năm 1945. Nếu hiểu rằng vào thời điểm đó, biên giới từ Đông qua Tây đều bị đóng kín và được kiểm soát chặt chẽ thì cánh cửa mở này đã là một dịp may lớn cho người dân Đông Âu được ra đi. Người dân Đông Đức cũng không bỏ lỡ cơ hội này, chỉ trong vòng một thời gian ngắn mấy tháng trời, 32.000 người đã trốn đi bằng con đường qua Hungary. Trong mùa hè 1989 có gần 120.000 người nộp đơn xuất cảnh, tính ra trung bình mỗi ngày gần 2.000 người bỏ Đông qua Tây, riêng đảng Xã Hội Thống Nhất Đức SED (tức là đảng Cộng sản Đông Đức) đã mất một nửa số đảng viên trong vòng hơn 2 tháng, một phần thì xin ra khỏi đảng và một phần theo dòng người di tản chạy qua Tây Đức. Chưa kể hàng ngàn người Đông Đức đã trèo vào tòa Đại Sứ Tây Đức ở Praha thủ đô của Czechoslovakia (Tiệp Khắc) để xin ty nạn và cắm lều ở lỳ trong công viên của tòa Đại Sứ cho đến khi được phép rời qua Tây Đức. Tình trạng càng ngày càng trở nên căng thẳng khi những cuộc biểu tình bất bạo động ở Đông Đức bùng nổ và liên tục xẩy ra với cả trăm ngàn người tham dự để nói lên sự bất mãn cũng như sự đòi hỏi tự do dân chủ của dân chúng. Những cuộc „tuần hành ngày thứ 2“ năm 1989 ở Leipzig cũng góp phần làm gia tăng nhanh chóng tình trạng bất ổn về chính trị. 
 
Chính quyền Đông Đức tỏ ra lúng túng và bất lực trước tình huống mới. Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Mikhail Gorbachev, chủ tịch nhà nước, với chính sách „cải tổ“ (Perestroyka) và „mở cửa“  (Glasnost) đã đứng ngoài cuộc tranh chấp không cho xe tăng vào đàn áp người biểu tình như vào năm 1968 Liên Xô đã làm với dân Czechoslovakia. Ngày 8 tháng 10 năm 1989 Erich Honecker, chủ tịch nhà nước, phải tuyên bố từ chức và Egon Krenz lên thay. Mặc dù Egon Krenz tỏ ra mền mỏng hơn, nhưng cũng chỉ kéo dài được mấy tuần bởi vì mọi chuyện đã quá trễ, Đông Đức đang đứng trước nguy cơ bị sụp đổ và trống rỗng vì quá nhiều người bỏ ra đi. Đêm ngày 9 tháng 11 năm 1989 bức tường Berlin, được chính phủ Đông Đức đặt tên „Bức tường bảo vệ chống phát xít" và người dân Tây Đức gọi là „Bức tường ô nhục“, đã bị phá đổ sau hơn 28 năm và cũng là lúc chấm dứt luôn cuộc Chiến tranh Lạnh giữa Đông và Tây. 
 
Hai tuần sau ngày bức tường Berlin đổ, Thủ tướng Tây Đức Helmut Kohl đã đưa ra chương trình 10 điểm để giúp đỡ và xây dựng lại Đông Đức nếu Đông Đức chịu hợp tác với Tây Đức để thống nhất lại đất nước. Chương trình 10 điểm được tập trung vào 3 trọng tâm: hòa giải dân tộc, phục hồi nền kinh tế Đông Đức và gìn giữ hòa bình cho châu Âu.

Ngày 31 tháng 8 năm 1990 hai nước Đông và Tây ký Hiệp ước thống nhất sau khi quốc hội của hai nước đã phê chuẩn với đa số trên 2/3 phiếu. Ngày 3 tháng 10 năm 1990 nước Đức chính thức thống nhất. Ngày thống nhất 3/10 đã trở thành ngày Quốc Khánh của nước Đức và quốc kỳ của Tây Đức được bay phất phới trên mảnh đất Đông Đức. Cộng hoà Dân chủ Đức (Đông Đức) giải thể và gia nhập Cộng hoà Liên bang Đức (Tây Đức). 5 tiểu bang của Đông Đức được sáp nhập vào Tây Đức và 18 triệu dân Đông Đức hòa đồng với 40 triệu dân Tây Đức để cùng nhau xây dựng một tương lai mới.

25 năm nhìn lại

Việc nước Đức thống nhất trong hòa bình, không đổ máu là một điều mà có thể nói nhiều quốc gia đã không làm được. Từng trải qua hai cuộc thế chiến và 45 năm đất nước chia đôi (1945-1990), người dân Đức đã học hỏi được nhiều bài học lịch sử đau thương, nên hiểu rất rõ hơn ai hết thế nào là hệ lụy của chiến tranh. Bởi thế nên sau khi bức tường Berlin đổ, họ đã cố gắng hết sức để hàn gắn lại vết thương xuất phát từ sự chia đôi đất nước, để nhanh chóng phục hồi lại tiềm năng sức mạnh của dân tộc Đức. Cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela đã từng nói: “Người ta không thể xây dựng một quốc gia trên hận thù và bạo lực”.  Không hận thù, không bạo lực để xây dựng lại đất nước cường thịnh, chính ở điểm này mới nhìn thấy được đâu là sức mạnh thật sự của dân tộc Đức. 

Sau ngày thống nhất, đại đa số các công chức và binh sĩ cũng như sĩ quan dưới chế độ Đông Đức được sử dụng lại, chỉ trừ những người đã hoạt động cho Stasi (sở mật vụ của Đông Đức). Một số người như chủ tịch nhà nước Erich Honecker và người kế vị Egon Krenz, các thành viên trong Hội đồng Quốc phòng như Erich Mielke, Willi Stoph, Heinz Keßler,... cùng một số các sĩ quan, binh sĩ thuộc đội biên phòng phải ra tòa án để trả lời về những cái chết ở biên giới. Tổng cộng có 35 người được tha bổng, 44 người bị tù treo và 11 người bị lãnh án tù giam [2]. Bản án cao nhất là 7,5 năm tù dành cho cựu bộ trưởng Quốc Phòng Heinz Keßler. Những bản án quá nhẹ cho những người có trách nhiệm về 600 người bị lính biên phòng Đông Đức bắn chết khi trốn qua Tây Đức. Riêng Erich Honecker sau khi Đông Đức sụp đổ, tháng 3 năm 1991 ông và vợ chạy qua Nga tỵ nạn và ở đó cho đến tháng 7 năm 1992 khi tổng thống Nga Boris Jelzin trục xuất hai vợ chồng Honecker về lại Đức. Ông Honecker bị giam và phải ra tòa án ở Đức. Sau vì lý do sức khỏe ông được thả ra sớm và chỉ ở tù đúng có 169 ngày. Khi ra khỏi tù, ông bay qua nước Chile và sống tha hương ở đó với vợ con cho đến khi mất vào tháng 5 năm 1994 thọ được 81 tuổi. Người vợ của ông là bà Margot Honecker cựu bộ trưởng bộ Giáo Dục của Đông Đức năm nay được 88 tuổi  sống ở Chile từ năm 1992. Bà vẫn được nhận tiền lương hưu đều mỗi tháng 1.500 Euro của chính phủ Đức gởi [3]. Cũng như bà Margot Honecker, người dân Đông Đức về hưu đều được lãnh tiền lương hưu theo luật định mặc dù trước đó họ chưa đóng một đồng nào cho quỹ hưu của Tây Đức. 

Đảng Xã Hội Thống Nhất Đức SED (tức là đảng Cộng sản Đông Đức) được chính phủ Cộng hoà Liên bang Đức cho phép tiếp tục hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và tôn trọng tự do dân chủ. Để sinh tồn, đảng SED sau đó đã phải tự đổi tên thành SED-PDS, rồi ít lâu sau bỏ chữ SED đi chỉ còn PDS (Xã hội Chủ nghĩa Dân chủ Đức). Do bị áp lực của dư luận năm 1998 đảng PDS đã phải ra thông cáo chịu trách nhiệm về những tội ác thời Đông Đức. Dù như thế số đảng viên của PDS giảm dần, từ 300.000 đảng viên năm 1989 còn lại 100.000 năm 1997, dến năm 2007 chỉ còn khoảng 60.000. Năm 2007 đảng PDS lại đổi tên thêm một lần nữa, thành đảng Cánh Tả (Die Linke). 

Về mặt chính trị nước Đức theo đường lối hòa giải, về mặt kinh tế thì chủ trương sẵn sàng chấp nhận gánh nặng thống nhất do Đông Đức để lại. Dân Đông Đức được đổi tiền Mark (Đông Đức) lấy tiền D-Mark (Tây Đức) với tỷ giá 1:1 mặc dù thời điểm đó tỷ giá hối đoái là 1:4, nghĩa là 1 D-Mark ăn 4 đồng Mark. Từ năm 1991 đến năm 2019 mà cũng có thể lâu hơn nữa, „kẻ chiến thắng“ Tây Đức đã đóng thuế để giúp đỡ „kẻ thua trận“ Đông Đức. Lúc đầu phải đóng 7,5% nhưng từ năm 1998 chỉ còn 5,5% trên tiền thuế cho „quỹ xây dựng lại Đông Đức” (Der Solidaritätszuschlag, gọi tắt là Soli). Quỹ này dùng để xây cất và sửa chữa lại hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, chỉnh trang lại đô thị ở Đông Đức, tạo nên công ăn việc làm cũng như giải quyết vấn đề xã hội như thất nghiệp cho người dân ở đó. 

Nước Đức đã đổ vào Đông Đức một số tiền rất lớn là khoảng 1.600 tỷ Euro (thống kê 2013) [4] và thêm vào đó là sự hổ trợ mạnh mẽ về nhân lực và kỹ thuật, nhưng sự phát triển của nền kinh tế Đông Đức vẫn còn có nhiều khó khăn và thậm chí còn quá chậm. Người dân Đông Đức không quen làm việc theo luật cung cầu, luật đào thải, tính năng động của kinh tế thị trường mà quen làm việc theo sự cứng ngắc của kinh tế quản lý tập trung. Nên sự chuyển đổi từ nền kinh tế „quản lý tập trung“ sang nền kinh tế „thị trường“ còn quá nhiều trở ngại, tốn quá nhiều tiền tài vật chất và thời gian. Để được bằng Tây Đức, Đông Đức chắc còn phải cần một thời gian lâu hơn nữa, có thể thêm vài chục năm. Tuy thế bên cạnh những vấn đề chưa giải quyết xong, thì sự thống nhất nước Đức cũng mang lại những thành quả rất tốt đẹp, tuy rằng vẫn còn sự cách biệt giữa Đông và Tây về cách sống, của cải, quan điểm chính trị,… Nhưng tựu chung, đô thị và làng mạc ở Đông Đức trở nên khang trang, sạch sẽ hơn, bớt ảm đạm, đời sống dân chúng cũng sung túc hơn và mức độ ô nhiễm môi trường giảm đi rất nhiều nhờ đó một số bệnh tật do ô nhiễm môi trường sinh ra cũng giảm bớt. Thành phố Mölbis là một điển hình, trước 1990 lượng ô nhiễm sulfur dioxide (SO2) trong không khí cao hơn 10 lần mức độ cho phép, người dân Mölbis hay bị những bệnh như viêm phế quản, hen suyễn. Hai mươi mấy năm sau, nhà cửa trở nên rất tươm tất, nụ cười đã nở trên môi người dân ở đây, điều quan trọng nhất là độ ô nhiễm sulfur dioxide đã giảm xuống rõ rệt. 

Mặc dù khoảng 70% số tiền chuyển qua Đông Đức được dùng để trả tiền thất nghiệp và xã hội, nhưng về hạ tầng cơ sở cũng được xây dựng thêm rất nhiều, trong vòng 25 năm Đông Đức đã có thêm được 1.300 Km đường xá, trong khi đó ở Tây Đức chỉ có thêm 1.000 Km tuy rằng diện tích Đông Đức nhỏ hơn Tây Đức rất nhiều. 

Từ 1990 đến năm 2013, đời sống dân Đông Đức đã có những thay đổi tuy chậm nhưng cũng có những nét rõ rệt. Thí dụ như năm 2013 trung bình người Đông Đức lãnh khoảng 80% tiền lương của người Tây Đức, so với năm 1990 chỉ có 50% [4], tỷ lệ thất nghiệp năm 2013 ở Tây Đức là 6% trong khi ở Đông Đức là 10,3% [5] gần gấp đôi nhưng là mức thất nghiệp thấp nhất kể từ ngày thống nhất.

Thống kê của viện nghiên cứu tư tưởng Infratest dima gần đây cho thấy chỉ có 15% dân Đông Đức nhận thấy „thống nhất“ bất lợi cho họ, trong khi đó ở Tây Đức có 25%. Tựu chung dân chúng Đức đa số rất hài lòng với chuyện „thống nhất“. Ở Đông Đức có 96% và ở Tây Đức có 66% thanh niên thiếu nữ dưới 29 tuổi cho rằng „thống nhất“ mang lại cho họ nhiều lợi lộc như tự do du lịch, tự do cá nhân, tiêu chuẩn sống. Đối với giới trẻ sự khác biệt giữa Ossi và Wessi (danh từ để chỉ dân Đông Đức và Tây Đức) không còn là một khoảng cách nữa. „Bức tường trong đầu“ của họ (Mauer im Kopf) giữa đông và tây đã bị xập từ lâu rồi. 

Nhưng không phải ai cũng bỏ được „bức tường trong đầu“ của họ, sau 45 năm trời không ít thì nhiều chế độ độc tài đã để lại tì vết trên sự suy nghĩ của người dân Đông Đức. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan được sinh sôi nẩy, bởi vì nơi nào có đàn áp thì nơi đó bạo lực có cơ hội phát sinh. Đầu năm 2015, cuốn phim "Wir sind jung. Wir sind stark." (Chúng tôi trẻ. Chúng tôi mạnh mẽ.) được trình chiếu tại Đức do đạo diễn trẻ Burhan Qurbani quay. Ông là con của một gia đình gốc A Phú Hãn tỵ nạn chính trị tại Đức. Ông mô tả lại cuộc tấn công của bọn cực tả vào những chung cư của các người tỵ nạn ở Rostock, một tỉnh lớn ở Đông Đức, vào mùa Hè 1992. Những chai xăng (Cocktail Molotov) được ném vào nơi người tỵ nạn ngoại quốc đang ở và đốt cháy một chung cư trong đó có 100 người thợ khách Việt Nam đang cư ngụ. May mắn thay không có người Việt nào bị tử vong. Hiện nay tòa án Đức đang xét sử vụ án được mang tên là NSU. NSU (Quốc Xã Ngầm) là một nhóm cực hữu bài ngoại phát xuất từ tỉnh Jena ở Đông Đức đã gây ra 10 vụ án và 2 vụ đánh bom từ năm 2000 đến 2007 làm chết 1 cảnh sát và 8 người ngoại quốc sống ở Đức (7 người Thổ Nhĩ Kỳ và 1 người Hy Lạp). Nhưng đây chỉ là hành động của một thiểu số rất nhỏ ở Đông Đức không phải đại diện cho toàn thể đại đa số dân chúng. 

Ước mơ thành đạt

Từ ước mơ „Chúng tôi là một dân tộc“, dân tộc Đức đã hóa giải hận thù để thống nhất đất nước. Sự thành công nào, trước tiên cũng phải đi từ lòng khao khát và sự quyết tâm tranh đấu của người dân cho tự do, dân chủ. Cũng phải thêm rằng được như vậy cũng nhờ sự sáng suốt của các chính trị gia Đức. Như cựu Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt (1969-1974), người được giải Nobel Hòa Bình năm 1971. Trong suốt thời gian hoạt động chính trị, ông đã hành động theo phương châm „Gìn giữ hòa bình“ và đã đề ra chính sách Phương Đông (Ostpolitik) để tạo nền tảng cho sự thống nhất sau này. Hay cựu Thủ tướng Helmut Kohl (1982-1998), còn được mệnh danh là Thủ tướng của thống nhất, cũng theo đuổi chủ trương „Hòa giải thay vì chia rẽ“ đã đưa ra chương trình 10 điểm đúng lúc để tạo thuận tiện cho sự thống nhất trong đó bao gồm hòa giải dân tộc, phục hồi kinh tế Đông Đức và gìn giữ hòa bình châu Âu.

Trải qua hai Thế chiến rồi đến Chiến tranh Lạnh, dân tộc Đức hiểu rất rõ về những hệ lụy của chiến tranh. Bởi vì trên mảnh đất này dù ai thắng dù ai thua, dân tộc Đức cũng là người phải gánh chịu cái hậu quả tan cửa nát nhà, chết chóc điêu linh. Ngay những người trí thức được Đông Đức ca tụng như Bertholt Brecht (1898–1956), một nhà văn và cũng là một nhà soạn kịch, trong vở kịch „Cuộc đời của Galilei“ (Leben des Galilei) cũng nói lên được cái thảm họa của chiến tranh qua  một câu rất chí lý „Thương thay một đất nước quá nhiều anh hùng“. Một đất nước quá nhiều anh hùng, hẳn đất nước ấy phải trải qua nhiều cuộc chiến, phải nhận lắm điêu linh và hẳn dân chúng phải chết chóc sống lầm than cơ cực, hẳn sẽ mở cửa cho ngoại bang lợi dụng bước vào và còn rất nhiều nữa.

Cựu Thủ tướng Helmut Kohl đã từng nói, người Đức không có nhiều điều để hãnh diện về lịch sử của dân tộc mình, nhưng người Đức có tất cả các lý do để hãnh diện về sự thống nhất đất nước họ. Và ông Kohl đã có lý, bởi vì người Đức thống nhất đất nước mà không cần đến một viên đạn. Họ đã trở nên một cường quốc về kinh tế, một trong những quốc gia đứng hàng đầu châu Âu về sức mạnh chính trị và trên chính trường quốc tế, tiếng nói của bà Merkel, thủ tướng đương nhiệm Cộng hoà liên bang Đức, buộc các nguyên thủ quốc gia khác phải lắng nghe.

Chúng ta thử hỏi nếu người Đức làm ngược lại những gì họ làm trong 25 năm qua cho sự thống nhất thì nước Đức có còn được như ngày hôm nay không? Hay là họ sẽ đi về đâu? Quo vadis?

Lương Nguyễn

Tài  liệu tham khảo:
[1] Der Bau der Berliner Mauer: Berlin.de 
[2] Berliner Mauer: Wikipedia
[3] 25 Jahre nach Mauerfall, Was macht eigentlich Margot Honecker?
[4] Deutsche Welle: „Deutsche Einheit in Fakten“
Iveta Ondruskova, 02.10.2013
[5] Bundesagentur für Arbeit (BA): Arbeitslosigkeit im Zeitverlauf 02/2014
(BPB Arbeitslose und Arbeitslosenquote)
[6] Spiegel Online: Bilanz zur Wiedervereinigung, Ostdeutsche Wirtschaft hinkt dem Westen hinterher, 24.09.2014