Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai HẠC VÀNG ĐÃ BAY ĐI

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

HẠC VÀNG ĐÃ BAY ĐI

In PDF.
NT2 Paul Dương Xuân Kính

1. Tin dữ đến với tôi trưa ngày Chúa Nhật 27/9, báo cho biết Paul Dương Xuân Kính, người bạn quý và ân nhân của tôi, đã từ giã cõi đời, sau ba tháng lâm trọng bệnh. Tôi không ngạc nhiên, bởi sự ra đi của anh tôi linh cảm sau lần mới đây viếng thăm anh tại bệnh viện có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Riêng tôi chuẩn bị tinh thần để đối phó với tình huống cuối cùng xấu nhất, trong nỗi lo âu lẫn hy vọng về một phép lạ mong manh, quá hiếm trong xã hội đảo điên hiện tại, đang chối bỏ, hoặc chống đối, Thiên Chúa và những giá trị đạo đức truyền thống. Đêm đêm nguyện cầu cho anh được tai qua nạn khỏi.

 

Không ngạc nhiên, mà trước hung tín lòng thấy rụng rời, mà lệ hoen khoé mắt. Khóc thương anh. Trung tuần tháng tám, Harry Norman, người bạn chung, phó Viện trưởng Đại Học Fullerton, nghe tin anh bị bệnh, đã lái xe từ Cali lên thăm, thấy anh có vẻ khoẻ, mời anh ra phố dùng cơm. Anh từ chối đi tiệm, mà muốn đến ăn tối tại nhà tôi, do tôi mời. Buổi sáng, Loan, vợ tôi, đi chợ, chuẩn bị chu đáo những món anh thích. Lúc ấy, trông anh vui vẻ, tươi tắn, yêu đời, không tỏ dấu gì có bệnh. Ăn hết món chót là tô phở gà. Cụng ly để “dô dô” cùng với chúng tôi, nhắp một hớp nhỏ, rồi để xuống bàn. Anh cười nói nhiều, bày tỏ hy vọng sẽ qua khỏi. Chúng tôi cũng thế, vì tin tưởng vào tiến bộ của y khoa hiện đại và lời cầu xin Thiên Chúa Toàn Năng. Còn hẹn khi nào anh lành bệnh sẽ mởchampagne uống mừng. Khi tiễn nhau tại cửa, anh nhắc tôi, đừng quên hug anh. Tôi ôm anh trong vòng tay thật lâu, mà cảm động, nước mắt lưng tròng. Như tại bệnh viện, hai tuần sau, lúc từ biệt, tôi đã nắm cánh tay gầy guộc của anh đặt lên môi, lên má tôi, cũng thật lâu. Không ngờ, tất cả đó cũng là lần chót trong đời.

 

Vậy mà anh đã nằm xuống, thật rồi. Chịu thua, bất lực trước Định Mệnh ác nghiệt nỡ vung dao đâm chết một chút hy vọng nhỏ nhoi, bình thường của một người chưa muốn bỏ cuộc. Từng lũ kỷ niệm có anh, với anh, chen nhau, ùa về, chật hồn. Ôi, còn nhớ vô cùng những ngày mới đến miền đất hứa, lêu bêu giữa chợ đời hỗn tạp, cá mè một lứa, tôi được gặp anh, một người chưa từng quen biết trước kia, được anh quý mến, giơ tay, vực dậy, vỗ về. Che chở trước những tấn công vũ bão của một số kẻ vô cớ thù ghét tôi. Chở đến các trường PSU và UO ghi danh học lại, tình nguyện co-sign mượn tiền student loan –chỉ vì biết tôi là sĩ quan giảng huấn, từ khóa 4, của Trường Đại Học CTCT xa xưa, nơi anh đã tốt nghiệp khóa 2 vài năm trước. Tình nguyện tìm việc dù nhỏ, để tôi có tí tiền dằn túi, như lăn tay, chụp hình, làm thẻ xanh và quốc tịch cho di dân, dưới basement của Trung tâm La Vang, mỗi cuối tuần. Mướn phòng trọ giùm, và chở giúp đồ đạc đến “nhà” mới, giới thiệu với bạn bè, người quen của anh. Đối xử trong tình anh em, ruột thịt, trăm lần nặng hơn tình cliché huynh đệ chi binh. Không có anh, đời tôi chắc đã rẽ sang ngã khác, không bao giờ được như bây giờ. Anh đích thực là thiên thần hộ mệnh của tôi, là quý nhân mà Thiên Chúa Quan Phòng đã gửi đến để phù trợ tôi trong chặng đường lưu lạc, cô đơn, thất vọng trên xứ người, sau khi phải trải qua mười năm địa ngục tại quê nhà.

 

2. Thi ân, nhưng anh kín đáo, chưa hề nói với ai điều đó. Chưa bao giờ trưng ra thư từ, tài liệu để kể lể công lao, như những kẻ nhỏ mọn thường làm. Ơn đó, không ai biết, không ai hay. Và bây giờ tôi muốn lặp lại ơn nghĩa ấy, sau khi anh vĩnh viễn xa lìa bạn bè giữa lúc cuộc chơi đang hào hứng và sức sống trong anh còn mãnh liệt. Lặp lại, như một lời tri ân chân thành nhất, buồn bã nhất, đau đớn nhất của người trên dương thế gửi người dưới huyệt mộ mà từ nay sẽ vô vàn cách trở.

 

Một nét cao đẹp nữa trong con người anh. Lúc sinh thời, trong chức vụ Trưởng Phòng Điều Hợp Tỵ Nạn và Di Trú Thành Phố Portland, anh gặp phải nhiều điều phiền nhiễu, khó chịu, gây ra bởi những kẻ tị hiềm, ghen ghét, vu khống, đánh phá anh. Nhưng anh không bao giờ giận, hoặc để bụng thù hận ai. Trái lại, vẫn vui vẻ, lịch sự, hòa nhã với mọi người, và nếu có ai trong số kẻ này, về sau, cần nhờ anh giúp cho việc gì, anh sẵn sàng rộng mở vòng tay. Anh thường tâm sự với tôi về những chuyện không vui ấy, và lần nào cũng nói, như một triết gia thuộc phái Khắc kỷ (Stoicism): “Thôi kệ, đời là thế!”  

 

Và bình thản, miệt mài, chu toàn nhiệm vụ, tích cực giúp các sắc dân thiểu số tỵ nạn trong số có rất nhiều đồng hương ta mới đến Portland, hội nhập vào đời sống mới. Đồng thời, giúp người dân bản xứ và cảnh sát Mỹ biết tập tục, văn hóa của di dân để tránh những sự việc không hay có thể xảy ra bởi hiểu lầm nhau. Thành quả tốt đẹp đã làm những đồng nghiệp nể nang, khen ngợi, và các Thị trưởng xem anh như “phụ tá”, hoặc “cố vấn” cần thiết, bất khả thay thế, trong vấn đề di trú, đặc biệt Việt Nam. Đến nỗi, anh kể, Thị trưởng lúc đó là Bud Clark, để tưởng thưởng anh, đã đề nghị cho anh học tu nghiệp MA về Public Administration (MPA) tại PSU với sự tài trợ của Thành Phố Portland văn bằng mà anh đã hoàn tất vẻ vang, năm 1990, sau năm năm vừa đi làm vừa đi học.

 

3. Văn Phòng Điều Hợp Tỵ Nạn và Di Trú của anh có ra hàng tháng một tờ Bản Tin (Bulletin). Lúc đầu, chỉ có hai trang, chủ yếu báo cáo công tác đã thực hiện. Khi tôi thôi dạy trường Đại Học EWU, Cheney, về sống hẳn tại Portland, anh nhờ tôi phụ trách phần “ướt át” cho Bản Tin, nghĩa là viết những bài có tính cách văn chương lãng mạn, còn anh lo phần tin tức liên quan đến sinh hoạt Cộng Đồng VN và Văn Phòng Điều Hợp của anh, cộng lại thành bốn trang. Tôi  ngần ngại, viện lẽ thiếu kinh nghiệm làm báo. Nhưng sau được anh khuyến khích, thuyết phục, tôi nhận lời, phần lớn bởi tình bạn và muốn trả ân sâu cho anh. Dần dần, người ta biết rõ công việc của anh và Văn Phòng Điều Hợp Tỵ Nạn, nhờ đọc Bản Tin  trở thành cầu nối giữa anh và Cộng đồng.

 

Một hôm, đang viết bài cho Bản Tin, tôi đọc được ở đâu hai câu dịch hay tuyệt từ một bài thơ của Thôi Hiệu, trong đó thi nhân thấy khói sóng trên sông mà lòng buồn nhớ cố hương. Hỏi anh xuất xứ và được anh cho biết đó là bài “Hoàng Hạc Lâu”. Hôm sau anh mua tặng tôi một tập sách về thơ Đường có in nguyên tác và những bản dịch bài thơ đó của Thôi Hiệu. Tôi mê ngay tính chất đài các, cô đọng, và vô cùng lãng mạn của nó:

 

Lầu Hoàng Hạc (dịch nghĩa)

 

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,

Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc

Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại

Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không

Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một

Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi

Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?

Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người

 

Tôi không ngờ một công chức với việc làm “khô khan” như anh lại rành rẽ về thơ, lại còn viết văn và làm thơ nữa, tuy ít, mà hấp dẫn, lôi cuốn. Như một bài thơ tình nhẹ nhàng sau đây của anh đọc nghe rất tiền chiến, rất Thế Lữ, được đăng trong Đặc san Ức Trai, Xuân Bính Dần, 1986, của Hội Ái Hữu cựu SVSQ/ĐH/CTCT/ĐL tại Oregon, lúc bấy giờ do anh làm Hội trưởng:

 

Xuân tưởng

 

Xuân ở bên này vắng ý thơ

Trong ta thao thức nỗi mong chờ

Vắng em xuân đến hoa không thắm

Thương mối tình xưa quá dại khờ 

 

Mối tình thơ chớm ngày xuân xanh

Hoa bướm ngày xưa rộn yến oanh

Sao em không đợi mùa xuân chín

Để những ngày vui tan biến nhanh

 

Đêm vắng mình ta dõi ánh trăng

Thuyền xa sóng vỗ mộng cung hằng

Muốn nhờ mây nhắn người xa cách 

Thấu nỗi tình ta khôn nói năng

 

Xuân ý bên trời xuân viễn phương

Xuân xa tưởng tiếc bóng huyên đường

Biết ngày hạnh ngộ như mơ tưởng

Sao cõi lòng ta mãi vấn vương

 

Hôm nay, nhớ về anh, và đọc lại Thôi Hiệu và bài thơ của anh, tôi không khỏi thấy lòng xót xa, tê tái bởi hình ảnh muôn đời chia ly buồn thảm trong thi ca và cuộc đời. Trong “Hoàng Hạc Lâu”: Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi (Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ)... Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại (Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản)Và trong bài thơ “Xuân tưởng” của anh: Biết ngày hạnh ngộ như mơ tưởng.

Hỡi ơi! Anh bây giờ như cánh hạc vàng đã bay đi. Như tình đã bay đi. Còn mong chi ngày tái ngộ? Nhìn lên cao, chỉ còn là mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không (Bạch vân thiên tải không du du).

 

4. Thôi nhé, Kính ơi, hãy ngủ giấc ngủ êm đềm có mình ta dõi ánh trăng, và có thuyền xa sóng vỗ mộng cung hằng, như anh đã một lần mơ ước trong thơ. Hãy say mộng bình an và hạnh phúc vô tận trên cõi Thiên Đàng. Anh đã được đưa về nhà rồi đó, như trong giờ hấp hối, nghe ai kể, anh đã yêu cầu người cháu linh mục, mặc dù đang nằm tại tư gia. Về nhà Chúa, nhà Cha đó mà, sau khi trả lại hết vinh quang và tủi nhục, hạnh phúc và khổ lụy, yêu thương và thù hận... cho cuộc đời tạm bợ này. Tôi tin rằng Cha, rằng Chúa, qua lời van xin thiết tha như tự trong đáy tiềm thức, đã đưa anh về nhà, trên thiên quốc.

 

Và nếu phải mang theo điều gì về trên ấy, thì Kính đừng quên những kỷ niệm của tất cả chúng ta, giữa tất cả chúng ta, và nỗi tiếc thương biết mấy cho vừa của những người yêu thương anh qua suốt cuộc đời này. Và của riêng tôi, người bạn, và người mang ơn anh, trong ba mươi năm nay.

Kỷ niệm. Biết bao là nhớ. Verlaine há đã chẳng thở than, Souvenir, souvenir, que me veux-tu? (Kỷ niệm, kỷ niệm, ngươi muốn gì nơi ta?). Cũng như Xuân Diệu há đã chẳng hỏi: Mà kỷ niệm ôi, còn gọi ta chi...

 

Kỷ niệm. Ôi, mới đó mà đã qua hết một thời để thương yêu. Và còn lại, một thời để tiếc nuối. Như cánh hạc vàng đã bay đi. Như mây bay mãi, ngàn năm. Từ đây.

 

 

Portland, 30/9/2015

Kim Thanh Nguyễn Kim Quý