Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Bạn Đọc Viết Chặt đuôi cho quốc dân nhờ!

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Chặt đuôi cho quốc dân nhờ!

In PDF.


“Chủ nghĩa xã hội đơn giản chỉ là con đường dài nhất đi từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa tư bản (Socialism was simply the longest road from capitalism to capitalism)” - Jeffrey D. Sachs, Harvard University.

alt

“Không biết lúc nào đến Thiên đường?”, tranh biếm họa về Chủ nghĩa xã hội của Kuang Biao

oOo

Đầu xuân con Dê 2015, Đinh Thế Huynh, ông trùm Tuyên giáo của Đảng, hồ hởi phấn khởi cho rằng Đảng đã bước đầu hình thành hệ thống lý luận cơ bản về Chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Ông Huynh còn lạc quan tếu với hy vọng hệ thống lý luận đó sẽ được hoàn thiện vào năm 2020! Trong lúc trống Đảng đánh xuôi thì kèn Chính phủ lại thổi ngược, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đòi đổi khái niệm định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong cái gọi là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN qua phát biểu: “Còn định hướng XHCN là Nhà nước sẽ dùng chính sách, dùng công cụ, dùng nguồn lực của mình để điều tiết, để phân phối, phân phối lại, bảo đảm cho tiến bộ công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo…”. Sự mâu thuẫn đó cho thấy Đảng vẫn muốn bám víu theo mô hình XHCN truyền thống dựa trên chủ thuyết kinh tế chính trị Marxist – Leninist. Ngược lại, người đứng đầu Chính phủ đang có xu hướng ngả theo mô hình Nhà nước phúc lợi kiểu Bắc Âu. Ông Thủ tướng chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa: “Tất cả phải đi vào kinh tế thị trường và đã là thị trường thì phải thực hiện đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, trước hết là giá cả, phân bổ nguồn lực phải theo thị trường. Và đã thị trường thì phải công khai, minh bạch, bình đẳng”. Ông Dũng còn đi xa hơn nữa khi tuyên bố: “Kinh tế thị trường là thế nào, định hướng XHCN là thế nào, phải nói cụ thể, đã đến lúc không thể chung chung nữa”. Mặc dầu nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được áp dụng vào thực tiễn ở Việt Nam từ 29 năm qua, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một cái định nghĩa chính xác, đầy đủ và hoàn chỉnh cho khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN.


Tại Việt Nam, sau khi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp theo kiểu Liên Xô thất bại hoàn toàn, những nhà lãnh đạo Đảng loay hoay tìm cách đổi mới. Tại Đại hội VI năm 1986, phe cấp tiến mà đại diện là Nguyễn Văn Linh, Trần Xuân Bách, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch… muốn đổi mới nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường tự do, nhưng số đông bảo thủ mà cầm đầu là Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng…thì không muốn xa rời mô hình XHCN truyền thống. Dường như để tìm một sự thỏa hiệp từ cả hai phe, cái đuôi “định hướng XHCN” bị cưỡng ghép với cái đầu “kinh tế thị trường”, thế là khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN ra đời, nhưng phải chờ 15 năm sau, khái niệm đó mới được thể chế hóa tại Đại hội IX năm 2001. Trong thời kỳ đầu Đổi mới (1986-1989), Đảng rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về lý luận và chính sách kinh tế. Những nhà lãnh đạo đất nước chưa biết lái con thuyền Việt Nam đi theo hướng nào vì những cuộc tranh luận nảy lửa luôn diễn ra trong nội bộ giới lãnh đạo chóp bu của Đảng vẫn chưa đến hồi ngã ngũ. Tình trạng rối như canh hẹ về đường lối phát triển kinh tế ở Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới giống y hệt như những gì xảy ra ở Trung Cộng hồi đầu những năm 1980 khi họ bắt đầu công cuộc “Cải cách Khai phóng”. Trần Vân, kiến trúc sư trưởng của chương trình Cải cách Kinh tế Trung Hoa, đã thú nhận quá trình cải cách này cam go như việc “vác đá dò đường qua sông” (mạc trữ thạch đầu quá hà)!

alt

Kinh tế thị trường định hướng XHCN

Sau sự kiện CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ hàng loạt vào năm 1989, lo ngại về một viễn cảnh Đảng sẽ bị giải thể ở Việt Nam, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh rời bỏ phe cấp tiến để chạy về phe bảo thủ. Do có tư tưởng cấp tiến mạnh mẽ, với mong muốn đổi mới triệt để theo xu hướng đa nguyên, đa đảng, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 3 năm 1990), Trần Xuân Bách đã bị Nguyễn Văn Linh kỷ luật, loại ra khỏi Bộ Chính trị (BCT) và Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW). Ông Bách trở thành “liệt sĩ” của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam. Để bảo vệ CNXH, tại hội nghị Thành Đô, Linh cùng phe bảo thủ hướng tới Bắc Kinh cầu hòa và chịu chấp nhận trả giá đắt cho việc bình thường hóa quan hệ Trung – Việt. Theo Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch thì đây là “một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự”. Không lâu sau đó, để làm hài lòng Bắc Kinh, Nguyễn Cơ Thạch, tại Đại hội VII năm 1991, bị đưa ra khỏi BCT.


Đại hội VII năm 1991 chính thức xác tín việc Hà Nội nép mình vào quỹ đạo của Bắc Kinh, phe bảo thủ giáo điều do Đỗ Mười cầm đầu nghiễm nhiên cầm trịch Ba Đình. Thay vì chuyển hẳn sang kinh tế thị trường đích thực, họ vẫn cứ khư khư giữ lấy cái đuôi “định hướng XHCN”. Từ đó cái đuôi “định hướng XHCN” giống như cái đuôi của quỷ sa tăng quấn chặt lấy tư duy kinh tế Việt Nam. Đổi mới ở Việt Nam chỉ còn là một cuộc cải cách kinh tế nửa vời, lợi bất cập hại. Đến Đại hội VIII năm 1996, dưới sức ép của Trung Nam Hải, lãnh đạo phe cấp tiến là Võ Văn Kiệt bị tống về vườn mặc dầu ông Kiệt là kiến trúc sư trưởng của công cuộc Đổi mới. Như vậy, những lãnh đạo có ý định chặt cái đuôi “định hướng XHCN” như Trần Xuân Bách, Nguyễn Mạnh Cầm, Võ Văn Kiệt, kẻ trước người sau, lần lượt bị hất khỏi chính đàn.


Do vẫn trung thành với chủ thuyết Marxist – Leninist, phe bảo thủ giáo điều lập luận rằng: một nền kinh tế XHCN có kế hoạch hóa tập trung chỉ có thể hình thành bằng cách cho phép thành lập một nền kinh tế thị trường hàng hóa và để tự nó phát triển đến mức độ cao nhất và khi hoàn thành vai trò lịch sử của nó thì sẽ từ từ chuyển hóa sang kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Vì thế, họ ra sức duy trì “định hướng XHCN” ở Việt Nam trong 29 năm qua bằng cách bảo hộ chế độ công hữu và giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thông qua các tập đoàn kinh tế. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với kinh tế thị trường đề cao chế độ tư hữu. Thực tế cho thấy các tập đoàn kinh tế nhà nước trực thuộc Chính phủ, mà ông Thủ tướng gọi là các “quả đấm thép”, cho dù đã nhận được tất cả sự ưu ái của Nhà nước như chính sách, nguồn nhân lực, tài chính, đất đai… nhưng vẫn làm ăn thua lỗ. Đơn giản là vì giới lãnh đạo chóp bu móc ngoặc với các tập đoàn kinh tế, thông qua cơ chế “xin cho” để tham ô ngân sách. Từ đó hình thành nên các “nhóm lợi ích” nhằm kiểm soát và khai khác nguồn lợi kinh tế quốc gia. Thống kê cho thấy khối doanh nghiệp nhà nước dùng đến 70% nguồn lực quốc gia mà chỉ đóng góp 30% GDP. So với khối doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả thì hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đều làm ăn thua lỗ, đang trên con đường dẫn đến phá sản. Vinashin, Vinalines, Sông Đà … là những ví dụ điển hình.


Bởi các “nhóm lợi ích” kiên trì cái đuôi “định hướng XHCN” nên Việt Nam đang tồn tại một phức thể kinh tế – chính trị tước đoạt (extractive economic –
political institutions) mà ở đó thu nhập hay của cải của số đông người dân được khai thác để phục vụ cho một nhóm nhỏ những người cầm quyền và một số ít đối tượng liên quan (Việt Nam, Trung cộng, Nga, và một số nhà nước độc tài có những đặc trưng loại hình thể chế kinh tế này). Nhưng những ai đòi chặt cái đuôi “định hướng XHCN”, cũng chính là đòi đập bể nồi cơm của các “nhóm lợi ích”, đều bị chụp cho cái mũ chống phá chế độ XHCN. Tuy đang duy trì một thể chế kinh tế tước đoạt, ấy vậy mà mấy năm gần đây Việt Nam lúc nào cũng yêu cầu quốc tế công nhận Việt Nam là thể chế kinh tế thị trường, điều này chẳng khác gì một con quái vật đầu người (kinh tế thị trường) đuôi quỷ sa tăng (định hướng XHCN) bắt người ta công nhận mình là người!


Nếu ai đó còn mơ hồ về bản chất của nền kinh tế Việt Nam, hãy xem Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XII sẽ diễn ra vào đầu năm 2016, trong đó Đảng đã nêu ra định nghĩa mới về khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bỏ qua những câu, từ ngữ sáo rỗng vô vị thường thấy, chỉ đọng lại vài câu cốt lõi: “… có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo… kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Vậy là rõ, kinh tế tư nhân, động lực quan trọng của nền kinh tế, phải chịu cảnh một cổ ba tròng, đó là Nhà nước quản lý, Đảng lãnh đạo và Chính phủ (kinh tế nhà nước) chủ đạo! Đấy không phải thể chế kinh tế tước đoạt là gì?


Vậy, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam thực chất là thể chế kinh tế tước đoạt dựa trên việc bán tài nguyên, nhận Kiều hối, vay nợ và xin viện trợ nước ngoài. Chính vì quá hiểu bản chất kinh tế Việt Nam, nên ông Thủ tướng Úc Tony Abbott kiên quyết cúp viện trợ cho Việt Nam. Ông Abbott nói: “Xem đi, hiển nhiên điều quan trọng nhất cho tất cả các nước phải bảo đảm kinh tế trong nước sao cho ổn định, chứ kinh tế trong nước không ổn định được thì ra ngoài thế giới rất khó làm người bạn tốt hay làm láng giềng tốt, mục tiêu của viện trợ không phải là để tạo ra một mối quan hệ phụ thuộc lâu dài, mà mục tiêu của viện trợ là nhằm  bảo đảm cho các nước được giúp đỡ phát triển đến một mức mà họ không cần giúp nữa”. Nguyên văn: “Look, obviously it’s important for all countries to ensure that their own domestic economic house is in order, because if you don’t have your domestic economic house in order, it’s very difficult to be a good friend and neighbor abroad, the objective of aid is not to create a relationship of permanent dependency, the objective of aid is to ensure that countries are helped to develop to the point where they don’t need aid any more”.

alt

“Đến hết thế kỷ này không biết đã có Chủ nghĩa Xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?” ( Lời của Lú)

Úc, một nước cấp viện trợ sớm nhất cho Việt Nam, nay xem ra cũng hết kiên nhẫn về cái gọi là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Để hội nhập, để được các nước công nhận, để phát triển kinh tế và nhất là để quốc dân được nhờ, liệu giới lãnh đạo chóp bu Hà Nội có dám làm một cuộc đại giải phẫu, chặt đứt cái đuôi “định hướng XHCN” của quỷ sa tăng này hay không? Và liệu ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đang mơ màng về một mô hình Nhà nước phúc lợi kiểu Bắc Âu, có dám làm một cuộc cải cách triệt để hay không? Chợt nhớ đến câu hỏi của một ông Tổng bí thư nổi tiếng lú lẫn rằng: “Đến hết thế kỷ này không biết đã có Chủ nghĩa Xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?”, xin mạn phép nhại thơ Tố Như mà trả lời:


Bất tri tam bách dư niên hậu,
Việt quốc vị năng bỉ Bắc Âu?
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Việt Nam kịp sánh với trời Âu?)


Đinh Bá Truyền