Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai CHUYỆN VÃNG CUỐI NĂM

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

CHUYỆN VÃNG CUỐI NĂM

In PDF.



Thời tiết cuối năm trên vùng Tây Bắc Hoa Kỳ thường bao giờ cũng lạnh và mưa. Nhiều khi tuyết phủ trắng đất trời. Không gian lúc nào cũng một màu xám xịt ảm đạm khiến lòng người cũng buồn theo và dễ chạnh nhớ đến những ngày xưa cũ. Tôi ngồi đọc lại Ỷ Thiên Đồ Long Ký của Kim Dung. Đọc đến đoạn Trương Vô Kỵ cùng Tiểu Siêu đuổi theo Viên Chân (Hổn nguyên Phích lịch thủ Thành Khôn) xuống tận đường hầm bí mật ở Quang Minh Đỉnh. Cũng nhờ bị Viên Chân lừa nên Vô Kỵ mới có cơ duyên tìm thấy 2 bộ xương khô của vợ chồng giáo chủ Minh giáo Dương Kính Thiên. Rồi lấy đươc bí kiếp Càn Khôn Đại Na Di Tâm Pháp. Do chưa kịp đọc và học bí kiếp nên chưa thể mở được cánh cửa đá che đường hầm để thoát ra. Nhưng nhờ nghe tiếng hát Tiểu Siêu qua bài kệ nói về kiếp đời nhân thế mà hiểu được việc mình phải làm để thoát nạn. Tôi vừa đọc vừa liên tưởng về kiếp đời lận đận của chúng ta hơn 40 năm nay. Tôi trích lại mấy dòng kệ trong bài ca của Tiểu Siêu gởi các bằng hữu thân quý đọc để cùng cảm khái về kiếp đời:



    Chớ nên cau mặt nhíu mày.
    Cũng đừng vỗ ngực ta hay, ta giàu.
    Đẹp giàu phỏng được bao lâu.
    Ngày nào xanh tóc, giờ đầu bạc phơ.
    Giàu sang khôn khéo có thừa.
    Khác chi nghèo khó, đần ngu vậy mà.
    Có người thì cũng có ta.
    Xưa nay, đây đó, vốn là như nhau.
    Cỏi trần kẻ trước người sau.
    Cuối cùng cũng đến cái cầu xuôi tay.



Bản dịch bài kệ trong sách Ỷ thiên Đồ Long ký của Kim Dung quả nhiên không được hay nếu chỉ nói riêng về văn chương cú pháp. Có điều ý tưởng và triết lý thì rất rõ ràng, sâu xa và dễ hiểu. Không biết có ứng nghiệm được chút nào vào cuộc đời của chúng ta hay không.



Riêng “cái cầu xuôi tay” là chỗ đứng của ông thần Tô-bia. Dân kaki chúng mình ngày trước ớn nhất ông thần nước mặn nầy. Trong bất cứ trận chiến ác liệt nào, nếu phe ta có người tử trận là y như rằng gã thần tô bia xuất hiện. Tôi đặt tên cho gã là tử thần mặt trắng. Lúc xưa nhiều anh em trong phe ta đã từng nghe, từng biết. Một số lớn đã từng đối mặt hoặc từng đi thăm vị thần xui xẻo nầy. Tôi từng gặp gã hai lần. Lần đầu ở vùng Suối Cụt Củ Chi. Lần đó nhờ nhanh tay nổ súng trước nên gã mặt trắng bỏ chạy về phía Bầu Điều. Lần thứ hai ở mặt trận Bàu Me Trảng Bàng. Trong lửa khói mịt mù, gã bỗng xuất hiện đột ngột. Trong lúc bất ngờ, gã bấm ngòi nổ một trái 61 đã được gài nguỵ trang sát bên vệ đường. Tiếng nổ chát chúa của quả đạn đã hất bắn tôi ra xa mấy mét. Tôi bất tỉnh từ lúc đó. Lý B2 sau nầy lúc nằm chung mấy tháng ở TYV Cộng Hòa, kể lại là nguyên tấm lưng của tôi bị nát bét, da thịt bầy nhầy đầy tro bụi đen thui thấy mà ghê và hắn cứ nghĩ là tôi đã chết.



Chưa vừa ý, gã mặt trắng sau đó chừng nửa giờ ghé thăm luôn hai ông bạn sĩ quan chung đơn vị. Hình như tôi bị hôn mê bất tỉnh cả giờ đồng hồ. Đến khi lơ mơ tỉnh lại vì tiếng động cơ nổ quá lớn trong tiếng gầm rít của chiếc trực thăng đang xé gió, tôi thấy mình đang nằm trên băng ca trong một chiếc trực thăng tản thương, thân thể bị bó chặt. Đờ đẩn đưa mắt sang bên, tôi mơ mơ hồ hồ thấy thẩm quyền Delta đang ngồi nhăn mặt đau đớn. Tay ôm chặt đầu gối đã được băng bó một khối to bự cở gấp hai ba lần đòn bánh tét lớn cuối năm. Ở góc trên, Lý B2 đang đau đớn rên siết, nguyên một chân phải của hắn bị nẹp cứng ngắt từ háng đến bàn chân. Máu ở chân hắn thấm đẩm qua mấy lớp vải ga quấn chặt bên ngoài. Địch đã lấy của Lý hết nửa bàn chân. Delta gượng cười trong đau đớn như an ủi, chia sẻ cùng tụi tôi.



Vẫn chưa hết chuyện. Gã thần mặt trắng còn rình rập lảng vảng theo tụi tôi suốt mấy tuần liền ở Tổng Y Viện Cộng Hòa. Cứ mỗi lần chợp mắt, tôi lại thấy gã lấp ló khuôn mặt trắng toát trên đầu giường. May nhờ mấy ông tu-bíp tài giỏi của TYV Cộng Hòa tận tình cứu chữa. Lại được mấy em gái hậu phương mang Thánh hỏa lệnh vào thăm thường xuyên, nói cười vui vẻ nên gã mặt trắng có vẻ bồn chồn, cau có và bực tức. Mấy ngày sau gã lặn mất tiêu không buồn trở lại nói câu từ biệt.



Đó là chuyện của dĩ vãng, tôi tô vẽ chút chút để làm quà mua vui cuối năm. Thực ra cho đến bây giờ, tôi vẫn biết, trước sau gì gã mặt trắng cũng sẽ thăm viếng mình lần nữa (bất quá tam mà). Chỉ không biết là khi nào mà thôi. Vã lại mình già rồi đâu có cần tránh né gã làm gì nữa cho thêm mệt xác. Hai tay gã thường cầm 6 miếng ván gồm 4 dài 2 ngắn, 1 chiếc búa và một mớ đinh. Phía sau có một tên tiểu đồng tóc chúm ba trái đào, đang lâm râm niệm chú cầu nguyện một điều gì đó. Hình như chú tiểu đồng đang hát một câu trong bài nhạc của Phạm Duy: “Đừng lặng thinh, có tiếng chày tiếng búa nện đinh. Đừng toả hương, khói hương vàng che khuất người thương”. Không chừng nội dung cũng giống hai câu thơ của thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan lúc còn thả thơ tình ở Sài Gòn.


    Lúc ra đi hai chân anh đàng trước
    Mắt theo sau còn vương vất cuộc đời…



Buổi chiều gần hết năm, ngẫm chuyện nhân sinh, thấy anh em chúng ta hơn 40 năm qua đã nếm trãi đủ mùi vị của kiếp sống. Hào hùng bằng cả trái tim tuổi trẻ cũng có, bởi lũ chúng mình yêu nước đâu có thua ai. Nhưng trái tim tội nghiệp cũng đã chịu đựng biết bao hờn căm kể cả nhục nhằn đau khổ một cách oan nghiệt sau ngày mất nước. Thế mới biết tại sao chúng ta còn sống ngày nào là còn mãi vương vất với cuộc đời đầy những chuyện phức tạp và mâu thuẩn chung quanh. Hạnh phúc và đau thương, hờn căm rồi phẩn nộ, buồn vui và tan hợp.



Tôi viết đến mấy chữ “Tan hợp” ở trên thì đọc được e-mail của chị Ngọc Đóa, phu nhân của người bạn cùng khóa 2 Phan Gia Khương. Chị báo tin chồng đang trong tình trạng sức khỏe rất xấu. Khương đang suy kiệt và gần như hôn mê tại phòng ICU của một bệnh viện ở Nam Cali. Tôi đọc thư báo tin rất ngắn gọn của chị mà lòng chùng xuống trong bàng hoàng. Bịnh tình của Khương đã diễn biến phức tạp từ nhiều năm nay và chị đã phải bỏ hết công việc để có thời gian săn sóc Khương. Và dù bận rộn chăm sóc Khương, chị vẫn liên lạc với chúng tôi trên Mail Group của Khóa, đôi khi còn pha chút dí dõm vì sợ các bạn lại ưu tư nhiều về bênh tình của Khương trong những ngày cuối năm. Tôi mạn phép chị để trích lại nguyên văn lá thư báo tin của chị (Feb.07/2015) về tình trạng sức khỏe của Khương cho các bạn K2 của tôi còn lưu lạc khắp bốn phương trời. Chị viết:



Hôm qua sức khỏe anh Khương trở xấu, phổi gần như không làm việc.
Bác sĩ phải đặt máy thở như năm 2009 đã làm, và cho thuốc mê để anh nằm yên.
Anh đang được theo dõi rất kỹ vì huyết áp hơi thấp.
Xin cám ơn sự quan tâm, lo lắng của tất cả quý anh chị. Xin mọi người cầu nguyện cho anh sớm
" tốt nghiệp"   ICU và được chuyển sang phòng bệnh thường.
Kính chúc quý anh chị một weekend vui vẻ, bình an, và chuẩn bị các thứ để đón Tết Ất Mùi.


Quý mến,
Bà xã Phan Gia Khương (Ngọc Đóa Post)



Chị gắn bó với ông bạn Biệt Động Quân đồng môn của tôi từ những ngày gian khổ năm xưa cho đến bây giờ như keo sơn và hình bóng. Nhiều khi tôi tự nhủ thầm: Gã bằng hữu Biệt Động nầy quả nhiên có phước. Nhớ Khương là nhớ những ngày lang thang ở Sài Gòn đợi chờ tin tức háo hức, dồn dập từ những người bạn đang ở Hoa Kỳ báo về. Cứ vài tuần, mấy đứa lại gặp nhau để chia sẽ tin tức buồn vui. Đuờng Trần Quốc Toản, ngã tư Duy Tân gần trường Luật, công viên trước dinh Độc Lập cũ là những điểm hẹn thường xuyên trước ngày giã từ Sài Gòn.



Khương ơi! Nhớ có lần ngồi uống nước ở công viên ngã tư hồ con rùa, tao có nói với mầy: Chúng ta đâu có đầu thai lầm thế kỷ, sao tuổi thanh xuân phải chịu nhiều thiệt thòi và tủi nhục. Đó là chuyện của ngày xưa, tưởng đã lãng quên thì lại nhớ. Bây giờ thì cầu chúc cho mầy. Nếu được. Hãy trở lại những ngày xưa cũ dù chỉ một lần. Ở đó ước vọng tuổi thanh xuân lại được đốt lên lần nữa.


Hai mươi tuổi ta bước vào chiến sự
Cháy tuổi thơ và ước vọng tương lai
Đất nước từng đêm vang tiếng thở dài
Bỏ đèn sách ta đi làm chiến sĩ.

Rất đơn giản không rườm rà triết lý
Không giáo điều, không vay mượn tào lao.
Mai kia hòa bình hết chuyện binh đao
Trả súng đạn rồi giã từ cuộc chiến.
(LêTấnDương. Đêm Lâm Vồ độc thoại)



Chưa có dịp trả súng đạn để giã từ cuộc chiến. Đất nước chưa có hòa bình thưc sự như ước vọng thì miền Nam thân yêu đã bị thất thủ trước những người Cộng sản phương Bắc. Đất nước chìm ngập trong điêu tàn, dân chúng cả nước bị đói khổ triền miên suốt hơn hai thập kỷ. Chúng ta thua trận và chịu nhiều đau thương lẽ ra không đáng có. Mất nước là điều đau khổ lớn nhất của một dân tộc, nhất là đối với giới sĩ phu. Nhưng trách ai? Người xưa thường nói “Tiên trách kỷ, hậu trách bỉ ” nên chuyện mất nước đừng nên vội vàng đổ lỗi cho ai. Phải coi lại mình và phải tự trách mình trước. Chúng ta làm chính trị có vẻ tài tử mà không đặt nặng tính chuyên chính. Ngược lại, Cộng Sản luôn quỷ quyệt, thủ đoạn. Họ có nhiều mánh khoé lọc lừa, không cần chữ tín và thừa tàn bạo. Trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 do Cộng sản miền Bắc phát động ngay trong thời gian còn hiệu lực hưu chiến là một thí dụ điển hình. Họ không biết ngượng trong thủ thuật mị dân. Họ đã thắng nhưng chân lý không ở với họ. Mọi việc đúng sai trong cuộc chiến Quốc Cộng nồi da xáo thịt 21 năm, trước ngày Sài Gòn thất thủ 30/4/1975 rồi sẽ có lịch sử mai sau chứng minh. Ta chỉ đau xót một điều là Sài Gòn đã mất. Đau xót hơn nửa là thành phố thân yêu đã bị thay tên mặc dù vẫn biết là tạm thời.



    Tháng tư Sài Gòn đầy nước mắt
    Em đứng gọi ai giữa đất trời
    Gạo vo bằng máu xương của Mẹ
    Mẹ Việt Nam giọt lệ đầy vơi.

    Tháng tư tro bếp tàn chưa nhỉ
    Mà lửa hận lòng vẫn còn sôi
    Lửa tháng tư chưa khô dòng lệ
    Ta gọi thầm em, Sài Gòn ơi. !
    (LêTấnDương. Tháng tư, Saì Gòn và Em)



Chúng ta thì sao? Những người từng chịu đau khổ nhiều năm dài trong kiếp sống hờn căm ở các trại tù tập trung Nam Bắc. Sau thời gian tù đày, cuộc sống lại gian nan lận đận hơn trong một xã hội đầy tính đố kỵ và phân ranh nặng nề về ý thức hệ.


Nhưng ông trời cũng rất công bằng. Không để ai bị thiệt thòi bao giờ. Và sau những đau thương thì chúng ta cũng may mắn được ít nhiều niềm vui trong những năm cuối đời. Ít nhất chúng ta cũng may mắn hơn những chiến hữu còn sống lưu lạc, đói khổ trên quê nhà. Bằng hữu chúng ta chắc chắn ai ai cũng phải nhỏ lệ khi nhìn thân thể tật nguyền của anh chị em thương phế binh VNCH đang phải lê cuộc sống đau thương những năm cuối đời. Hơn ai hết, chúng ta hãy mở rộng vòng tay và tấm lòng ra cưu mang, giúp đỡ trực tiếp hoặc gián tiếp những mảnh đời bất hạnh của anh chị em thương phế binh Quân lực VNCH còn sống đau khổ ở quê nhà.



Lại nói về câu chuyện trong sách Kim Dung và chuyện của bằng hữu chúng mình. Những thất bại ban đầu của Minh giáo trong sách Kim Dung là do những tranh chấp  ngôi vị giáo chủ. Từ đó phát sanh nghi kỵ, bất hòa giữa mấy tên chóp bu tả hữu sứ, tứ đại pháp vương, ngũ tảng nhân, ngũ hành kỳ sau khi giáo chủ mất tích. Chuyện tan hàng mất nước của chúng ta hơn bốn thập niên trước biết đâu cũng không ngoại lệ. Mặc dù chúng ta, thế hệ trẻ hơn chưa đến giai đoạn nắm giữ vận mạng đất nước thay lớp đàn anh thì bánh xe lịch sử đã đổ. Câu chuyện của chúng ta hơn chuyện của Kim Dung đúng một chữ trong ý nghĩa thất bại. Minh giáo trong sách Kim Dung chỉ mới bị “nát” chứ chưa đến tình trạng “nát bét” như chúng ta mấy chục năm trước. Mình quá dở hay đó là sự an bài của lịch sử. Chắc là cả hai. Trong đó cái dở của chúng ta chắc chắn phải nhiều hơn. Phải nhìn thấy điều đó, đừng đổ hết tội cho lịch sử và vận mạng dân tộc.



Cuối năm nói chuyện sách vở cho vui. Tôi gọi nôm na là chuyện vãng cuối năm. Thực ra, nói như thi sĩ gốc nhà binh cùng thời với chúng ta thì



  
  Đọc sách nửa đời chưa sáng ý
    Bão bùng tơi tả cánh mơ bay
    Nghìn câu nguyện ước tan theo mộng
    Ráng đỏ mây phai nắng cuối ngày
    (Tường Linh. Khúc ca quy ẩn)



Thưa các bằng hữu thân quý của tôi. Chưa đến Giao Thừa mà đã mường tượng âm  vang tiếng chuông tiễn năm của Vương Cung Thánh Đương Sài Gòn đầy náo nức một thời nào rất xa trong tâm tưởng. Những ngày cuối năm, thường chúng ta hay có thói quen nghĩ ngợi về những chuyện xưa cũ, về những người thân yêu, cuộc đời và những biến đổi thăng trầm trong đời sống.



Nhớ quá quê nhà đêm ba mươi Giao Thừa thuở tuổi còn xuân. Nhớ quá bếp lửa ấm áp chiều cuối năm. Trong cái rộn rã của không gian. Giữa cái tất bật của thời gian. Chúng ta rộn ràng trong nỗi nhớ với hình ảnh năm cùng tháng tận. Hình ảnh bàn thờ tổ tiên với hương trầm nghi ngút đêm trừ tịch. Chậu cúc vàng, cành đào tươi thắm. Những hồi ức bỗng gõ cửa chạy về như nước lũ khiến chúng ta nhớ thương muốn chảy tràn nước mắt. Đêm Olympia lạnh buốt. Thèm một ngọn lửa ấm áp năm xưa, ngồi canh nồi bánh chưng cho Mẹ trong những ngày tuổi thơ trăng chờ mắt biếc. Ngọn lửa rộn ràng niềm vui sum họp.  Ngọn lửa chiếu sáng cả một thời thanh xuân, tóc xanh mộng mị. Ngọn lửa làm sôi sục bao ước mơ cho đời, cho mình.



Đã nhiều năm rồi, tôi vẫn chưa được hưởng cái tết mang ý nghĩa sum họp ở quê nhà. Hơn 6 năm trong các trại tù giữa rừng sâu, núi thẳm. Mình không than oán cuộc đời vì thời gian tù đày không là bao so với nhiều bằng hữu khác.  Nhưng tiếc cho tuổi hoa niên bị hoang phí. Đã không làm được gì nhiều cho mình, cho gia đình, cho đời mà phải chôn vùi ước vọng giữa rừng sâu một cách vô tích sự. Hơn 10 năm sống lận đận trên chính quê hương của mình để rồi sau đó, lạc loài hơn 20 năm trên mảnh đất xứ người. Tính ra thời gian của những cái tết quê nhà còn ít hơn những cái tết không quê nhà, mà sao mỗi năm cứ đến cái khỏanh khắc năm cùng tháng tận, mình lại cứ cứ bồn chồn và nghĩ ngợi vu vơ. Người xưa thường nói cáo chết ba năm cũng quay đầu về núi. Đám lận đận bên trời như chúng mình thì biết sao đây.



Sáng Mồng Một Tết. Thức dậy. Nhìn quanh. Vẫn thấy một ngày như mọi ngày. Trong nhà tuy vẫn có bánh chưng, kẹo mứt, rượu trà, hoa quả nhưng sao tất cả đều xa lạ, lạnh lùng và vô cảm. Nếu cửa có mở ngày đầu năm mới, không phải để đón ngọn gió xuân thơm ngát hương trầm hay cái mùi nồng nàn cực kỳ quyến rũ của dây pháo Tết đang nổ đì đùng quanh nhà. Hoặc để nghe cái rộn ràng Nguyên Đán đầy ước mơ tuổi nhỏ đang thấm vào từng hơi thở mùa Xuân. Thay vào đó, chỉ để đón ngọn gió tháng Giêng lạnh buốt thổi tạt vào nhà. Quanh nhà là rừng thông và mưa lạnh. Tết ở xứ người không mang ý nghĩa Nguyên đán như mình vẫn mong chờ mỗi năm lúc còn thơ ấu. Đã mất tăm cái rộn rả đợi chờ, cái nao nức một thời trẻ dại chờ nghe tiếng pháo rộn ràng đêm Giao thừa. Tôi lại viết những dòng cuối năm:



    Thấy trong nắng, dấu ngày tàn đang mất
    Bóng chim xưa gục chết nẻo sương mờ
    Ta cúi xuống nhìn dòng sông quá khứ
    Chảy muộn phiền làm đẫm ướt nguồn thơ

    Ta với người cùng một loài viễn khách
    Nửa cuộc đời tìm kiếm chuyện hư vô
    Ngày cuối năm ta nhìn ta trên vách
    Dấu tiếng cười trong men rượu sầu khô
    (LêTấnDương. Độc thoạị)



Qua một ngày. Hết một năm. Cuối một đời. Những hình ảnh đó thực ra chỉ là những khái niệm về độ dài của thời gian. Thời gian thì vô hình và bất biến nhưng không gian lại hữu hình và mang nhiều khác biệt. Không gian có thể tồn tại và có thể thay đổi nhưng thời gian thì tuyệt đối không. Như vậy làm sao có thể đem cái hữu hình của không gian để đánh đổi cái vô hình bất biến của thời gian. Trong chúng ta, ai cũng có dĩ vãng và ai cũng thương tiếc thời gian đã mất nhưng mấy ai tìm lại được kỷ niệm đã qua. Bởi vì không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Ngay như gã điên Tiệm Nguyên trong Bích Nham Lục từng vác xuổng chạy vào Pháp đường để tìm linh cốt tiên sư, nhưng giữa lớp sóng ba đào ngập trời, gã có tìm được gì đâu. Hoặc giả khôn ngoan hơn một chút, hóa thân thành một nhân vật của Marcel Proust trong “À la Recherche du Temps Perdu” đi tìm thời thương tiếc đã qua. Nhưng rồi có tìm được không, hay tất cả chỉ là mộng tưởng và ảo giác.



Tôi vẫn nhớ trong những năm miệt mài vui chơi ở các giảng đường Đại học Sài Gòn, tôi đã có dịp đọc qua vải bản dịch Việt ngữ các tác phẩm “The Stranger” hay “Exile and the Kingdom” của Albert Camus mới cảm nhận được thân phận con người qua ý niệm lưu đày và quê nhà. Đọc đã lâu, rồi sống qua một quảng đường dài của lịch sử dân tộc với những biến động bất ngờ của chiến tranh. Rồi tiếp sau đó là những thay đổi về thể chế chính trị và văn hóa xã hội. Bây giờ chiêm nghiệm lại, mới hiểu được tại sao có những người phải sống bi quan như bị lưu đày trên chính quê hương của mình. Hôm nay, gần cuối năm, nghĩ về quê nhà và thân phận lữ khách của chính mình, mới thấy tiếc nhớ những kỷ niệm ngọt ngào ấm êm thuở xưa. Những kỷ niệm đẹp với người thân, gia đình, bạn hữu về những mùa Tết năm xưa mà bây giờ đã bị đánh mất vĩnh viễn.



Buổi sáng, trời có chút nắng ấm, tôi khoác áo lạnh ra sau nhà sửa lại mấy vòi nước tưới đã meo mốc ngủ vùi mấy tháng trời trong tuyết lạnh. Thấy hai cây anh đào đã bắt đầu đâm nụ và sắp nở hoa. Tự dưng nhớ mấy câu thơ thật đẹp hình như cũng được viết từ một thành phố có tên rất đẹp nằm cạnh bờ hồ Washington.



    Tháng Hai ra vườn nghe gió
    Vực lên mấy khóm hoa gầy
    Hỏi con chim sâu trong tổ,
    Ước gì trên những cánh bay...
    (Trần Mộng Tú. Ngày Tháng Ngậm Ngùi)



Làm con chim sâu nhỏ thì mộng ước rất nhiều, giống như mộng ước đời người giữa tuổi thanh xuân. Tuổi của chúng ta hiện tại đã vượt qua ranh giới dành cho những ước mơ to lớn ngày mai. Điều an ủi còn lại cho cuộc sống chúng ta chính là chút kỷ niệm nhỏ mong manh về bằng hữu, người thân, gia đình và quê nhà.



Olympia Feb.09/2015
K2 Lê Tân Dương