Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Lịch Sử - Tư Liệu Willy Brandt và chính sách Phương Đông

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Willy Brandt và chính sách Phương Đông

In PDF.

Kỷ niệm ngày sinh nhật thứ 100 của cựu thủ tướng Đức Willy Brandt .

Cuộc đời và sự nghiệp
 cựu thủ tướng Đức Willy Brandt

Nếu cựu thủ tướng Đức Willy Brandt còn sống đến tháng 12 năm 2013, ông sẽ được 100 tuổi. Ông sinh ngày 18 tháng 12 năm 1913 tại Lübeck, một thành phố xinh đẹp ven biển Bắc Đức, cách Đan Mạch khoảng 100 cây số. Cuộc đời của Willy Brandt là chuỗi dài của thăng trầm, là những bi kịch nhưng lại có những thành công rực rỡ. Ông là một thủ tướng rất được nhiều người Đức quý mến. Der Spiegel, một tờ tuần báo có tiếng ở Đức, đã cho ông một danh hiệu „Thủ tướng của trái tim“ (Kanzler der Herzen [1]). Ông được đánh giá là một trong hai vị thủ tướng của Cộng Hòa Liên bang Đức đã tạo được nhiều ấn tượng nhất sau thời chiến: thủ tướng Đức đầu tiên là Konrad Adenauer (1949-1963) và thủ  tướng Willy Brandt (1969-1974).

Tên thật của ông là Herbert Ernst Karl Frahm. Ông là đứa con ngoài giá thú, nên lấy họ Frahm của mẹ, một người phụ nữ bán hàng ở Lübeck. Ông cũng chưa bao giờ được gặp mặt cha dù chỉ là một lần, cho mãi đến năm 1947 mới biết được tên của cha mình. Hồi nhỏ, Willy Brandt được ông ngoại nuôi. Ông ngoại cũng là người đã đặt nền tảng chính trị đầu tiên trong đời ông, dẫn đường cho ông vào đảng Dân chủ Xã Hội Đức (SPD) và cuối cùng phải tự tử vì bị Đức Quốc Xã bức bách (1935). Đi từ truyền thống gia đình, ông gia nhập đảng SPD rất sớm từ năm 1930. Khi đảng Đức Quốc Xã lên nắm chính quyền năm 1933, ông bị theo dõi và bị truy lùng, phải trốn chạy qua Đan Mạch và rồi Na Uy. Trên đường đi tị nạn, ông lấy bí danh là Willy Brand và kể từ đó tên Frahm đi dần vào quên lãng. Ngụy trang là một phóng viên Na Uy, năm 1936 ông trở về lại Đức tới Berlin để tìm tài liệu về tội ác của Đức Quốc Xã, cũng như tìm cách liên lạc lại với đảng viên của đảng SPD đang hoạt động ngấm ngầm tại quê nhà. Ông bị chính quyền Đức Quốc Xã truất bỏ quốc tịch năm 1938, nhưng chẳng bao lâu sau ông được nhập quốc tịch Na Uy. Năm 1940, quân đội Đức Quốc Xã tràn qua Na Uy, ông bị bắt. Nhưng may thay lúc đó ông mặc quân phục Na Uy, nên ông không bị nhận diện và sau đó ông trốn qua được Stockholm (Thụy Điển). Năm 1945, quân Đồng Minh tiến vào Berlin, Đức Quốc Xã đầu hàng. Ông quay trở về lại Đức với tư cách phóng viên chuyên viết về những phiên tòa xử tội phạm chiến tranh ở Nürnberg. Nürnberg là nơi phát sinh ra Đức Quốc Xã.

Năm 1948, ông được trả lại quốc tịch Đức và từ đó ông lấy Willy Brandt làm tên chính thức. Bắt đầu năm 1949, ông xây dựng lại sự nghiệp chính trị, đại điện đảng SPD tranh cử và trở thành dân biểu của Quốc Hội đầu tiên Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức). Tổng cộng ông có 31 năm làm dân biểu của Quốc hội Liên bang. Năm 1950 ông trở thành nghị viên của thành phố Berlin. Ông được bầu làm thị trưởng Berlin năm 1957 và ở chức vụ nầy cho đến 1966. Thời gian này, ông đã phải đương đầu với rất nhiều biến động của thời cuộc: sự nổi dậy của dân Hungary năm 1956 chống lại Liên Xô, năm 1958 tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô Chruschtschow đe dọa cô lập Berlin, bức tường ô nhục Berlin được xây năm 1961,… . Trong chức vị thị trưởng, Willy Brandt đã lèo lái Berlin qua được những cơn bão tố và làm cho thế giới khâm phục ý chí kiên cường và khát vọng tự do, hòa bình của dân Tây Berlin. Năm 1964, ông được bầu làm chủ tịch đảng SPD cho đến năm 1987.

Từ năm 1966 đến năm 1969, ông làm bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ liên hiệp đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (CDU) và đảng Dân Chủ Xã Hội Đức (SPD). Ông cùng với cộng sự viên Egon Bahr đưa ra chủ thuyết „Chính sách từng bước nhỏ“ (Politik der kleinen Schritte)và „Đổi thay bằng cách xích lại gần”(Wandel durch Annäherung).  Ông đã ký những hiệp ước với các nước Đông Âu để họ mở cửa thông thương. Năm 1969, ông cùng với đảng Tự Do Dân Chủ (FDP) lập chính phủ liên hiệp, do ông làm thủ tướng. Ông là vị thủ tướng Đức đầu tiên thuộc đảng SPD thời hậu chiến. Đây là lúc, ông có dịp phát huy tối đa chính sách Phương Đông (Ostpolitik) của ông. Ông đã ký kết những hiệp ước quan trọng nhất với các nước Đông Âu và Liên Xô để giảm bớt sự căng thẳng với các nước cộng sản. Năm 1974, tức là đúng bốn năm rưỡi sau, ông từ chức vì một người cộng sự viên thân cận là Günter Guillaume bị kết tội làm gián điệp cho Đông Đức. Bộ trưởng bộ Tài Chánh Helmut Schmidt thuộc đảng SPD được cử lên thay Willy Brandt làm thủ tướng (1974-1982).

Cần nhắc lại vào thời kỳ thập niên bẩy mươi, đảng SPD do ba nhân vật chính (Troika)  lãnh đạo: Willy Brandt, Helmut Schmidt và Herbert Wehner. Willy Brandt là người đã chống lại Đức Quốc Xã ngay từ đầu. Helmut Schmidt là sĩ quan quân đội Đức Quốc Xã vào đảng SPD năm 1945 sau khi chiến tranh chấm dứt. Herbert Wehner đã từng là nhân vật lãnh đạo của đảng Cộng Sản Đức, sau đó rời bỏ đảng Cộng Sản vì không đồng quan điểm và gia nhập đảng SPD khoảng năm 1946. Dù ba người đi từ ba hoàn cảnh và khuynh hướng chính trị khác nhau nhưng họ đã cùng nhau chung sức chung lòng củng cố đảng SPD và xây dựng nước Đức. Họ đã thành công. Họ đã đưa đảng SPD đang từ một đảng sắp bị tan rã sau chiến tranh vì đại đa số nhân lực bị Đức Quốc Xã giam cầm thủ tiêu, trở thành một chính đảng đứng thứ hai ở Đức. Họ đã góp phần đưa nước Đức đi từ một nước thua trận trong chiến tranh, trở thành một quốc gia hùng mạnh, đứng nhất về xuất cảng thế giới.

Thời gian về sau, là lúc ông hoạt động tích cực nhất và thành công nhất trên bình diện quốc tế. Năm 1976 ông làm chủ tịch đảng Xã Hội Quốc tế (SI), ông giữ chức vụ này cho đến năm 1992.

Ngày 8 tháng 10 năm 1992, ông từ trần tại Unkel gần Bonn. Có hàng ngàn người đứng tiễn đưa ông, rất nhiều chính trị gia thế giới đến nghiêng mình trước quan tài ông lần cuối. Ông được chôn cất ở Berlin, khi xưa nơi đây, ông đã trầm ngâm nhìn bức tường ô nhục Berlin được dựng lên. Và cũng như một lần ông đã tiên đoán: „Berlin sẽ sống mãi và bức tường sẽ phải sụp đổ“, 3 năm trước khi mất ông được mỉm cười an lòng khi nhìn thấy bức tường Berlin bị đập đổ (1989)

Chính sách Phương Đông (Ostpolitik)

Willy Brandt và Robert F. Kennedy đến thăm viếng Bức Tường Ô Nhục tại tây Berlin

Ông đã lớn lên và sống trong một thời điểm khá phức tạp của một quốc gia muốn thoát quá khứ thua trận của Thế chiến thứ nhất nhưng lại không có khả năng để tự vươn lên. Các đảng phái dân chủ thời đó còn quá non nớt, thiếu kinh nghiệm và đầy ích kỷ không vượt qua được những quyền lợi, ý thức hệ riêng để ngồi chung với nhau giải quyết những vấn đề cấp bách kinh tế và chính trị của những thập niên hai mươi, ba mươi. Những cuộc khủng hoảng liên tục đã xô đẩy nước Đức rơi vào tay của chế độ độc tài Đức Quốc Xã (1933 -1945). 17 tuổi ông vào đảng Dân Chủ Xã Hội Đức (SPD), một đảng lâu đời nhất nước Đức. 20 tuổi ông phải bỏ nước ra đi tị nạn. Sống lang thang ở Đan Mạch, Na Uy rồi qua Thụy Điển. Có một thời gian ông trở thành „vô tổ quốc“ chỉ vì chính quyền Đức Quốc Xã truất quốc tịch. Vết thương Thế chiến thứ nhất chưa lành, Thế chiến thứ hai đã bùng nổ. Đức Quốc Xã đã xua quân xâm chiếm các nước châu Âu. Người thanh niên Willy Brandt phải chứng kiến thảm cảnh của chết chóc, đổ nát và bạo tàn. Chưa có một cuộc chiến nào lại đem nỗi đau thương đến cho nhân loại như vậy, trên 60 triệu người chết trong Thế chiến thứ hai. Và khi chiến tranh chấm dứt, Willy Brandt lại phải nát lòng khi nhìn thấy đất nước điêu tàn, người dân đói khổ và nước Đức một phần đất lớn bị cắt cho Liên Xô và Ba Lan, phần còn lại bị các cường quốc chia ra làm 2: Tây Đức và Đông Đức.

Chiến tranh nóng đi qua, chiến tranh lạnh kéo tới do sự xung đột chính trị và quyền lợi giữa tư bản và cộng sản vào những thập niên sáu mươi, bẩy mươi. Ông đã là nhân chứng cuộc nổi dậy của dân Đức ở vùng Đông Berlin, của hàng trăm ngàn người đi xuống đường vào ngày 17 tháng 6 năm 1953 để đòi tự do, thống nhất. Nhưng rồi, xe tăng Liên Xô lũ lượt kéo tới, nghiến nát phong trào đòi nhân quyền của dân Đông Đức và những giấc mơ tự do của họ. Ngày 17 tháng 6 đã được chính quyền Tây Đức đã đặt tên cho là ngày Thống Nhất để tưởng nhớ đến cuộc nổi dậy đẫm máu này. Thời kỳ làm thị trưởng Berlin, ông đã sống những giây phút căng thẳng nhất khi bức tường ô nhục được xây lên (1961). Không phải chỉ là một bức tường đơn thuần chia cắt đất nước thành hai miền, mà còn chia cắt bao nhiêu đời sống gia đình: con xa cha, vợ xa chồng, anh em xa nhau. Chiến tranh và đau thương đã để lại quá nhiều dấu ấn đậm nét trên người tuổi trẻ Willy Brandt. Nên „Gìn giữ hòa bình“  đã là phương châm hành động được đặt vào ưu tiên hàng đầu trong suốt thời gian ông hoạt động chính trị. Bởi vì nếu thế chiến xẩy ra lần nữa, chắc chắn sẽ mang lại những hậu quả to lớn không lường trước được. Muốn tránh  chiến tranh, thì phải làm sao không đẩy các nước Đông Âu đi sâu vào quỹ đạo của Liên Xô, mà phải kéo họ lại gần nước Đức, bắt họ mở cửa để thông thương, để tiến lại gần nhau, để hiểu biết nhau và thông cảm nhau. Theo ông đó là sự bảo đảm to lớn và vững chắc nhất cho nền hòa bình và cho sự ổn định tình hình chính trị ở Đức nói riêng và châu Âu nói chung. Chính sách Phương Đông được ra đời trong hoàn cảnh đó. Ostpolitik đã đưa đến hiệp ước Moskau với Liên Xô tháng 8 năm 1970 và hiệp ước Warschau với Ba Lan tháng 11 năm 1970 để tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau, bình thường hóa quan hệ hai nước, chấp nhận ranh giới hiện tại kể cả ranh giới Oder-Neiße. Oder-Neiße là ranh giới mới của nước Đức đã được các nước thắng trận quy định tại hội nghị Potsdam năm 1945, sau khi Đức đầu hàng, qua đó nước Đức bị mất đi khoảng 25% diện tích.

ông đã quỳ xuống trước đài tưởng niệm người Do Thái ở Warschau

Trong một chuyến thăm Ba Lan ngày 7 tháng 12 năm 1970, ông đã quỳ xuống trước đài tưởng niệm người Do Thái ở Warschau. Đây là một cử chỉ đã đi vào lịch sử và làm cả thế giới phải khâm phục vì hành vi can đảm và đầy chân thành của ông. Bởi vì ông đã không có một quá khứ dính liền với Đức Quốc Xã và không những thế là một thủ tướng nước Đức duy nhất ngay từ khởi đầu đã đứng lên chống lại chế độ đó. Nên nếu cần phải có người đứng ra xin lỗi nạn nhân chiến tranh, thì chắc chắn không phải là ông. Hành động chân thành của Willy Brandt đã làm thế giới nhận ra được một người Đức hoàn toàn khác với những gì mà họ đã có sẵn trong đầu: những người Đức bạo tàn gây lên tội ác chiến tranh. Ông chinh phục được dân chúng ở Ba Lan và xoa dịu được phần nào vết thương chiến tranh để hai dân tộc xích lại gần nhau. Ông được tờ Time bầu là „người của năm 1970“ (Person of the Year). Tháng 12 năm 1971 ông được giải Nobel Hòa Bình về những thành quả ông đạt được do chính sách Ostpolitik.

Được rảnh tay về Đông Âu sau hiệp ước Moskau và Warschau,  ông tập trung vào nước Đức. Cao điểm của chính sách Ostpolitik là vào tháng 12 năm 1972, khi hiệp ước giữa Cộng Hòa Liên bang Đức (Tây Đức) và Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức) được ký kết, chấp nhận Đông Đức như là một lãnh thổ độc lập và có chủ quyền. Hiệp ước này đã mở cửa cho người dân Tây Đức được thăm viếng Đông Đức và tạo cơ hội cho gia đình được xum họp và đoàn tụ, cho phép họ được mang quà tặng cho thân nhân của họ ở bên kia bức tường. Sự xích lại gần nhau tạo sự hiểu biết và sự thông cảm lẫn nhau, đã phá vỡ được cuộc chiến tranh lạnh kéo dài nhiều năm tháng và cũng là dịp cho dân chúng ở Đông Đức cũng như Đông Âu được thấy sức mạnh của nền kinh tế Tây Đức phát xuất từ nền tảng chính trị đúng đắn: dân chủ và tự do.

Khẩu hiệu „Can đảm đòi dân chủ“ của Willy Brandt như ngọn lửa làm sôi sục niềm ao ước được tự do, được no ấm đang ngấm ngầm cháy trong lòng người Đông Đức và chỉ đợi một thời điểm bùng nổ.

Mặc dù ông làm thủ tướng Đức một thời gian ngắn, nhưng ông đã để lại một di sản lớn lao là sự thành quả của chính sách Ostpolitik. Khối Đông Âu  sụp đổ năm 1989 kéo theo Đông Đức năm 1990, sau đó nước Đức thống nhất của năm 1991 và cuối cùng là sự tan rã của Liên Xô cũng năm 1991, nơi phát sinh ra chế độ cộng sản. Sau này, tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô Michail Gorbatschow cũng nhìn nhận chính sách của Willy Brandt đã làm suy yếu các nước Đông Âu và là nguồn gốc đưa đến sự sụp đổ của các nước cộng sản châu Âu.

Đoạn Kết

Ông là một vị thủ tướng có tầm nhìn xa, sâu sắc nhưng đặc biệt là lòng yêu nước thiết tha của ông. Ông không bị mù quáng bởi tình yêu tổ quốc một chiều, mà vẫn sáng suốt để nhận thấy đâu là thật, đâu là giả và đủ khả năng để phán quyết ngay từ đầu Đức Quốc Xã là một chế độ độc tài cần phải lật đổ. Ông đã có một thời gian mặc quân phục Na Uy để chống lại quân đội Đức, vì thế sau này các đảng phái đối lập đã kết tội ông là „phản quốc“. Ông là một chính trị gia nên không tránh khỏi kẻ ưa người ghét. Nhưng tựu trung, người dân Đức và nhất là giới trẻ của thập niên sáu mươi, bẩy mươi đã coi ông như là một thần tượng, một nhà chính trị gia chân thật, một thủ tướng của trái tim. Đặc biệt là đối với dân Đông Đức, họ vẫn không quên ơn ông, ông đã mang lại cho họ tự do và no ấm. Năm 1970 khi ông tới thành phố Erfurt ở Đông Đức để gặp thủ tướng Đông Đức Willi Stoph, người dân ở đây đã đón ông như một người anh hùng, một vị cứu tinh của họ. Họ đứng chật đường và hô to „Willy, Willy“.

Willy Brandt trước cổng thành Brandenburg tại Berlin

Willy Brandt còn là một con người rất nhậy bén trước mọi tình huống chính trị. Ngày 5 tháng 11 năm 1956, dân chúng ở Tây Berlin xuống đường, tay cầm đuốc hô to khẩu hiệu „Lũ giết người“ và „Bọn Nga cút đi“ khi hay tin Liên Xô đàn áp ở Hungary. Hàng ngàn người tiến tới Cổng Brandenburg, định đi vào vùng cấm địa Đông Berlin, để tới tòa Đại Sứ Liên Xô biểu tình. Lính Đông Đức, xe tăng Liên Xô đứng dàn hàng đợi sẵn và chờ lệnh nổ súng. Ông linh cảm có điều bất ổn. Kinh nghiệm của năm 1953 ở Đông Berlin và năm 1956 ở Hungary, lính Liên Xô và Đông Đức sẽ không nương tay đàn áp những ai chống lại họ. Ông nhìn thấy viễn tượng đen tối và muốn tránh cuộc đổ máu vô ích. Không bỏ mất thì giờ, ông và vợ, bà Rut, xuống đường hòa nhập vào đám biểu tình và cất cao bài hát „Đoàn kết, lẽ phải và tự do“. Mọi người khựng lại và rồi hát chung với nhau, sau đó quay về. Nếu hôm đó đoàn biểu tình không bị cản lại, chắc chắn máu dân lành sẽ lại đổ xuống thêm một lần nữa trên đường phố Berlin.

Tư tưởng và hành động của Willy Brandt đã tác động đến rất nhiều các tầng lớp thanh niên trí thức Đức, đặc biệt là vào những thập niên sáu mươi, bẩy mươi. Họ là những lớp trẻ phần đông lớn lên trong thời bình, không bị quá khứ chiến tranh đè nặng, năng động, có lý tưởng và chịu ảnh hưởng đường lối chính trị của Willy Brandt. Họ được mệnh danh là „Hậu duệ chính trị Willy Brandt“ (politische Enkel Willy Brandts). Một số sau này đã trở thành những chính trị gia tên tuổi của nước Đức như: Björn EngholmRudolf ScharpingOskar Lafontaine, Gerhard Schröder. Bốn người này đã thay nhau làm chủ tịch đảng SPD nhưng riêng Gerhard Schröder đã làmThủ Tướng Đức từ năm 1998 đến năm 2005.

Đã một lần ông nói về giấc mơ: „Sẽ có một ngày, châu Âu sẽ không còn hận thù và mọi người sẽ sống hòa đồng với nhau“. Ông đã đạt được ước mơ của ông: thống nhất nước Đức, hòa bình đã trở về châu Âu, hận thù về ý thức hệ không còn nữa, chiến tranh lạnh đi vào bóng tối, châu Âu đã trở về cội nguồn của nó với những bình an cố hữu. Giờ đây ông thật sự có thể thanh thản yên nghỉ ngàn thu, nơi ông đã từng tranh đấu cho lý tưởng của mình.

Mùa đông 2013

Tài liệu tham khảo:

[1]Tuần báo Der Spiegel 11.11.2013: „Kanzler der Herzen", Jan Fleischhauer

[2] Stiftung Haus der Geschichte der Bundesrepublik Deutschland: „Willy Brandt 1913-1992“

[3] Tuần báo Die Zeit  14.11.2013: „Der andere Deutsche“,

[4]Wikipedia