Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2014 Con lòn tuổi mẹ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Con lòn tuổi mẹ

In PDF.

 

 

Dù thực hiện nhiều sự bảo mật nhưng hầu hết anh em đều biết rõ ràng có sự chuyển trại. Đó là thời điểm giữa năm 1977 khi các trại tù Cồn Tiên đã về nhập lại với  tù.Ái Tử sau ngày 22 tháng 12 năm 1976. Đây là cái mốc thời gian đáng nhớ là một số lớn tù binh được phóng thích mà ngày tháng tù đày dưới 3 năm .  Lúc nầy, một danh sách thanh lọc được phân ra  rất rõ ràng và phổ biến đến từng khối. Nhận được sự phân loại , ai cũng có những nổi niềm riêng, có người âm thầm chịu đựng, có người tỏ lộ cảm xúc và cũng có người kín đáo thủ thế cho chính mình.

Nhóm được liệt kê nguy hiểm cho chế độ như an ninh, tình báo, chiêu hồi, cảnh sát, phượng hoàng, CIA, Chiến tranh chính trị, tâm lý chiến… không mấy ngạc nhiên khi được gom chung một danh sách đặc biệt. Tư thế đã có sẳn từ lâu để đương đầu cho một tình huống xấu, tệ hại.Tôi thuộc diện nầy và còn nặng hơn là lính tình nguyện binh chủng tổng trừ bị Thủy Quân Lục Chiến. Kinh nghiệm biến cố Mậu Thân đã là một bài học quý giá về Cọng Sản nên khi bị lọt trong một thế cờ chiếu bí thì không có gì ngoài  tư thế một  phản ứng sống chết một khi cái gì sẽ đến .Chia tay bùi ngùi với các niên trưởng Đặng như Xuýn, Nguyễn hửu Tư, Lê Phước Ánh, Nguyễn như Quỳnh, Dương viết Điền ,Hồ văn Đông, Ng văn Toại,Đoàn Chức Phan Duyệt với bao ưu tư cho ngày mai đến sẽ như thế nào , ba anh em Nguyễn Trãi 4 Trần đại Đãi, Ngô Chi và Phạm hữu Huê lên đường ra bắc.  Đây  sự trả thù thâm thúy của bên thắng cuộc vì những đóng góp tích cực, những thành quả đào tạo mà miền nam Việt Nam có các anh như những cái khung sườn làm thành lũy chống kẻ thù Cọng Sản vốn gian manh và xảo quyệt. Khi sắp lên đường  vào tổng trại Bình Điền, thành phần đặc biệt ở lại nầy càng biết rõ số phận mình hơn với một câu nói của chính trị viên trại khi khai triển kế hoạch thủy lợi   cho nhóm anh em có tên lên đường ra bắc:

--Các anh sẽ đi  Thanh Hóa và Nghệ Tỉnh làm thủy lợi. Một khi giải phóng lòng hồ sông Mực xong, lòng hồ sông Mực sẽ giải phóng các anh!

Về sau, khi nghe tin từ các trại ngoài bắc thì biết được các bạn tù có những cơn đói cùng tận , khí hâu lại khắc nghiệt với cái lạnh buốt tận xương tủy mà hạn tù vẫn mênh mông tháng ngày giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp với công việc  khai hoang phá rừng để biến núi đồi thành đập thủy điện. Họ mới ngã ngửa ra là không biết đâu là sự may mắn an bài.

Nhóm ở lại trại Ái Tử rất ít, đa số là thành phần bệnh hoạn và các tổ chuyên môn. Tổ rèn được ở lại để  làm dao, rựa , rìu  , cuốc, xẻng và các dụng cụ khai rừng để kịp cung cấp cho các trại T1,T2,T3,T4,T5 đang ở Thanh Hóa. . Dịp nầy, cán bộ trại ai cũng chú tâm vào các nguồn lợi từ công sức các anh em tù ở lại như làm phích nước, cán dao, trâm cài  lược chãi được chạm trổ tinh vi hình rồng bay phượng múa ..nên không khí cũng dễ thở cho những người ợ lại trại. Bù Lại,  họ chưa hề biết đến tiếng chim hót trên ngàn, tiếng vượn hú man mai và màn sương trắng lãng đãng trên chóp núi rừng miền bắc mỗi khi mùa đông đến và nhất là các món "đặc sản" rau tàu bay, môn thục, hạt dẻ bên rừng Thanh Hóa với nhiều thân hình như những cái xác biết đi vì đói ,lạnh..

Có những anh em đoán trước thời vận, hình dung ra một ngày mai không tươi sáng gì trên đất bắc nên" binh "đường bệnh. Thật là khôn chết, dại chết và biết là sống nên trước mắt nhiều người bạn tù, mới thoạt nhìn   đều không khỏi thương tâm khi thấy anh nầy què, anh kia bại, anh nọ trĩ nội, …rất đặc biệt với cảnh ho, mửa ra máu, đi cầu phân trộn máu nên được ở lại trại và dĩ nhiên không thấy được thiên đường miền bắc xã hội chủ nghĩa nó ra làm sao.

Đêm chia tay, không khí an ninh khá lỏng. Mọi người quyến luyến nói cho nhau những lời ước vọng, những nhắn gởi về thân nhân vì nếu như một sớm mai nào có ai biết đâu những gì sẽ đến trong khi hiểm họa cứ chực chờ. Tại khối 6 trại 2, bác Túy, bác Thoại , bác Tồn nói chuyện với bác Đầy. Châu Kê  với Chót, Cân, Nhẫn bạch Tửu vì thừa biết khó có còn cơ hội gặp lại. Một không khí bịn rịn trước giờ chia tay. Giữa khuya, một canh bạc diễn ra rồi mới thấy bạn bè mình ai cũng có thủ một mớ phòng khi tối lửa tắt đèn. Người đánh, kẻ hổ trợ, người đi ké tạo ra một không khí căng thẳng. Những xấp tiền vốn dấu kín từ lâu bỏ ra, khá lớn , rồi ăn thua. Gần sáng sớm trước giờ lên xe Molotova thì có phát hiện anh nầy mất tiền, anh kia mất đồ. Một anh bạn bệnh trỉ thời đại, khá nặng ở lại mất nguyên một vố tiền ăn bài được cuộn lại dấu nơi góc ba lô. Loay hoay dại miệng hỏi thăm xin lại một cách vô ích thì đoàn người có lệnh lên đường…Anh bạn  nầy bệnh”binh” đã lâu, đăm chiêu vì thua trí, đành  yên lặng nhìn đám người đi.

Ngày 30 tháng 4 năm 75 tôi trở về Sài Gòn trong cái tả tơi thân xác từ bệnh viện. Sài Gòn  mới ngày qua đó mà hôm nay đã đổi thay toàn diện. Giữa rừng người  trở cờ  reo hò đón chào  bên thắng cuộc, tôi như lạc lỏng ở một thế giới nào với bước chân hụt hẩn của kẻ mất hồn. Như những gáo nước lạnh tạt vào mặt mình khi thấy cảnh dân chúng ào ra đường đón mừng bên thắng cuộc, tôi có những ngày đầu lang thang đi tìm một cái gì để làm quân bình cho nhịp tim đang làm tôi như muốn ngột trước cảnh bộ đội miền Bắc đang đem tính rừng rú vào thành phố của miền Nam tự do. Những người lính miền bắc ốm  o, xanh xao trong bộ đồ xanh thùng thình với nón cối dép râu, tay hờm súng ngang ngược rải khắp thành phố.Ai từng chứng kiến ngày nầy mới thấy rõ cảnh man rợ thắng văn minh. Chỉ vài ngày sau, dù vết thương còn hành, tôi tìm về Long An rồi vào Bến Lức,  gặp người bạn cùng phòng  2.5 năm quân trường Nguyễn Tấn Đức  để  tìm đường thoát. Trong khung cảnh đìu hiu tàn cuộc thì bên bìa làng, một trung đội pháo binh diện địa còn nguyên vẹn và một chiếc trực thăng UH1 nằm cạnh bên còn mới, có lẽ hết xăng nên không thoát ra hạm đội được. Anh thiếu úy trung đội trưởng người Huế tự sát tại đây, ngôi mộ người anh hùng được người dân đắp vội bên khẩu pháo 105. Không ổn rồi,tôi lại lần mò về cần Thơ nơi nhà người bạn đồng khóa Đặng Đồng Đẳng  ở  lối ra bến phà Hậu Giang. Tình hình cũng không sáng sủa vì trước đây có nghe miền Tây còn đứng vững phòng tuyến  và là chiến khu quyết chống cự đến cùng. Người mẹ bạn thương tình cho ở ba hôm rồi mời đi kẻo liên lụy đến gia đình vì đám cách mạng 30 tháng 4 kiểm soát quá gắt. Cuối cùng , tôi trở lại Sài Gòn cùng lúc mẹ tôi vượt đường xa thiên lý đi tìm con:

-Về với mạ ,hết đánh nhau rồi, ăn rau ăn cỏ cũng  được  nhưng có mạ có con!

Nhìn mẹ thở dài khi nhìn con với miếng băng cứu thương còn dính ngực, tôi chạnh lòng, mắt chực khóc.

Lên một tuổi, nghe kể tôi bệnh hoài. Sợ ma quỷ đến mang đi, cha mẹ mời thầy pháp  cúng lễ “Quan Sát”. Khác với bao người khác , tôi phải kêu Chú, Mạ thay  vì ba mạ  vì con khó nuôi. Ông thầy bộ thủy ( thầy pháp) nhốt trong cái bội tre,khấn vái đọc chú   vừa đi quanh  vừa quơ cây đuốc như đuổi tà ma. Thỉnh thoảng ông hô “ Vái”, “ Phà” trong khi người thầy phụ vung nắm gạo , muối vung chung  quanh tôi đang nằm im re trong cái bội tre. Vẫn không khá hơn, mẹ tôi bán lúa, mượn cái áo của thằng Lượng con nhà hàng xóm cho tôi mặc để đi ông đốc. Gia đình nghèo đến độ tôi không có một cái áo lành lặn để đi ra. Hồi ấy có một ông đốc người Việt  nói tiếng Tây như gió ở Thượng Tứ mà người làng hay kêu như một vị thần cứu nhơn : Ông đốc Quyến!  Nhờ thế mà tôi có dịp đi " dinh" hoài. Cứ mãi nhìn cái thân èo uột của tôi, mẹ tôi lo không biết giữ có nỗi không và nhân tiện một hôm lên Huế trên một chuyến đi bác sĩ, bà lên Cầu Lòn gặp Mụ Bụi_ người thầy bói nổi tiếng ở Huế để xem tương lai ra sao.Thập niên 50-60 ai cũng biết tiếng bà nầy vì quá hay. Sau khi bắt quẻ, ngày tháng năm sanh, bà nói:

-Thằng nầy tuổi con lòn tuổi mẹ nên hiếm lắm. Nó sẽ hay đi xa, ráng cầm giữ nó vì là quý tử. Anh em ,bà con  và người thân sẽ nhờ nó!

Buổi chiều hôm đó  trên chuyến đò  về làng, ông già đưa chuyến phải mất  nửa ngày mới tới bến. Tội nghiệp chị tôi đang theo mẹ phụ giữ em, lanh chanh lấy chiếc áo mượn   vói tay giặt trên mặt sông và sơ ý vuột mất theo dòng nước ngược. Mẹ tôi phần lo toan không có áo trả, phần nóng ruột hơi hám tôi nơi chiếc áo theo nước về thủy vương, e rằng tôi sẽ theo  luôn nên đánh chị một trận đòn. Nghe lại xót cho chị quá, chị ơi.

Giữa tháng 5/75 , mấy du kích Phú Thứ lên nắm chính quyền xã nơi  quê tôi và đang từ từ “đón” ngày về  của các  chiến hữu thất  trận. Cứ sau mỗi lần trình diện , đám quân  quản ngồi  đập bàn  la hét , tay dí súng nhắm vào đầu bên thua cuộc,  bắt phải về bờ biển Thuận An mò súng giao nộp. Người anh rể tôi là một  BĐQ cũng như anh Hoàng ngọc Vinh XDNT là hai người trở về đầu tiên  bị chúng dằn mặt khi trình diện bằng cách dí súng vào đầu đòi bắn. Chúng bi bô nhất địa phương nhì trung ương nên rất dễ lãnh đạn. Nằm hầm nằm hố nín thở lâu ngày nên bây giờ mạnh chân mạnh miệng lắm. Như nhập khuông, một mẫu thời trang thật nhanh  trên từng người với trang bị đủ điện, đài đổng,đạp với cái xắc  cốt  cùng cây súng luôn đeo trước ngực,  hung hăng tựa như gặp ai cũng đòi bắn. Ngay buổi tối đầu tiên mới về tới làng, mới chân ướt chân ráo thì đã nghe loa rao miệng mời tất cả dân làng  ra họp. Đám ăn  theo chính quyền toàn là tụi chăn trâu, chăn bò, kẻ thất học, người lang thang nay theo cách mạng làng và trở mặt không chút mắc cở. Một buổi tối hôm ấy là mục Đảm Phụ Quốc Phòng nhằm vét, hiến vật chất của cải cho đảng và nhà nước. Giữa đình làng là một bàn dài có ba  tên nằm vùng chủ tọa, bên phải kê một chiếc trống đại, bên trái là người xướng  và toàn dân làng ngồi trệt dưới đất. Dưới ánh đèn măng- sông tỏa sáng, tiếng trống đánh vang âm thanh thùng thùng và rền đầy tiếng hét cổ xúy  vang vang một cách man rợ. Mỗi một người dân làng được nêu tên theo thứ tự, người nầy  sẽ tự nguyện nói ra  là hiến cho cách mạng 10, 20, 30 thùng lúa tùy theo mức có. Một hồi trống liền vang lên rộn rã. Kẻ cò mồi trong đám đông liền la lên : "Chưa đúng mức, Chưa đúng mức,Chưa đúng mức!!",, rồi người người hùa la theo và người xướng liền nâng con số  lên.  Trống thúc tiếp và tiếng la  lại  dập dồn cho đến khi  nạn nhân gần xỉu tại chỗ vì con số lúa nộp quá cao. Khi ấy mới im tiếng trống và việc hiến thu  kết thúc; và đó là mức" đạt" của họ.

Dân làng cứ yên chí rồi sẽ có sự bình đẳng, không có chênh lệch và ai cũng hoàn toàn như nhau nên khi thấy một nguời hơn mình do sự cần mẫn làm ăn thì không ưa và đây là cơ hội để lôi xuống cùng cùn bần như nhau mới hả lòng.  Đó là cái màn đấu tố tinh vi bịp bợm và man rợ được núp dưới một cụm mỹ từ là “đảm phụ quốc phòng”. Sau 3 đêm thì cả làng gần như thành bình địa, tinh thần xuống dốc đầy căng thẳng mà có cảm tưởng như hậu quả sau trận mưa bom Giáng Sinh 72 tại Hà Nội.

Gia đình tôi phải nộp đến 440 thùng lúa. Cha mẹ tôi sống nhờ làm nông, không có một tấc đất riêng trong tay, toàn thuê mướn ,đấu ruông  để làm ăn. Nay toàn bộ lương thực  đều bị hiến thu và trở thành tay trắng. Chính quyền và đám  dân làng a dua  đều hả dạ, tung hê và cuộc sống trở về bằng con số không vào lúc tôi xách ba lô đi tù cải tạo.

Ở những tháng ngày dài trên trại Cồn Tiên, biết bao cơ man về ngày tháng tù đày mênh mông làm tôi không thấy được những cơ cực của người thân khi bòn từng công điểm trên ruộng đồng để đổi ra thóc mà sống. Nào sao biết được bao truân chuyên người thân phải theo đoàn đội lên tận Nam Đông, Vũng Tròn,Nam Sông Hương để canh tác sắn khoai. Đã thế còn chắt chiu để dành để bới xách cho tôi trên trại tù cải tạo. Ấy thế mà khi thấy người ta có thăm nuôi, mình cũng âm thầm trông đợi. Tụi cán bộ “hầm hố” biết nhược điểm là trông con được về sớm nên hết sức khai thác nhược điểm gia đình. Một chiến dịch cống hiến tiếp tục để tận thu cho được từ chiếc xe đạp nước ruộng bằng gỗ lâu ngày, chiếc bơm thuốc rầy, chiếc ghe chở lúa. Mòn mỏi dần cũng chưa tha miếng mồi có đứa con tù cải tạo nên chiếc xe đạp cũng thành mục tiêu  cho mấy ông tập kết  nay về làng.Ôi chao ! cái miệng họ nói sao như cái máy, khoe khoang cái gì cũng tuyệt vời trên đất xã hội chủ nghĩa, nổ hơn bắp nhưng thấy cái gì cũng ưa bòn, ưa rút….từ cây bút,cái son,cây đèn bác đến cái radio, chiếc áo ấm, cái quần bò cho đến chiếc xe đạp đều làm mục tiêu của cái mồm dẻo kẹo đi trấn lột.


Nhưng thật đau lòng khi chính người thân tôi muốn tôi phải rời xa địa phương trong giai đoạn nầy. Khi vừa về địa phương sau ngày miền Nam thất thủ, cả một cơ cấu chính quyền xã và đám lố nhố mới trồi lên với cái miệng đang ngượng nghịu tập tành ăn nói kiểu mới  tỏ ra rất mừng rỡ vì có được một đối tượng đang sụp bẩy. Mỗi ngày tôi phải ghi chép vào sổ đã nói những gì, với ai, ở chỗ nào rồi báo cáo lại trước tập thể thanh niên vào mỗi tối. Một chú du kích được giao phó theo dõi mọi hành vi, cử chỉ bất luận ngày và đêm. Chú bé nầy lần đầu ôm được khẩu súng trường tỏ ra khoái chí , rất hăng hái và hứng khởi trong việc theo dõi nên ai nhìn cũng thấy y như đang xung trận. Những khi ăn cơm hay đi ngủ, chú ta đứng sau hè, cẩn thận xem tôi khi mớ ngủ nói cái gì để báo cáo. Ban ngày, tổ thanh niên điều đi làm thủy lợi khắp mọi nơi để dẫn nước vào ruộng với chỉ tiêu nghiêng sông làm nước, thay trời làm mưa. Những cục đất xắng to bằng chiếc thùng sau mỗi lần xắn , phải ôm thật chặt rồi mới lấy đà phóng lên ghe. Cứ sau mỗi lần đi thủy lợi là tôi bị ra máu miệng và ngực đau rát liên hồi do vì vết thương chưa lành hẳn lúc bị thương . Cha mẹ tôi nhìn ái ngại chua xót cho thằng con nay như con thuồng luồng mắc cạn .


Khi du kích gỏ cửa trình lệnh tập trung, cả nhà yên lặng nhìn đến ngẩn ngơ. Chỉ có đứa cháu níu vai áo và khóc nức nở vì lo ngại.Lâu nay mỗi lần đi họp tội thanh niên, đào hố xí, đứa cháu bám theo chú tìm chút che chở, nhất là những lần bị bắt tư phê, tự kiểm điểm trước đội đoàn. Cô ta là nữ tu dòng Phú Xuân Huế bị buộc về nhà vì tu viện đóng cửa ..Đứa cháu ánh mắt e ngại trông theo kèm tiếng cầu kinh xin ơn trên phù hộ cho ông chú được sức mạnh vượt thử thách. Đó là hình ảnh cuối cùng của địa phương khi tôi lên đường vào trại tập trung Cồn Tiên cho một hành trình gần 5 năm.


Tháng 12/1976,, sau đợt phóng thích lớn, đám bạn bè thân cùng lán như Biên, Khiêm, Thừa ,Lãm, Lễ, Nam (TTHL) và Phước răng vàng, Châu lác,Ảnh  viễn thám,(TQLC)  được ra trại . Người cán bộ quản giáo kéo tôi ra ngoài sân nói: 

-Theo hồ sơ và thời gian học tập thì anh được tha về nhưng địa  phương yêu cầu giữ lại vì gia đình đóng đảm phụ quốc phòng chưa đủ. Tuy thành phần nông dân không tài sản mà sao trong nhà ai cũng học hành có bằng cấp, cả tiến sĩ nữa chứ.


Và biết rằng từ đây, đường trường xa ta quyết đi cho đến cùng. Như chim vẫn ở trên rừng, tôi biết rõ hơn con đường về còn xa mịt mù, nhưng có Chót Alama, Phát đờn, Châu kê, Thục râu, Thống đá banh, Xuân thợ Rèn, Hóa con, Tuấn móm, Cương Phước Mạnh, Chi Bính, Thống Vĩnh Lại  và ngày tháng tù đày xem như chuyện...nhỏ.

Nhập trại tù đúng vào một ngày lễ lớn trong năm 1975, tù  cải tạo có tiêu chuẩn được ăn thịt  heo  tươi.  Bổng nhiên một số khoảng hai mươi người xen phần vào  ngay một con heo tạ , dù chỉ còn cái thân vì đầu mình  tứ chi bị cán bộ trại xẻo bớt. Thế nhưng tù cũ vẫn không thèm đê ý, chỉ hỏi có thuốc lào không và vây quanh tìm hiểu về cuộc sống bên ngoài giờ ra sao….Ngỡ ngàng ban đầu với  chỗ ngủ bằng rui mèn và chiếc ba lô trên giàn, đời sống xoay quanh thật nhanh khi cái bụng lúc nào cũng biết đói cồn cào và luôn chờ tiếng kẻng cơm.  Sáng thức dậy đi rừng với lon cơm hoặc sắn, chiều về tắm rửa, sinh hoạt kiểm điểm với quản giáo rồi đi ngủ. Ngày qua ngày trôi chầm chậm ban đầu rồi khi  quen dần, thời gian qua rất mau. Cảnh nước  sông công tù ban đầu nghĩ từ tháng nầy  qua năm khác, ai ngờ đã 5 cuốn lịch mà ngày về còn mịt mờ xa thẳm.

Nhưng chuyện lớn bên ngoài là chuyện bài ca dao Mẹ của hằng đêm trường thao thức từng diệp khúc nhớ thương. ..Giờ nầy con tôi đói, con tôi khát, con tôi đọa dày thân xác, con tôi thèm tự do, thèm nhớ thèm thương và bằng mọi cách để thăm nuôi nên chắt chiu chút nầy, nhịn chút kia, để dành chút nọ.


Một ngày trời vào mùa mưa năm 1977, mẹ tôi tìm thăm con nơi Ái Tử. Tuổi ngoài sáu mươi mà mẹ lặn lội từ làng quê ra thành phố rồi từ phố Huế ra Quảng Trị. Khổ nhất là từ Quảng Trị lội bộ vào Ái Tử trên những ngọn đồi tranh chập chùng với chiếc đòn gánh côn các thứ bột, gạo, đường, muối, thuốc lá cho đứa con. Những món quà trỉu nặng cùng với tấm lòng mẹ trãi qua năm tháng thương nhớ con kể sao cho xiết. Mỗi bước chân qua, mẹ mừng gần thấy con vì phút giây gặp gỡ gần kề. Khi đến được trại thì sức không còn mà sao lại trống vắng lặng yên thế nầy. Đến khi hỏi ra được thì biết trại dời ra bắc và con mình không có đây nữa. Phần thương con, phần mệt nhọc và đoạn đường về xa thẳm vào lúc trời nổi cơn giông chiều, mẹ tôi đã ngồi phịch xuống và khóc cho hả.


Con đường về muộn màng vất vả. Tinh thần không có nên cố lê lết lắm mới tới Huế vào đêm. Từ bến xe chợ Đông Ba phải đi bộ về Bao Vinh vì không còn đò giang nào nữa. Một đoạn đường khá dài phải đi dưới cơn mưa rào giữa đêm vắng.


Khi vừa qua đò ngang Tiên Nộn vào giữa khuya, mẹ sỉa chân xuống bùn bên bờ bến và gảy chân phải. Vết thương ở chân kèm nổi đau trong lòng không thăm gặp con được làm mẹ khóc tủi giữa cơn mưa cho đến khi một người qua đường xót xa dìu về tới nhà người cháu ở làng Mậu Tài cách đó gần hai cây số. . Chân mẹ khập khểnh mãi từ đó cùng với đôi mắt mờ đục dần có một lần cố mở to nhìn con về khi được thả vào 7/80 , lại càng mờ hơn khi thấy con mãi lao đao khi về địa phương giữa vòng quản chế và ...cho đến một lúc cuối mẹ chỉ biết ngồi, lúc tỉnh lúc mê vì tai biến não, miệng lắp bắp: thằng con lòn tuổi mẹ, thằng con lòn tuổi mẹ..vào những ngày tháng khi tôi đang vẫy vùng bước đầu ở bên Mỹ. 

NT4 Pham Hữu Huê

_____________________________________

Trở lại: Mục Lục ỨC TRAI Xuân Giáp Ngọ 2014