Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2014 SENKAKUS VÀ TAM SA TRONG CHIẾN LƯỢC BÀNH TRƯỚNG CỦA BẮC KINH

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

SENKAKUS VÀ TAM SA TRONG CHIẾN LƯỢC BÀNH TRƯỚNG CỦA BẮC KINH

In PDF.

 

 

Những chuyển biến sôi sục và phức tạp đang diễn ra tại vùng biển Senkakus, vùng bán đảo Triều Tiên và tại biển Đông, Nam Hải, một lần nữa khẳng định . đồ chiền lược của Bắc Kinh, khống chế toàn bộ khu vực cận dương, thực hiện tham vọng tiến ra biển khơi, và từng bước hiện thực hóa giấc mộng bá chủ vùng đại dương mênh mông của tập đoàn Trung Nam Hải.

Senkakus hay Điếu Ngư, điểm nóng đang âm ỉ lửa tại Đông Hải hiện nay, một điạ danh hầu như xa lạ với cộng đồng thế giới trước thập niên 1960s, thực ra chỉ là một chuỗi gồm năm hoang đảo nhỏ và ba bãi đá không người ở, nơi cư trú của những bầy dê núi, cách Okinawa 200 hải lý về phía tây nam, cách Đài Loan khoảng 120 hải lý về hướng đông bắc, và đại lục Trung Hoa hơn 200 hải lý về phía đông. Senkakus được chính thức sáp nhập vào Nhật Bản năm 1895, sau khi chính quyền đặc khu hành chánh Okinawa thực hiện việc khảo sát địa hình chuỗi hải đảo nầy trong vòng 10 năm, xác nhận đây chỉ là những hoang đảo không người sinh sống (terra nullius--no man’s land), và không một chính phủ nào trong vùng lên tiếng xác nhận chủ quyền hoang đảo nầy, kể cả triều đình Mãn Thanh đang cai trị Trung Hoa lúc đó. Thậm chí theo bộ Đại Minh chính sử (The History of Ming) được soạn thảo dưới thời nhà Thanh, thì Đài Loan và các quần đảo phụ cận kể cả hoang đảo Senkakus (?) ngày nay đều không phải là phần lãnh thổ thuộc Đại Minh-Trung Hoa. Cho mãi tới tận năm 1968, thì cả Nhật Bản lẫn Trung Hoa đều không hề tìm thấy một giá trị về kinh tế-chiến lược nào tại các hoang đảo nầy, ngoại trừ là nơi thường trú của…vài trăm con dê núi hoang! Nhưng mọi việc hoàn toàn thay đổi, khi một ủy ban điều hợp dự phóng về các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngoài khơi các vùng biển Á châu và vùng Viễn Đông của Liên Hiệp Quốc trong một bản báo cáo (1969) đã xác nhận có một trữ lượng dầu khí rất lớn kết tụ dưới đáy Đông Hải (East China Sea), nhất là quanh khu vực Senkakus (theo những cuộc thăm dò điạ chất thì vùng thềm lục điạ xung quanh Senkakus chứa một trữ lượng dầu khí vào khoảng 10-100 tỷ thùng?). Ngay lập tức cả ba quốc gia Nhật Bản, Đài Loan và Trung Hoa lục điạ đều đồng loạt lên tiếng, chính thức xác nhận chủ quyền không thể tranh tụng đối với quần đảo nầy!

Đối với Trung Hoa, Senkakus hay Điếu Ngư có một giá trị chiến lược rất quan trọng. Về phương diện kinh tế, Senkakus là một nguồn cung cấp hải sản dồi dào, với một tiềm năng dầu khí rất lớn, lại nằm trên tuyến giao thông hàng hải quan yếu chạy từ Trung Đông qua Ấn Độ Dương và Nam Hải về tận vùng Đông Bắc Á châu; một thủy lộ giao thông huyết mạch mà hàng năm khoảng 50% lưu lượng hàng hoá trao đổi trên thế giới và hơn 80% lượng dầu thô cung ứng cho các quốc gia vùng Đông Bắc Á đều được chuyển vận qua tuyến hàng hải nầy.

Về phương diện quân sự chiến lược, khống chế được Senkakus và nhất là quần đảo Sakishima lớn hơn nằm xuôi về phía nam (với các cảng nhỏ và phi trường quân sự dã chiến đã xây dựng sẵn), không những chiếm giữ được một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú (dầu khí, hải sản, đất hiếm…), mà c.n kiểm soát được một vị trí điạ dư chíến lược tối quan trọng trong việc quyết định số phận tương lai của đảo quốc Đài Loan. Từ Senkakus và nhất là từ Sakishima, giải phóng quân Trung Quốc có thể dễ dàng phong tỏa Đài Loan bằng các lực lượng không hải quân khi cần thiết, hoặc mở những đợt tấn công trên nhiều tuyến nhằm đánh chiếm nhanh chóng các phi trường quân sự của quân lực Đài Loan để hỗ trợ cho các lực lượng tiến công chiếm đóng đảo quốc nầy của Hoa Lục. Tựu trung, chỉ cần chiếm đóng những quần đảo nầy, chưa cần tới việc xử dụng sức mạnh quân sự, Bắc Kinh cũng đã tạo được một áp lực nặng nề về an ninh chính trị lên nước CH Trung Hoa Dân Quốc, buộc đảo quốc nầy phải chấp nhận những điều kiện đàm phán hoà bình có lợi hoàn toàn cho phía Hoa Lục (Richard D. Fisher, Jr. ---International Assessement & Strategy Center).

Chiếm đóng Senkakus và Sakishima còn phục vụ cho những mưu toan chiến lược kế tiếp, nhằm thực hiện giấc mộng bá chủ vùng đại dương mênh mông của Hoa lục, qua việc đòi hỏi chủ quyền quần đảo Ryukyu (Ryukyuan Okinawa) trải dài trên 1,000 km, từ nhóm đảo phía tây nam Nhật Bản, cho tới tận vùng biền phía đông bắc Đài Loan ( mà Okinawa là hòn đảo lớn nhất nằm ở trung bộ, và đảo Sakishima nằm ở phía cực nam giáp gìới với Đài Loan), dựa trên những bằng chứng ‘lịch-sử’ từ ngàn xưa : vương quốc Ryukyu đã từng triều cống và thần phục thiên triều đại quốc, nên là một phần lãnh thổ không thể tách rời của đế quốc Trung Hoa!

Với tham vọng bành trướng ra biển khơi để phục vụ cho nhu cầu chiến lược mở rộng vùng ảnh hưởng quyền lực ra hướng đại dương, và bảo vệ trục lộ giao thông hàng hải huyết mạch quan yếu cho sự sống còn của nền kinh tế nặng về sản xuất-xuất khẩu của Trung Hoa, Trung Nam Hải trong thập niên vừa qua đã dồn mọi nỗ lực nhằm phát triển hải quân Trung Hoa từ một lực lượng phòng vệ duyên hải thô sơ, trở thành một hải quân biển xanh có khả năng triển khai ngoài chuỗi đảo tuyến một và tuyến hai, sâu vào vùng tây bộ Thái Bình Dương và vùng Án Độ Dương, liên thủy lộ nối kết vùng dầu hỏa Trung Đông và vùng trọng điểm kinh tế, Đông Bắc Á Châu. Thêm vào đó, với quan điểm chiến lược, phòng thủ từ biển xa (offshore defense), tất cả vùng biển cận duyên bao quanh Trung Quốc (vùng biển nằm trong chuỗi đảo tuyến một: Nam Hải, Đông Hải, Hoàng Hải…) phải nằm trong tầm kiểm soát của Hoa Lục, như một rào chắn bảo vệ vùng duyên hải, vùng trọng tâm kinh tế đương thời của Trung Quốc, và đồng thời là cửa ngỏ để thâm nhập sâu vào lục địa Trung Hoa. Với chiến lược ‘chống tiếp cận-chống xâm nhập’ (A2/AD), lấy lực lượng hỏa tiển tấn công (địa-địa, địa-hải chống hạm tầm trung DF21D…) đặt trên các căn cứ trên bộ trải dọc theo vùng duyên hải TQ làm lực lượng phòng thủ-tấn công chính yếu (projectile-centric strategy), Trung Quốc đã có thể tạo những áp lực lớn lao lên lực lượng hải quân của Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh đang hoạt động trong chuỗi hải đảo tuyến một và tuyến hai, cũng như đe dọa nặng nề các căn cứ quân sự chiến lược trên bộ của quân lực Mỹ và đồng minh tại vành đai bao quanh Trung Hoa.

Nỗi ám ảnh, lo sợ nhất của Hoa lục là bị khóa chặt cửa ngỏ ra Thái Bình Dương. Senkakus lại nằm ở một vị trí chiến lược xung yếu, trong một chuỗi hải đảo trải dài từ phía tây nam Nhật Bản xuống tận phía đông bắc Đài Loan, hình thành một chuỗi mắc xích ngăn chặn mọi hướng từ Đông Hải ra Thái Bình Dương của hải quân Trung Hoa, khóa chặt lực lượng hải quân biển xanh của Hoa lục trong vùng biển ao tù không lối ra, Đông Hải! Đó chính là lý do mà Trung Quốc về lâu về dài sẽ tìm mọi cách chiếm giữ cho bằng được Senkakus và quần đảo Sakishima (với eo biển Myako) nằm sâu về phía nam, để bảo đảm một hành lang an toàn ra Thái Bình Dương.

Đối với Trung Nam Hải, Sensakus còn có một tầm vóc quan trọng trong việc trung hoà những áp lực quân sự của quân đội Mỹ và đồng minh tại các cứ điểm quân sự chiến lược tại Nhật Bản. Nếu chiếm giữ được quần đảo nầy, Hoa lục sẽ thiết lập những trạm radar do thám và các bãi đáp cho trực thăng như tại Hoàng Sa và Trường Sa, Nam Hải, nhằm theo dõi và thu thập các tin tức tình báo liên quan đến những hoạt động của các lực lượng quân sự Mỹ-Nhật tại Okinawa, nơi mà một căn cứ quân sự lớn của Hoa Kỳ chỉ cách Senkakus không đầy 300 dặm. Nếu mất Senkakus, tuyến phòng vệ tiền tiêu của lực lượng phòng vệ Nhật sẽ bị suy yếu, và eo biển Đài Loan thiết yếu cho việc phòng thủ, bảo vệ đảo quốc nầy cũng sẽ bị Hoa lục khống chế hoàn toàn. Tóm lại, việc đổi chủ nếu xảy ra của quần đảo chiến lược nầy sẽ nghiêng hẵn cán cân quyền lực về phía Hoa lục và đặt Hoa Kỳ, Nhật Bản và các quốc gia đồng minh trong khu vưc vào một tình thế hoàn toàn bất lợi trong việc duy trì sự ổn định và an ninh cho toàn khu vực (Masashi Nishihara—Research Institute for Peace & Security).

Chiến lược bành trướng ra biển khơi để trở thành một cường quốc đại dương của Trung Quốc bao gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đấu tiên từ 2000-2010, Trung Quốc thiết lập quyền kiểm soát các vùng biển trong chuỗi đảo thứ nhất, trải dài từ đặc khu hành chánh Okinawa, qua Đài Loan, xuống tới Phi Luật Tân.

Trong giai đoạn thứ hai từ 2010-20, Bắc Kinh sẽ khống chế vùng biển trong phạm vi chuỗi đảo tuyến hai, từ quần đảo Ogasawara dài tới Guam và Indonesia. Và trong giai đoạn cuối cùng từ 2020-40, Hoa lục sẽ chấm dứt sự thống trị về quân sự của Hoa Kỳ tại khu vực tây bộ Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, với một lực lượng hải quân biển xanh có tầm vóc quốc tế, với các hàng không mẫu hạm là lực lượng xung kích đặc nhiệm nòng cốt trên đại dương (Liu Huaqing- China’s naval maritime plan, 1982).

Việc thành lập thành phố Tam Sa mới gần đây để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, cùng hầu hết biển Đông, song song với việc đòi hỏi chủ quyền lịch sử quần đảo Senkakus tại Đông Hải, tất cả đều nằm trong kế hoạch phối hợp đồng bộ những âm mưu chiếm cứ vùng biển cận duyên bao quanh Trung Hoa để bảo vệ vùng duyên hải, và mở đường tiến ra biển sâu của hải quân Trung Quốc. Nam Hải hay biển Đông là một thủy lộ giao thông trọng yếu nối liền Đông Á với vùng dầu hoả Trung Đông và Phi châu, với một lưu lượng hàng năm hơn phân nữa tổng lượng hàng hoá trao đổi trên thế giới, và hầu hết lượng dầu thô cung cấp cho các nước vùng Đông Bắc Á đều được chuyên chở qua vùng biển nầy. Khống chế được biển Đông, Trung Quốc có thể làm chủ được một mỏ vàng đen khổng lồ (khoảng trên 200 tỷ thùng dầu thô và hàng ngàn tỷ m3 khí đốt?), một nguồn hải sản dồi dào, một tuyến giao thông hàng hải trọng yếu cho toàn khu vực và thế giới, một hành lang ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, cũng như có thể chi phối hoàn toàn nền an ninh-kinh tế-chính trị của các quốc gia Đông Á do việc khống chế trục lộ giao thông hàng hải quan yếu, mạch sống của những quốc gia nầy.

Việc gia tăng các hoạt động ‘chấp-pháp’ của các lực lượng Hải Giám và Ngư Chính của Trung Quốc, nhằm đe dọa, quấy rối các nước có tranh chấp về lãnh hải với Hoa Lục như Việt Nam, Phi Luật Tân, Brunei, Malaysia, Nhật Bản, Nam Hàn… tại biển Đông và Đông Hải trong thời gian vừa qua, với những tuyên bố rất ngạo nghễ của các giới chức cao cấp của Hoa Lục, khẳng định Nam Hải là vùng biển thuộc ‘lợi ích cốt l.i’ (sẵn sang xử dụng vũ lực để bảo vệ) của Bắc Kinh, cùng những cuộc tập trận đại qui mô của các hạm đội Đông Hải và Nam Hải, kể cả những cuộc diễn tập bắn đạn thật tại khu vực Trường Sa, Hoàng Sa, Đông Hải và Hoàng Hải…. từ năm 2010-12, đã nói lên dã tâm và tham vọng bành trướng của Hoa lục trong việc ép buộc các nước láng giểng phải nhượng những phần lãnh thổ có một vị trí chiến lược cho Trung Hoa tại vùng biển Đông và Đông Hải (East China Sea). Và trong một bước leo thang mới, hôm 23 tháng 11 vừa qua, Bắc Kinh lại đơn phương thiết lập ‘vùng nhận diện cho phòng không’ (ADIZ—Air Defense Identification Zone) bao trùm một phần không phận Đông Hải và không phận Senkakus trong nỗ lực nhằm thách thức chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo nầy cũng như nhằm thay đổi hiện trạng của khu vực đang tranh chấp để nghiêng phần lợi hoàn toàn về phía Hoa lục.

Một yếu tố không kém phần quan trọng khác trong nỗ lực khống chế biển Đông của Trung Nam Hải, là tạo một vùng hoạt động an toàn cho lực lượng tiềm thủy đỉnh trang bị các hoả tiển liên lục điạ mang đầu đạn nguyên tử tầm xa của Hoa lục: lực lượng hạt nhân răn đe chiến lược tuyến hai của giải phóng quân Trung Quốc. Việc xây dựng một căn cứ hải quân kiên cố tại Hải Nam, với những phương tiện ngầm dưới mặt nước có thể chứa tới 20 tiềm thủy đỉnh chạy bằng năng lượng hạt nhân, lực lượng nguyên tử chiến lược cuả hải quân Trung Quốc trang bị hỏa tiển tầm xa có khả năng bắn tới nội địa Hoa Kỳ(?) ngay trong vùng an toàn tại Nam Hải, mà không phải mạo hiểm ra tận Thái Bình Dương (dể dàng bị tiêu diệt bởi hải quân Hoa Kỳ). Với các hầm phóng hoả tiển liên lục địa tầm xa trên bộ dễ bị phát hiện và tiêu diệt bởi lực lượng nguyên tử chiến lược của Hoa Kỳ trong những cuộc tấn công phủ đầu, các tiểm thủy đỉnh nguyên tử của giải phóng quân Trung Quốc tại Nam Hải sẽ là lực lượng răn đe chiến lược duy nhất khả dĩ có thể ngăn cản mọi toan tính hay ý định can thiệp của Washington vào những cuộc xung đột vũ trang lớn của Hoa lục. Những đòi hỏi chủ quyền tại Senkakus và tuyên bố Nam Hải là ‘lợi ích cốt l.i’ của Bắc Kinh, chính là để phục vụ cho . đồ chiến lược nầy, vì quần đảo chiến lượcSenkaku/Điếu Ngư chỉ cách Đài Loan khoảng 190 km về phía đông, rất gần với cửa ngõ vào Nam Hải từ phía bắc, nên việc chiếm đóng quần đảo nầy để bảo vệ cửa ngõ vào biển Đông, một địa bàn chiến lược trọng yếu là điều nhất thiết phải thực hiện (Sumihiko Kawamura—Japan Times).

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ‘bất khả tranh tụng’ gần như toàn bộ biển Đông và các hải đảo lớn nhỏ, các bãi đá, bãi san hô… nằm trong vùng biển nầy dựa vào những bằng chứng ‘lịchsử và pháp-l.’ (historical and jurisprudence evidence) có từ xa xưa, từ thời nhà Hán trị vì nước Trung Hoa cổ đại! Thậm chí dựa vào cả những mãnh vụn đồ gốm, và đồ sành sứ thông dụng được ưa chuộng của Trung Hoa thời đó, được tìm thấy tại các hoang đảo ở biển Đông, nơi mà hàng bao thế kỷ trước là một thủy lộ giao thương buôn bán chính yếu của các thương buôn đến từ Ả rập, Ân Độ, Tích Lan, Phù Nam tức Chiêm Thành, và các dân tộc gốc Malayo-Polynesians tại các quần đảo của Nam Dương, Phi Luật Tân, M. Lai ngày nay… với Trung Hoa!

Thực tế điều mà Bắc Kinh gọi là có ‘chủ-quyền (sovereignty) lịch-sử không thể tranh tụng’ đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và gần như toàn bộ biển Đông chỉ là những điều hoàn toàn bịa đặt và hoang tưởng. Ý niệm về “chủ-quyền quốc gia” (nation-state sovereignty), thực ra không phải phát xuất từ Á châu hay từ Trung Hoa, mà thực sự được khai sinh tại châu Âu vào gìữa thế kỷ thứ mười bảy, khi các cường quốc Âu châu lúc đó k. kết hiệp-ước Westphalia (Treaty or Peace of Westphalia) năm 1648, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm giữa các nước Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Điển, Hoà Lan và Đế quốc Holy Roman, trong đó những quốc gia kể trên đồng ý tôn trọng các nguyên tắc về: “toàn vẹn lãnh thổ (territorial integrity); chủ quyền quốc gia ( sovereignty of states); quyền tự quyết căn bản về chính trị (fundamental right of political self-determination); nguyên tắc bình đẳng trên phương diện pháp lý giữa các quốc gia (principle of legal equality between states), và nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác.”

Hiệp ước Westphalia chủ yếu dựa trên khái niệm về lãnh thổ trên bộ (land-based concept—không phải trên đại dương!), và không hề áp dụng cho các nước Á châu và Phi châu cho mãi tới giữa thế kỷ thứ hai mươi. Như đã nói trên, trong hệ thống Westphalia các quốc gia đều bình đẳng trên phương diện pháp lý, và chủ quyền quốc gia (state sovereignty) được xác định rất rõ rệt qua các đường biên giới phân chia lãnh thổ giữa các nước, khác biệt hoàn toàn với hệ thống phong kiến cổ ở Âu châu, và nhất là hệ thống ‘bá-quyền’ hay ‘quan hệ chủ tể-chư hầu’ (suzerainty) tại Á châu (Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư). Nói một cách khác, trước năm 1648, các vương quốc và đế chế tại Âu châu, cũng như tại Á châu… đều không thực thi ‘chủ-quyềt quốc gia’ trong quan hệ giữa các nước, hay nói một cách đơn giản hơn, chủ-quyền là một ý niệm gắn liền với sự hình thành của hệ thống quốc-gia cận đại (modern nation-states) năm 1648, và không hề có trong giai đoạn ngự trị của các đế quốc thời cổ đại xa xưa dù ở bất cứ nơi đâu: Âu, Á hay Phi châu (Mohan Malik— World Affairs).

Trong hệ thống tổ chức theo lối ‘bá-quyền’ hay quan hệ ‘chủ tể- chư hầu’ tại Trung Hoa ( tồn tại cho tới tận thế kỷ thứ 20), theo Mohan Malik thì không hề có cái gọi là “chủ-quyền” trong suốt giai đoạn lịch sử dài lê thê nầy. Đế quốc Trung Hoa qua các triều đại đã không bao giờ có một biên giới được xác định hay vạch giới hạn rõ rệt như biên giới của một quốc-gia (a nation-state) trong hệ thống Westphalia, mà chỉ là những vùng hay khu vực ảnh hưởng với trọng tâm quyền lực và văn minh nằm tại trung tâm (các triều đình cai trị Trung Hoa: bá-chủ hay chủ-tễ) và giảm dần ra phía ngoại vi là vùng của các dân tộc được gọi là ‘man di’ ( barbarians) thần phục và triều cống cho các vua chúa Trung Hoa, nhưng vẫn giữ sự độc lập tự chủ trong lãnh vực đối nội( các chư hầu). Lãnh thổ của nước Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa ngày nay bao gồm luôn cả những phần lãnh thổ thôn tính trong suốt giai đọan bành trướng của triều đại Mãn Thanh ( không phải gốc Hán tộc) trong thế kỷ 18, kể cả những vùng mà triểu đại nhà Nguyên đã chinh phục như Tây Tạng, Tân Cương… từ thế kỷ 12, đã được Trung Hoa hợp thức hoá bằng cách áp dụng một cách hồi tố ý niệm chủ-quyền quốc gia của thế kỷ 17 tại Âu châu cho một châu Á thời thế kỷ 12! Đó là lý do mà Trung Quốc tuyên bố Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Đài Loan… là những phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Hoa vì đã thuộc triều đại nhà Nguyên từ thế kỷ thứ 12 và nhà Đại Thanh thời thế kỷ 18, dù rằng ý niệm chủ-quyền với một biên giới được xác định rõ rệt của một quốc gia chỉ có ở Á châu vào thế kỷ 20, và lãnh thổ của một đế quốc như Trung Hoa thu hẹp hay mở rộng tùy thuộc vào sự thịnh suy cuả triều đại cai trị Trung Hoa lúc đó. Nói tóm lại, đã không hề có một nước Trung Hoa với một biên giới cố định trước thế kỷ thứ 20, như Trung Quốc vẫn thường rêu rao qua chiêu bài ‘ những bằng chứng lịch-sử không thể tranh tụng’ về ‘chủ-quyền lãnh thổ’ từ xa xưa của đại quốc Trung Hoa.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ‘lịch-sử’ đối với Nam Hải và các quần đảo trong khu vực nầy, thực chất chỉ để phục vụ cho ý đồ chiến lược bành trướng ra biển khơi, bảo vệ những quyền lợi quốc gia thiết yếu của Trung Hoa trong lĩnh vực an ninh-kinh tế, và mưu đồ phục hồi vị thế của một đế quốc Trung Hoa hùng mạnh của một thời huy hoàng, vang bóng cũ. Thực ra, vấn đề ‘chủ-quyền lãnh-hải’ (maritime sovereignty) là một ý niệm rất mới chỉ có từ năm 1945, khi Hoa Kỳ là nước đầu tiên tuyên bố ý định thực thi chủ quyền trên vùng biển 3 hải lý (territorial waters: 3-12 nm) dọc theo vùng duyên hải của quốc gia nầy.

Trung Quốc và một số quốc gia khác đã chụp lấy cơ hội đó để mở rộng chủ quyền trên đại dương. Thậm chí, Hoa lục còn tuyên bố ‘chủ-quyền lịch-sử’ trên hầu hết biển Đông, một thủy lộ giao thông quốc tế trọng yếu, không những cho toàn thế giới ngày nay, mà còn từng là một hải lộ hàng hải chung của các dân tộc và quốc gia trong vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương hàng ngàn năm về trước. Mặc dù là một thành viên đã ký kết công ước về luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), Hoa lục đã bất chấp những bác bỏ của công ước nầy đối với vấn đề ‘chủ-quyền lịch-sử’ trên những vùng biển ngoài phạm vi cho phép của vùng lãnh hải chủ quyền 12 hải lý mà các quốc gia duyên hải được quyền thụ hưởng, khi tuyên bố chủ quyền ‘lịch sử bất khả tranh tụng’ trên các quần đảo tại Nam Hải và Đông Hải (Hoàng Sa, Trường Sa, Senkakus…) cũng như trên hầu hết địa bàn khu vực biển Đông với đường ‘ Lưỡi bò chin đoạn’ khét tiếng, Cow’s tongue (China’s Law on The Territorial Waters and Their Contiguous Areas, 1992) ! Sau gần hai thế kỷ ngậm hờn trong tủi nhục vì bị đánh bại, xâu xé và làm nhục bởi các đại cường phương Tây và Nhật Bản, Trung Quốc ngày nay đang xử dụng mọi thủ đoạn có được để phục hồi lại vị thế của một đế quốc Trung Hoa hùng mạnh, đã từng thống trị vùng Đông Á-Thái Bình Dương trong hàng bao thế kỷ qua. Trung Nam Hải đã cho viết lại lịch sử, vẽ lại bản đồ quốc gia, xác định lại những đường phân ranh biên gìới với các nước láng giềng; ngụy tạo những bằng chứng lịch sử không hề có để nghiêng phần lợi về phía mình. Xử dụng vũ lực để xâm chiếm những phần đất mới của các lân bang. Đặt lại tên các quần đảo trong vùng biển bao quanh Trung Hoa bằng Hán tự. Áp đặt phiên bản ‘lịch-sử’ riêng của Hoa lục trong tuyên bố ‘chủ-quyền’ trên các vùng biển trong khu vực, và nhất là kích động tinh thần dân tộc cực đoan, đề cao sự vĩ đại của giòng giống Đại Hán trong quá khứ với một thiên nhiệm được giao phó: “chinh phục và giáo hoá các dân tộc man di, mọi rợ”! (Bắc Kinh đã xử dụng chiêu bài dân tộc chủ nghĩa nhắm cũng cố tính chính danh hợp pháp của đảng Cộng Sản Trung Quốc trong việc độc quyền lãnh đạo chính trị đất nước Trung Hoa trước tình hình khó khăn về kinh tế-chính trị-xã hội đang diễn ra tại Hoa lục hiện nay.)

Tất cả đều không ngoài mục đích thực hiện giấc mộng bành trướng bá-quyền mà Trung Nam Hải đã hằng ấp ủ. Mở rộng vùng ‘đất sống’ (Lebensraum--living space) cho một Trung Hoa đang trong tình trạng nhân mãn và thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên trầm trọng. Chuyển chiến lược bành trướng quyền lực về hướng đại dương nhằm khống chế một vùng biển chiến lược mênh mông mà Hoa lục đã bỏ quên từ bao thế kỷ nay. Bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải huyết mạch quan yếu cho nền an ninh- kinh tế-chính trị của Trung Hoa, và đồng thời khoá chặt cửa ngõ vào vùng trái độn an toàn (thuộc chuỗi đảo thứ nhất) cho vùng duyên hải của Trung Quốc: vùng trọng tâm kinh tế đương thời của Hoa lục và là đường xâm nhập chính yếu vào lục điạ Trung Hoa; cũng như tạo những áp lực nặng nề về phương diện quân sự-kinh tế-chính trị-ngoại giao lên các nước vùng Đông Á-- Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, và ASEAN trong nỗ lực nhằm khuất phục những quốc gia nầy.

Khống chế được quần đảo Senkakus hay Điếu Ngư tại Đông Hải, và Tam Sa--Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa, tại biển Đông chỉ là bước đầu tiên trong toan tính chiến lược lâu dài của Bắc Kinh nhằm thực hiện giấc mộng bá chủ vùng đại dương mênh mông, một nhân tố tối cần yếu để trở thành siêu cường số một trên thế giới. Bước kế tiếp là hất chân người Mỹ ra khỏi địa bàn chiến lược xung yếu Ấn Độ-Thái Bình Dương. Kiểm soát khu vực dầu hỏa trọng yếu Trung Đông, và từng bước hiện thực hóa giấc mộng thống trị thế giới qua việc thiết lập một trật tự thế giới mới mà trong đó Trung Quốc chính là trung tâm của hệ thống quyền lực toàn cầu Neo-Pax Sinica—hệ thống ‘tân Đế-quốc Đại Hán Trung Hoa’!

Bằng Phạm

California-Tháng Mười Một Năm Hai Ngàn Mười Ba.

**********************************************