Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2014 HÌNH ẢNH CON NGỰA QUA THƠ VĂN…

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

HÌNH ẢNH CON NGỰA QUA THƠ VĂN…

In PDF.

Năm Ngọ nói chuyện Ngựa


Con ngựa đi vào mười hai con giáp, giữ chức phận định vị tháng năm âm lịch hàng năm tương tự như những con giáp khác. Con ngựa, ngọ hay mã là một loài vật gắn bó với con người từ xa xưa. Ngựa vừa thân thiết, vừa phục vụ đắc lực cho con người và cũng trung thành với con người (khuyển mã chí tình). Ngựa có mặt trong cổ tích, truyền thuyết, trong thưc tế cuộc sống và trong thơ ca, tũc ngữ, thành ngữ Việt Nam.

Như chúng ta đã biết, Ngựa là một trong những loài gia súc có liên quan mật thiết với con người, vì vậy mà trong kho tàng văn học bình dân cũng như trong thơ ca tục ngữ, thành ngữ Việt Nam bóng dáng con ngựa xuất hiện khá nhiều. Trong ý thức dân gian,ngựa cũng như trâu bò thư ờng được dùng dể phục vụ cho conngười (trâu cày ngựa cưỡi) gắn liền với sự lao động cực nhọc,nặng nề, cho nên ta thường nghe: làm thân trâu ngựa, hoặc kiếp ngựa trâu để chỉ thân phận nô lệ, nghèo nàn, bị áp bức đọa đày:

Tái sinh chưa dứt hương thề.
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
( Nguyễn Du- Truyện Kiều)

Thành ngữ: lên xe xuống ngựa trong dân gian cũng được nhắc đến. Thời trước xe và ngựa là những phuơng tiện giao thông vừa nhanh vừa sang trọng của con người thay thế cho sức đi bộ. Câu thành ngữ: ăn trắng mặt trơn, lên xe xuống ngựa đã nói lên trong tầng lớp khá giả quyền uy, cai trị..

Nguyễn Công Trứ (1778-1859) là một nhà thơ nổi tiếng và ôngtổ của việc khai hoang lập ấp. Suốt 30 năm làm quan ông đã có nhiêu công lao với dân chúng và với triều đình, nhưng chẳngđược nhà vua tin dụng. Khi về hưu vua Tự Đức cấp cho ông tiền bạc và võng lọng, nhưng ông từ chối tất cả. Ra khỏi Cẩm Thành ông nhảy lên một chiếc xe bò và viết một bài thơ trên tấm mo cau, cột che bộ phận sinh dục của của con bò cái kéo xe:

Xuống ngựa lên xe nọ tưởng nhàn
Lợm mùi giáng chức với thăng quan.
Điền viên dạo với chiếc xe bò cái.
Sẳn tấm mo che miệng thế gian…

Một điển tích mà nhiều người biết đến là: Tái ông thất mã (Tái ông mất ngựa) . Chuyện kể như sau: Thượng Tái Ông mới mua được con ngựa quý, vừa đem vế nhà thì tự nhiên biến mất. Những người bạn bè thân đến tỏ lời chia buồn thì ông nói: biết đâu lại là phúc đó. Ít hôm sau con ngựa quý trở về lại còn mang theo một con ngựa khác nữa. Bà con bạn bè lại đến nhà chia vui. Ông bảo: Biết đâu lại là họa đó. Con trai ông thấy có nhiều ngựa quý, hằng ngày phi ngựa rong chơi, chẳng may bị té gãy chân. Nhiều người cho đó là họa. Nhưng ông nói: biết đâu là phúc. Quả đúng theo lời ông, Sau đó trong nước có giặc, trai trẻ phải ra trận, nhiều người phải bỏ mạng ở chiến trường, đặc biệt con trai ông bị tàn tật nên được ở gần gia đình và an toàn tình mệnh. Với câu chuyện; Tái ông mất ngựa người ta dùng để chỉ sự họa phúc, rủi may khôn lường của người đời.

Thẳng như ruột ngựa: Khi nói về tính tình của con người bộc trực, thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, không dấu diếm…Đó là do sự quan sát trực quan hay khi giải phẩu cơ quan tiêu hóa của ngựa thì người ta so sánh ví von đó. Ngựa là con vật hay ăn cỏ như trâu bò, nhưng dạ dày ngựa thuộc dạ dày đơn không có nhiều ngăn. Ruột ngựa rất dài, đặc biệt là đoạn nối ruột non với dạ dày còn gọi là manh tràng, đoạn nầy dài tới một mét, thẳng và to.Ruột ngựa thẳng đã được xem là một đặc điểm đối chứng với tính chất cong mang ý nghĩa biểu thị tính tình của con người. Người thẳng ruột ngựa được xem là người tốt, mộc mạc, không lắt léo, không có ác tâm.

Trong cổ thi có câu: ‘’Hồ mã tê Bắc phong, Việt điểu sào Nam chi’’ nghĩa la Ngựa Hồ hí gió bắc. Chim Việt đậu cành Nam, nên trong văn học bình dân có câu: Ngựa Hồ, chim Việt để diễn đạt sự chia biệt:

Kẻ về người ở trông theo
Ngựa Hồ chim Việt đôi điều ái ân
Một mình tựa án tần ngần
Năm canh khúc ruột như giần cả năm
Vắng mình ta vẫn hỏi thăm
Nơi ăn đã vậy, chốn năm ra sao?

hoặc:

Bây giờ kẻ Bắc người Nam
Ngựa Hồ chim Việt biết làm sao đây

Câu thành ngữ: Ngựa non háu đá, ý nói những người tẻ tuổi còn non nớt, ưa ứng xử thô bạo, hung hãn, thích đối chọi với người khác mà không tự lượng sức mình.

‘’Một con ngựa đau cả tàu nhịn cỏ’’. Câu nầy dân gian muốn mượn con ngựa, một con vật rất thân thiết với con người để nói lên một cách sâu sằc về đạo lý làm người, nêu lên truyền thống tương thân tương áí, chia xẻ hoạn nạn của cộng đồng.

Nhằm đúc kết một kinh nghiệm trong cuộc sống, quan hệ giữa con người với con người, có giá trị như là một chân lý: người tốt sẽ làm bạn với người tốt, còn kẻ xấu thì kết bè kết đảng với nhau. Đó là câu Ngưu tầm ngưu Mã tầm mã. Trước vành móng ngựa mà chúng ta cũng thường nghe nói vì đây là môt biểu tượng cho tòa án và pháp luật. Thời trước, ở La Mã nhà nước xét xử và trừng trị những người phạm tôị dùng ngựa để xé xác phạm nhân. Việc xử tội bằng cách voi giày ngựa xéo này thể hiện sự tàn ác của luật pháp ngày xưa. Về sau người ta bãi bỏ hình phạt dã man nầy và lấy vành móng ngựa để làm biểu tượng cho sự tôn nghiêm và uy quyền của tòa án. Vành nầy có hình dáng cong cong như cái móng ngựa, mỗi lần xét xử, phạm nhân đứng vào trong vành móng ngựa và khai ra sự thật,.chịu sự phán xử và trừng phạt của pháp luật.

Ngựa quen đường cũ: ngụ ý ám chỉ những hạn người ngoancố, không biệt phục thiện, không chịu sửa chữa những lỗi lầm của mình.. 

Ngựa nào gác được hai yên: Ý nói cái gì cũng có giới hạn và mức độ của nó. Phải lượng sức mình mà làm việc. Yên là mảnh da uống cong đặt trên lưng ngựa để làm chỗ ngồi cho người cưỡi. Hình ảnh yên ngựa ta thấy xuất hiện trong thi ca cũng khá nhiều như:

Trong Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm :

Ôm yên gối trống đã chồn
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh.’’

Và:


Tưởng chàng trải nhiều bề năng nổ
Ba thước gươm một cỗ nhung yên.

Bóng ngựa qua cửa số: Bóng ngựa hay bóng câu (Bạch câu có nghĩa là con ngựa non sắc trắng dùng để ví sự lướt nhanh của bóng mặt trời, bóng nắng của thời gian) lướt qua khe cửa là nhằm để chỉ sự trôi nhanh của thời gian do câu nói của TrangTử: “Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược bạch câu chi quá khích, hốt nhiên chi dĩ’’ nghĩa là: Người ta sống trong khoảng trời đất, cũng giống như bóng ngựa trắng lướt qua khe cửa trong chốc lát mà thôi.

Da ngựa bọc thây: Theo hậu Hán thư: Mã Viện đã trả lời Hán Quan Vũ: Đại Trượng Phu nên chết ở nơi biên giới, chốn chiến trường, lấy da ngựa bọc thây mà chôn chứ sao lại phải nằm ở trên giường trong tay bọn trẻ con, đàn bà mà được ư? Nhằm ý nói về chí khí làm trai của bậc nam nhi:

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
(Chinh Phụ Ngâm)

Đường dài mới hay sức ngựa (trường đồ tri mã lực): Ý nhắc nhở ta phải kiên gan bền chí, làm việc gì cũng phải làm đến nơi đến chốn mới đạt được thành công tốt đẹp. Đừơng dài mới biết ngựa hay. Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng. (ca dao dân gian) Hình ảnh con ngựa trong ca dao dân gian thỉnh thoảng cũng xuất hiện trong những chuyện tình của trai gái thôn quê mộc mạc chân thành. Khi tình yêu trăm năm sắc cầm hòa hợp, nguyện thề sắt son thi:

Đường dài ngựa chạy biệt tăm
Người thương có nghĩa trăm năm cũng về.

Hoặc:

Đường xa mượn ngựa anh đi
Thương nhau nào có quản chi xa đưường

Hoặc:

Dù ai xe ngựa mặc ai
Đôi ta đi bộ đường dài thích hơn.

Nhưng có những mối tình trái ngang trắc trở, chia lìa, lấy ngựa để ví von gởi gắm:

Em có chồng rồi như ngựa có cương
Ngõ em em đứng, đường trường anh đi.

Và hờn trách những chàng trai hờ hững để cho tơ duyên đứt đọan:

Trách chàng chẳng giám trách ai
Sao chàng lại trách hoa nhài không thơm
Vì chàng thả lỏng dây cương
Nên con tuấn mã bên đường thênh thang…

Và khi tình yêu trọn vẹn, chàng đưa nàng về dinh:…

Ngựa ô anh thắng kiệu vàng
Anh tra khớp bạcLục lạc đồng đen
Búp sen lá rậm
Dây cương đằm thắm
Anh đưa nàng về dinh…

Còn nhiều hình ảnh khác có dính dáng đến con ngựa như: Ngựa hay lắm tật. Ám chỉ những người có tài đặc biệt xuất sắc, có khả năng trí tuệ. Nhưng có nhiều khuyết tật như hợm hĩnh, kiêu căng, khinh người ngạo mạn…Ngựa chạy có bầỳ chim bay có bạn: ngụ ý nhắc nhở chúng ta sóng ở đời phải có bạn bè, có tập thể và có cộng đồng…

Trong những nhà thơ nổi tiếng thời xưa cũng lấy hình ảnh con ngựa để gởi gấm tâm trạng của mình: Nhà thơ Ngô Thời Nhậm(1746-1803):  

Con ngựa bên sườn núi trở về
Ngày đi thả cỏ, tối về ngơi
Ngủ kỹ ăn no thật thảnh thơi
Hậu đãi khéo sao riêng kiếp ngựa
Thiên tư đâu có phải lòng trời
Giống thồ vẫn đứng thâu ngày đó,
Vó ký thường dong vạn dặm hoài
Nhắn khách thông minh đừng oán phận
Ngu si hưởng phúc biết bao người
(Nguyễn Sĩ Lâm dịch)

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308): Trong cuộc làm lễ ở Chiêu Lăng nhân thấy chân ngựa đá trước các miếu đền có dính bùn,Vua tức cảnh làm hai câu thơ chữ Hán :

Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông nghìn thưở vững âu vàng.

Nhà thơ Thanh Tịnh (1911-1988) một nhà thơ tiền chiến nổi tiếng. Ông sáng tác bài thơ Mòn Mỏi nói lên tâm trạng của một người con gái mòn mỏi đợi người tình đi chinh chiến miền xa trở về. Nhưng ngày trờ về chỉ thấy con ngựa trở về một mình trên yên vắng chàng:

Em ơi nhẹ cuốn bức rèm tơ
Tìm thử chân mây tỏa khói mờ
Có bóng tình quân muôn dặm ruổi
Ngựa hồng tuông bụi cõi xa mơ
Xa nhìn bên cõi trời mây
Chị ơi em thấy một cây liễu buồn
Bên rừng em hãy nhìn theo
Có phải chăng em ngựa xuống đèo?
Chị ngỡ như chàng lên tiếng gọi
Trên mình ngựa ví lại vang reo
Bên rừng ngọn gió rung cây
Chị ơi con nhạn lạc bầy kêu sương
Tên chị ai gieo giữa gió chiều
Phải chăng em hỡi tiếng chàng kêu?
Trên dòng sông lặng em nhìn thử
Có phải chăng người của chị yêu?
Sóng chiều đùa chiếc thuyền nan
Chị ơi con sáo gọi ngàn bên sông
Ô kìa bên cõi trời đông
Ngựa đi còn ruổi dặm hồng xa xa,
Này lặng em ơi, lặng lặng nhìn
Phải chăng mình ngựa sắc hồng in?
Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống
Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm
Ngựa hồng đã đến bên hiên
Chị ơi trên ngựa chiếc yên vắng người.

Văn hào Nguyễn Du (1766 ?-1820) có một bài thơ: Thành hạ khí mã (con ngựa bỏ ở chân thành) để gởi gấm tâm sự:

Con Ngựa Bỏ ở Chân Thành
Bên thành ngựa ốm của nhà ai?
Lông sạm, da khô, xương xẩu bày.
Thạch lũy thu về, làn cỏ lụi,
Sa trường chiều tối lớp mây dày,
Cầu người lúc đói lòng bao nở,
Báo nước khi già, dạ chẳng khuây.
Dầu dãi phong sương cho trọn tiết,
Chớ cho đai nịt lại vương rầy.
(Phùng khắc Khoan và Lê Thước dịch)

Trong Truyện Kiều thì hình ảnh con ngựa được nhắc đến nhiều nhất. Như những câu :

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm (48)
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh (72)
Tuyết in sắc ngựa câu dòn (139)
Khách đà xuống ngựa, đến nơi tự tình (142)
Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo ( 168)
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi (578)
Làm thân trâu ngựa đền ghì truc mai (708)
Rằng ta có ngựa truy phong (1107)
Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn (1118)
Người lên ngựa, kẻ chia bào (1519)
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong ( 2216)
Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài (2272)
Bây giờ Kim Mã ngọc đường với ai (2870)
Sắm sanh xe ngựa vội vàng (2950).

Nói đến ngựa còn rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, điển tích, và thơ để nói. Nhưng chúng ta lại quên không nhắc đến bốn chữ: đầu trâu mặt ngựa là một điều thiếu sót. Thành ngữ nầy dùng để chỉ bọn quỷ sứ dưới âm ty, đồng thời cũng nhằm ám chỉ những hạng người độc ác, dã man trong xã hội. Như tập đoàn Cộng Sản đang cai trị trên đất nước Việt nam hiện nay. Bọn chúng chính là bọn quỷ sứ, bọn đầu trâu mặt ngựa trên trân gian nầy. Chúng ta đã mất nước 39 năm rồi. Đã sống lưu lạc khắp năm châu bốn biển, nhưng không quên miệt mài tranh đấu giành lại tự do, nhân quyền cho dân tộc Việt Nam. Năm nay con ngựa lại trở về: Mã đáo thành công. Hy vọng đoàn thiên lý mã kiêu hùng của năm Ngọ trở về quang phục quê hương, giải thể chế độ độc tài Cộng sản, buộc bọn đầu trâu mặt ngựa nầy trả lại những mùa xuân thật sự thành bình cho Nhân Dân và cho Tổ Quốc Việt Nam. Cờ vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc Việt Nam sẽ tung bay từ Nam chí Bắc đúng với câu thành ngữ: Kỳ Khai Đắc Thắng. Mã Đáo Thành Công.

Trần Thế Phong

******************************************************
******************************************************