Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Văn Học Hành trình chữ Việt

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Hành trình chữ Việt

In PDF.
Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 

 




Quá trình phát triển của cư dân Việt Nam qua từng giai đoạn cũng giống như nhiều nơi khác trên thế giới đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, trước tiên từ phía các nhà nghiên cứu đến từ châu Âu với mong muốn tìm ra điều gì đó ở những quốc gia phương Đông bí ẩn.

Trước năm 1945, nhà khoa học người Séc Cesmir Loukotca, trong tác phẩm "Lịch sử chữ viết thế giới" đã viết: "Phía Nam Đế quốc Trung Hoa, trong vùng Đông Dương hiện nay có Nhà nước An Nam, ngay từ thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên đã bị người Hán thống trị. Chữ Trung Quốc cũng du nhập vào đây, trước đó hình như người An Nam đã đọc bằng chữ ghi âm riêng, chữ đó không còn lại đến ngày nay". Còn nhà nghiên cứu Terrien de la Couperie viết trong Tạp chí Hàn lâm của Hoàng gia Anh, xuất bản năm 1887, đã cho rằng: "Sĩ Nhiếp buộc người Việt học chữ Hán và cấm dùng chữ tượng thanh của mình".

Trung Hoa - một đất nước có nền văn minh phát triển vào bậc nhất thế giới, từ xưa đã có những thời kỳ giao lưu với Việt Nam. Những ghi chép trong cuốn "Giao Châu ngoại vực ký" có ghi lại một số ấn tượng về những con người vùng đất phía Nam. Trong những chi chép ấy có nhắc tới những chiếc khánh, chiếc ấn đồng mà các Lạc tướng thời Hùng Vương có đeo. Người ta cho rằng, đó chính là tín hiệu để có thể phân biệt phẩm cấp của chủ nhân đeo nó. Đặc biệt nhất chính là chiếc ấn bằng đồng có quai tua xanh, chiếc ấn giờ vẫn còn được lưu giữ và được các chuyên gia châu Âu gọi là quả cân đồng. Một trong những hiện vật khảo cổ của người Việt cổ thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu chính là chiếc qua đồng, gọi là qua đồng Thanh Hoá vì nó được tìm thấy đầu tiên ở vùng đất Thanh Hoá với những ký hiệu rất lạ, không giống với những hoa văn thường thấy. Ngoài qua đồng Thanh Hoá còn có rất nhiều hiện vật được tìm thấy như: chiếc rìu lưỡi xoè, lưỡi rìu hơi cong xoè ra và có những tập hợp ký hiệu lạ mắt... Những ký hiệu lạ ấy được các nhà nghiên cứu tập hợp lại với mục đích giải mã những thông điệp ghi ở đó nếu như có tồn tại thật sự một hệ thống ký tự. Họ phát hiện ra những ký hiệu phức tạp đó đã được xuất hiện, lặp đi, lặp lại với một tần xuất nhất định, nhiều nhất là ba lần và ít nhất là một lần. Song, đó vẫn chưa đủ để khẳng định sự tồn tại của một hệ thống chữ viết. Như văn tự Kipu của người Inca, lấy những sợi dây màu và chất liệu khác nhau để thông báo nội dung.

Bảo tàng Guimet

Trong cuốn "Địa dư Quảng Ngãi" có nhắc tới việc các cư dân Chăm Hơrê lấy vỏ cây đay để làm chữ thắt gút. Trước tiên họ tước lấy vỏ, sau đó vỏ được đập lâu cho thật tơi, rồi đem ngâm với nước vôi hay thứ nước được nấu từ những rễ cây khác nhau. Những vỏ cây đập tơi ấy sẽ được nhuộm thành nhiều màu khác nhau với mục đích ghi lại nhiều nội dung. Các chủ nô thời bấy giờ đều có thư viện chứa loại sách thắt gút như vậy, bằng những đoạn dây được quy định chuẩn, chia từng tháng, các sự kiện thắt gút dài trở thành những cuốn biên niên sử. Chiếc lưỡi cày hình cánh bướm được các nhà khảo cổ học Thuỵ Điển khai quật ở Thanh Hoá, giờ đây nó được trưng bày tại Bảo tàng Guimet - Paris. Trên lưỡi cày có hai ký hiệu lạ mắt, theo Giáo sư Hà Văn Tấn, hai ký hiệu đó do không đối xứng với nhau nên ít có khả năng là hoa văn trang trí mà có nhiều khả năng là chữ viết, một loại chữ cổ. Từ những ký hiệu không giống như hoa văn trang trí ấy, cùng với ký hiệu trên những hiện vật thuộc tính chất và khu vực khác song lại có những nét tương đồng, Giáo sư Hà Văn Tấn đã có thống kê về một hệ thống những ký hiệu được xuất hiện theo một quy luật nhất định. Các chuyên gia trên những cơ sở nghiên cứu của mình đã lần lượt tìm ra các nét tương đồng trên những hoa văn của từng thời kỳ phát triển. Núi Đọ - một ngọn núi như bao núi khác ở Thanh Hoá, điều làm nên sự khác biệt chính là những hiện vật khảo cổ được tìm thấy ở đây. Có lẽ sự khác biệt ấy được tạo nên chính nhờ cấu tạo địa lý, ngọn núi này nằm ở ngã ba, nơi hai con sông Mã và sông Chu hợp dòng. Người ta biết nhiều đến những hiệt vật thuộc khu vực sông Mã, bởi nơi đây xưa kia chính là một địa điểm quần cư đông đúc. Các hiện vật tìm thấy ở đây thuộc nhiều thời kỳ, song chiếm tỷ lệ nhiều nhất là thời kỳ Văn hoá Đông Sơn, thời kỳ phát triển và phát tán khá mạnh của văn hoá Việt. Cuốn sách"Thanh Hoá quan phong" ghi chép khá đầy đủ những sự kiện đã xảy ra ở vùng đất này kèm theo đó là các đánh giá của tác giả trên mọi lĩnh vực cuộc sống. Tác giả của cuốn sách này là Vương Duy Trinh, được biết đến từ đời Thành Thái thứ 15. Một phần quan trọng trong đó được Vương Duy Trinh ghi chép và đánh giá là sự biến đổi của ngôn ngữ Thập châu, mà chữ viết là một phần quan trọng. Ông có những so sánh về các loại hình chữ viết rồi đưa ra quan điểm của mình và khẳng định về sự tồn tại của một hệ thống chữ viết bản xứ. Người ta biết đến Sa Pa là một khu du lịch lý tưởng, song ít người biết rằng ở đó còn lưu giữ những thông điệp của các cư dân cổ được ghi trên nhiều phiến đá. Những hình khắc trên các phiến đá không dễ nhận ra, song nó vẫn đủ sức mạnh để chống lại với khắc nghiệt của thời gian đang phủ lên bề mặt qua nhiều thời kỳ. Tộc người nào là chủ nhân của những tác phẩm này thì chưa xác định, nhưng những gì thể hiện ở đây thì không dễ phủ nhận về một hệ thống ký hiệu. Những hình khắc thô sơ trên phiến đá cho phép xác định thời điểm xuất hiện của chúng cùng một mốc thời gian. Không xa với những phiến đá có khắc những hình vẽ ấy chính là những con suối. Có lẽ do tập quán cư trú hình thành từ xa xưa là quần cư bên những con suối để tiện cho việc săn bắt thú và tìm thức ăn, nên những dấu tích trên đá có rất nhiều ở đây. Từ việc lao động và sinh hoạt hàng ngày, các cư dân cổ nơi này đã nảy ra ý muốn tìm một phương thức nào đó để có thể ghi chép lại những câu chuyện đã xảy ra với họ. Hình vẽ nhiều nhất được tìm thấy ở đây giống như những hình người, có lẽ các tác giả thời bấy giờ lựa chọn cho mình những chủ đề gần nhất với hoạt động thường ngày. Theo phán đoán và phân tích của chuyên gia người Pháp Goloubew, bức tranh vẽ trên một phiến đá to được chia làm nhiều phần: khu vực của thủ lĩnh chiếm vị trí trung tâm, phần bên trái và bên phải là đồng ruộng, tiếp theo là khu vực cư dân đông đúc, khu vực nhà kho được xây xa nhà để phòng cháy và gần cánh đồng. Các cánh đồng đều có công trình tưới nước, cư dân làm lúa trên ruộng bậc thềm. Dưới thủ lĩnh tối cao có các cấp chiếm vị trí quan trọng gần dân cư và đồng ruộng. Ngoài biên cương dân cư thưa thớt, đất đai nhỏ hẹp. Quanh phiến đá to còn có rất nhiều phiến đá lớn nhỏ nhiều loại khác nhau, chủ đề là phần tiếp theo của câu chuyện, cũng như các bức tranh ghi chép những công việc đồng áng và sinh hoạt hàng ngày khác.

Giờ đây, khi các cư dân nơi này đã có một cuộc sống phong phú về văn hoá cũng như sự đa dạng trong phương thức lao động, và đặc biệt là hệ thống chữ viết đã có, thì những thông điệp được ghi lại trên các phiến đá vẫn thu hút sự chú ý của chính bản thân họ cũng như nhiều chuyên gia về văn tự trên thế giới. Vậy những ký hiệu có nội dung ấy, những thông điệp được gửi lại ấy nên được hiểu và đánh giá như thế nào? có lẽ đó vẫn chỉ là những ký hiệu có khả năng là mầm mống của một hệ thống chữ viết cổ.

Hành trình chữ Việt



công cụ sản xuất của người Việt cổ

Từ tín hiệu được phát hiện trên đá cổ ở Sa Pa và những ký hiệu trên công cụ sản xuất của người Việt cổ, các chuyên gia đã và đang đặt ra những giả thuyết về sự tồn tại một hệ thống chữ cổ của người Việt trước khi chịu ảnh hưởng của những hệ thống văn tự từ các quốc gia khác.

Song song với sự tìm tòi, phát hiện, các chuyên gia luôn phải đối mặt với những trở ngại, một trong những trở ngại ấy chính là những sự kiện xảy ra trong lịch sử. Sau khi đất nước Trung Hoa được tái thống nhất vào thời điểm sắp bước vào kỷ nguyên mới, đất nước này đã trở thành một khối thống nhất và dần lấy lại được ưu thế của một cường quốc hùng mạnh. Hình hài một vùng lãnh thổ Trung Nguyên rộng lớn được gây dựng nên bởi một Tần Thuỷ Hoàng danh tiếng lẫy lừng đã được tái tạo, ước vọng sở hữu thiên hạ lại trở nên cháy bỏng trong tâm tưởng của nhà cầm quyền phong kiến nước này. Và vì thế, công việc mở mang bờ cõi luôn là mối bận tâm hàng đầu trong các quyết sách của họ. Đường biên giới ngày càng được mở rộng hơn qua những cuộc viễn chinh hướng tới những vùng đất ở bên ngoài.

Thời gian qua đi, cùng với việc chính quyền phong kiến phương Bắc ngày càng trở nên mạnh mẽ, đường đi của các đội quân hướng dần xuống phía Nam. Nằm ở phía Nam của Trung Nguyên, Việt Nam cũng không tránh khỏi những cuộc chinh phạt ấy. Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử nước nhà, nó mở đầu cho những giai đoạn thăng trầm của cả một quá trình phát triển văn hoá lâu dài sau này của Việt Nam. Ngay từ thời khắc ban đầu của quá trình xâm nhập vào Việt Nam, các thế lực phương Bắc đã đạt được một dấu ấn nhất định lên nền văn hoá. Dấu ấn ấy đầu tiên được tiếp nhận một cách bị động, các cư dân người Việt cổ lúc bấy giờ tiếp nhận một cách cưỡng ép, song họ cũng nhận thấy đó là một nền văn minh lớn của thế giới. Đền Ngọc Sơn, một ngôi đền nằm giữa Hà Nội, người Việt Nam coi đây là một trong những biểu tượng đặc trưng của Thủ đô bởi vị trí trang trọng trong tâm linh, bởi quá trình tồn tại lâu dài và những gì chứa ẩn ở đó cũng chính là đặc trưng của mảnh đất Việt Nam. Có điều đặc biệt, cũng giống như những ngôi chùa, ngôi đền khác ở Hà Nội, tất cả những dòng chữ ghi ở đó đều là chữ Hán, các cư dân ở Hà Nội nói riêng và người Việt Nam trên toàn bộ lãnh thổ đều chấp nhận sự tồn tại của loại hình văn tự này ở những nơi trang trọng như một điều tất yếu. Điều tất yếu ấy được hình thành qua một quá trình ảnh hưởng lâu dài từ văn hoá Hán. Theo đó, chữ Hán cũng vào Việt Nam và tồn tại với tư cách là một hệ thống văn tự duy nhất ở đây. Cho đến nay, chữ Hán cùng với chữ Nôm được sử dụng ở những nơi rất trang trọng như: chùa, miếu, đền và cả ở những từ đường của dòng họ. Tập quán ấy được hình thành một thời gian dài, chữ Hán là văn tự duy nhất trong các văn bản chính thức của chính quyền phong kiến Việt Nam. Thời gian về sau, với sự du nhập mạnh mẽ của Đạo Nho, chữ Hán lại trở thành phương tiện tích cực cho việc truyền bá lễ giáo, cũng như phục vụ các học sĩ người Việt tiếp thu kiến thức. Cứ như thế, chữ Hán đi sâu vào đời sống người Việt một cách chắc chắn. Sự tồn tại vượt qua thời gian của những ngôi nhà cổ ở Hà Nội như một minh chứng cho giai đoạn phát triển văn hoá của khu vực. Những dòng chữ Hán cho thấy, vị trí của hệ thống chữ viết này một thời gian dài không chỉ được xác lập trong hoạt động của chính quyền, nó đã chiếm một vai trò quan trọng trong đời sống thường ngày của cư dân bản địa. Điều đó chứng tỏ người Việt đã dần biết cách sử dụng chữ Hán để phục vụ mục đích của riêng mình. Bên cạnh đó, chữ Hán còn được sử dụng ở một trình độ cao hơn, đó là trong những cuộc thi tuyển hoạt động giáo dục của nước nhà.

Quay trở lại thời kỳ đầu của quá trình áp đặt nền đô hộ của mình tại Việt Nam, nhà cầm quyền phương Bắc bắt đầu từ đời Tây Hán, sau khi tái thống nhất đất nước, chính quyền nhà Tây Hán với đà tiến của mình đã mở nhiều cuộc chinh phạt để mở rộng bờ cõi nhằm thoả mãn ý đồ làm chủ thiên hạ. Do Trung Nguyên thu về một khối, thế lực nhà Tây Hán trở nên hùng mạnh với sự góp mặt của những con người từ nhiều địa phương trên một khu vực lãnh thổ rộng lớn.

Mảnh đất phương Nam với những điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi, tài nguyên phong phú và con người hiền hoà trở thành đích ngắm. Vào năm 179 trước Công Nguyên, nhà Tây Hán đưa quân xuống Việt Nam, bắt đầu giai đoạn đặt sự thống trị của mình tại đây, mở đầu cho một quá trình mới của đất nước. Cùng lúc đó, Việt Nam bắt đầu làm quen với sự có mặt của một nền văn hoá mới, nó tác động toàn diện lên đời sống của cư dân bản địa. Cho tới năm 111 trước Công Nguyên, nhà Tây Hán đã hoàn toàn có được sự thống trị tại Việt Nam. Chính quyền thành lập Giao Châu gồm có 9 quận, ở Việt Nam có 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Lúc này, toàn bộ khu vực Trung Nguyên đã được mở rộng ra một phạm vi lớn. Cùng với việc thiết lập một hệ thống cai trị rộng khắp Giao Châu, nhà Tây Hán cũng xác lập một nền giáo dục và phát triển văn hoá trên toàn khu vực. Từ lúc này, chữ Hán trở thành văn tự bắt buộc của các cấp chính quyền, ngôn ngữ sử dụng tại Việt Nam là tiếng Việt và tiếng Hán nhưng văn tự chỉ có một là chữ Hán. Tích Quang được nhà Tây Hán bổ làm Thái thú cai quản quận Giao Chỉ, khu vực nằm ở phía Bắc của Việt Nam. Việc cai quản tuân theo chỉ đạo từ phương Bắc, còn Nhâm Diên làm Thái thú của quận Cửu Chân. Cả hai ông đều là những quan lại theo Nho giáo nên rất chú trọng việc truyền bá lễ giáo này, công việc chính của hai vị Thái thú này ở Việt Nam là phục vụ yêu cầu đồng hoá văn hoá mạnh mẽ của nhà cầm quyền Tây Hán, do đó việc mở những lớp học chữ Hán đã được chuẩn bị. Bên cạnh đó, vì là nhà Nho nên Tích Quang và Nhâm Diên cũng tìm cách truyền bá nền giáo lễ của loại hình tôn giáo này vào Việt Nam. Song song với việc mở trường dạy học chữ Hán, các lễ giáo phong kiến, nhà Tây Hán vẫn tìm mọi cách đẩy mạnh quá trình đồng hoá. Theo đà thống nhất đất nước, nhà Tây Hán đã coi việc cưỡng ép những tộc người nhỏ tuân theo sự cai trị của mình là điều tất yếu. Ở đây, chính quyền đô hộ đã đặt một chế độ cai trị hết sức hà khắc lên cư dân bản địa. Không khí ngột ngạt không chỉ tồn tại ở những thực địa mà ngay cả ở Trung Nguyên cũng chịu sự khắc nghiệt đó. Cho tới năm 40, ở Việt Nam đã nổ ra một cuộc khởi nghĩa nổi tiếng của Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa này rồi cũng đi vào thời kỳ suy tàn, song nó đã mang một luồng gió mới đến khắp Giao Châu. Tuy chỉ diễn ra ở Việt Nam, song cuộc khởi nghĩa đã nhận được sự ủng hộ trên toàn Giao Châu rộng lớn. Nó có tác động mạnh mẽ tới mức tuy không duy trì lâu dài, nhưng cũng đủ làm cho nhà cầm quyền phải thay đổi phương thức cai trị.

Sau nhà Tây Hán, nhà Đông Hán lên cầm quyền, quan điểm cai trị do có được bài học từ trước nên đã có những lựa chọn cởi mở hơn, các học sĩ ở Việt Nam sau một thời gian làm quen với hệ thống học vấn đã hình thành nền tảng nhất định Nho học và đặc biệt là vốn chữ Hán. Thêm vào đó, chính sách cai trị của nhà Đông Hán phần nào cởi mở hơn đã làm cho cư dân bản địa tiếp thu nền văn hoá này tốt hơn. Hơn nữa, với những tương đồng về tập quán lao động và sinh hoạt được hình thành từ lâu, các cư dân nơi đây đã có được phương thức tiếp nhận tốt nhất những giá trị văn hoá mới này. Chữ Hán vì vậy đã nhanh chóng chiếm được vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá như một bộ phận hữu cơ. Hệ thống giáo dục được mở mang theo đúng như lối tổ chức của Trung Nguyên, nên đã tạo ra những thay đổi lớn trong đời sống văn hoá cư dân nơi đây. Vốn xuát phát từ một dân tộc hiếu học, hai anh em Lý Tiến và Lý Cầm đã nhanh chóng hiểu được những kiến thức mới thông qua việc truyền bá Nho giáo. Hai ông đã đỗ đạt và được nhận Chỉ phong làm quan tại bản xứ. Theo đà đó, mảnh đất phương Nam dần trở thành nơi lý tưởng cho sự thâm nhập của những lễ giáo mới và ngày càng xuất hiện nhiều nhân vật có ảnh hưởng.

Vùng Thuận Thành - Bắc Ninh trước vốn là trung tâm của quận Giao Chỉ, nơi trú ngụ của Sĩ Nhiếp. Tại chính khu vực này, người dân bản xứ đã dựng nên ngôi đình Nam Giao để thờ Sĩ Nhiếp, người được mệnh danh là "Nam Giao học tổ". Trong suốt quá trình ở Việt Nam làm Thái thú, ông đã có công lớn trong việc mở những trường đào tạo chữ Hán, đào tạo giáo lý nhà Nho cho cư dân toàn vùng. Thời gian này, văn tự Hán không chỉ đơn thuần là những văn bản của chính quyền, nó đã trở thành phương tiện để người Việt Nam ghi lại chính những sự kiện, những giá trị văn hoá của dân tộc mình. Thời kỳ nhà Đường đánh dấu một bước chuyển biến lớn cho nền văn hoá Trung Nguyên, hàng loạt những sáng tạo trên mọi mặt của người Trung Hoa đều được phát hiện và phát tác thời kỳ này. Trong lễ giáo Nho gia, thời kỳ này cũng đạt được những đột phá mạnh mẽ. Những giá trị được tích luỹ từ bao đời, bao thế hệ giờ như gặp thời cơ để có thể giới thiệu tốt nhất, hình thành được một quy chuẩn cho sự phát triển của Nho giáo nói riêng và cho sự phát triển của văn hoá Trung Nguyên nói chung. Cùng với đó, những luồng tư tưởng mới của Trung Nguyên dần được đưa tới mảnh đất phía Nam, theo đó là cả một hệ thống giáo dục bằng văn tự Hán. Các công trình kiến trúc được xây dựng riêng cho những hoạt động truyền bá văn hoá cũng được nhà cầm quyền chú trọng hơn trước. Cùng với những thành tựu văn hoá, các phát kiến về khoa học kỹ thuật cũng tạo nên tên tuổi cho đời nhà Đường trên thế giới. Các cư dân Việt Nam cũng vì thế mà phần nào tiếp thu được những tinh hoa từ phương Bắc. Lúc này, văn hoá và chữ Hán đã được người Việt tiếp nhận một cách tự nhiên, khác với trước đây. Bên cạnh những công việc đồng áng thường ngày, họ đã chấp nhận sự tồn tại một nền văn hoá và hệ thống văn tự được du nhập từ phương Bắc. Song mục đích của sự tiếp nhận ấy đã khác hơn so với mục đích của chính quyền đô hộ.

Các cư dân Việt đã biết sử dụng văn tự Hán như một phương tiện thuận lợi để ghi lại những kinh nghiệm làm nông được tích luỹ qua nhiều thế hệ. Những ghi chép ấy giờ đây vẫn được lưu giữ, nhưng không phải ai cũng hiểu được xuất xứ cũng như mục đích ban đầu của những văn bản đó. Song, sự phát triển của thời kỳ này phần nào có lợi tới nền văn hoá bản địa. Tiêu biểu cho những học sĩ người Việt Nam ấy chính là Khương Công Phụ và Tinh Thiều. Việc hai ông đỗ đạt và được cử đi làm quan ở Trung Nguyên đã làm thay đổi phần nào cách nhìn của nhà cầm quyền với giới tri thức Việt Nam, đồng thời càng khuyến khích lòng hiếu học của các học sĩ bản địa khác, và đó cũng là một môi trường tốt cho quá trình thâm nhập của chữ Hán trong đời sống văn hoá cư dân Việt Nam.


Chữ Hán - Dấu ấn của Trung Nguyên tại Việt Nam



Nguồn gốc sự sáng tạo của người Việt trong vấn đề âm Hán Việt được hình thành từ thời kỳ nhà Đường ở Trung Nguyên. Những cách phát âm tiếng Hán thời kỳ này đã được cư dân Việt chủ động tiếp nhận do có những tương đồng trong ngữ âm.

Sau khi thành lập được một lãnh thổ thống nhất và mở rộng về phía Nam, khu vực Giao Châu rộng lớn được hình thành với 9 quận trải dài từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Cùng với lúc ấy, các cư dân Việt cũng vừa trải qua một giai đoạn khai phá, mở mang đất đai cư tụ, vì thế, chính quyền phương Bắc ngẫu nhiên sở hữu một địa vực tự nhiên và văn hoá vừa rộng lớn, vừa vô cùng phong phú.

Bên cạnh việc thu nhận từ vùng thực địa chiếm được những giá trị văn hoá bản địa, chính quyền đô hộ phương Bắc đã tích cực mở rộng sự ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Hoa ra những khu vực ấy. Và chữ viết cũng không nằm ngoài quy luật này, chữ Hán dần có được chỗ đứng chắc chắn tại Việt Nam. Các cư dân Việt vốn cần cù lao động, nhưng cũng chính là những người dân hiếu học vào bậc nhất. Với việc học tập được một hệ thống chữ viết tương đối hoàn thiện, các học sĩ bản địa có thể thực hiện mục đích tiếp thu tri thức từ một nền văn minh lớn nước láng giềng. Bên cạnh việc tiếp nhận những tri thức đó, người Việt Nam còn sử dụng chính những con chữ Hán để ghi chép lại các kinh nghiệm trong tập quán lao động, sinh hoạt được hình thành từ xa xưa. Và như vậy, những nhân sĩ người Việt sau giai đoạn tiếp thu chữ Hán một cách thụ động từ phương Bắc đã biết sử dụng một cách tốt nhất hệ thống văn tự này vào mục đích riêng có lợi cho mình. Cứ như vậy, chữ Hán vô tình trở thành một người bạn đồng hành với đời sống lao động, sinh hoạt văn hoá của người dân nước Việt. Thời gian về sau, chữ Hán không chỉ có vai trò trong những văn bản chính thức, trong những ghi chép thư tịch mà hệ thống văn tự này đã trở nên gần gũi với đời sống các cư dân hơn, khi nó được dùng để ghi gia phả dòng họ hay những sự kiện của một khu vực nhỏ. Việt Nam là một đất nước nông nghiệp từ xa xưa, những kinh nghiệm trồng lúa, cách chế tạo và sử dụng nông cụ của Việt Nam đã trở thành bài học quý giá cho những quốc gia khác. Và lúc này, chữ Hán lại đóng vai trò ghi chép những bài học ấy cho chính Trung Hoa, đất nước mà nông nghiệp chủ yếu là làm lúa khô. Trong các thư tịch của Trung Hoa còn giữ lại được cho đến ngày nay, đều cho thấy có những ghi chép kiểu như vậy. Người ta thuật lại việc nước Nam đã trồng lúa nước ra sao, hay những giống lúa khác vụ mà ở Trung Nguyên không có. Cùng với đó, còn có những tập tục sinh hoạt thường ngày rất đặc trưng của người Việt cũng đều được ghi lại bằng những văn bản chữ Hán.

Do tính chất tiện dụng cũng như được truyền bá rộng rãi, hệ thống văn tự Hán lúc này là loại chữ viết duy nhất có mặt trong đời sống các cư dân Việt. Tại nhiều ngôi đình ở Việt Nam, bên cạnh những đồ thờ, bức tượng, đồ vật mang tính chất tín ngưỡng thì những bức hoành phi, đại tự hay những câu đối chữ Hán là không thể thiếu. Và chữ Hán lúc này đối với cư dân Việt không đơn thuần chỉ là hệ thống văn tự. Những lớp học được tổ chức trên diện rộng nhằm truyền bá và giáo dục hệ thống Nho học nói chung và dạy chữ Hán nói riêng. Thời gian này, sự ảnh hưởng của việc dạy chữ Hán không còn giới hạn ở quận Giao Chỉ, nó lan rộng ra khắp 3 quận thuộc Việt Nam. Chữ Hán đã ăn sâu và bén rễ vào đời sống văn học cũng như đời sống của các cư dân Việt lúc bấy giờ. Các thế hệ nhà Nho Việt Nam nối tiếp nhau xuất hiện làm cơ sở cho một nền tảng tri thức của dân tộc. Giờ đây, không chỉ có những thày giáo từ Trung Nguyên tới mở lớp cho người bản xứ học, mà chính những lớp Nho sĩ ấy đã có thể dạy cho người dân nước mình cách sử dụng hệ thống văn tự Hán. Ngay cả khi chữ Hán được sử dụng rộng rãi trong các văn bản của chính quyền, trong những kỳ thi tuyển người tài thì nó vẫn đóng vai trò chỉ là một ngoại ngữ thông dụng. Bởi ngoài việc ghi chép, thì người Việt vẫn nói tiếng Việt của mình. Đặc biệt, tại những nơi sinh hoạt dân cư công cộng như chợ búa, bến sông thì những người nông dân lao động Việt Nam vẫn nói thứ tiếng mẹ đẻ, bởi thứ tiếng ấy đã hình thành từ lâu. Thời gian dần qua đủ làm cho người Việt hiểu được vai trò của chữ Hán trong đời sống, nhưng mặt khác, càng làm cho chủ nhân mảnh đất này cảm nhận rõ hơn về tiếng nói của chính dân tộc mình.

Cuộc sống lao động, cũng như sự vận động của thời cuộc đã tạo nên những thay đổi phần nào nét văn hoá của vài địa phương và ngôn ngữ cũng không phải là ngoại lệ. Tiếng Hán ở Việt Nam dần có những biến chuyển khác đi so với nguồn gốc của nó. Ví dụ như chữ mậu, vào năm 907 vua Lương vì kiêng huý nên đã ra lệnh đổi thành chữ vũ. Vậy là toàn Trung Nguyên sử dụng chữ mới này, song ở Việt Nam người ta vẫn sử dụng chữ mậu như cũ. Đây được coi là một trong những tín hiệu đầu tiên báo hiệu một xu thế mới, đó là xu thế chữ Hán dùng ở Việt Nam dần tách rời phần nào khỏi chữ Hán ở Trung Nguyên, và nó đã tạo ra một bước đi tương đối độc lập về văn tự cho người Việt Nam.

Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng của quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền được coi là cột mốc của lịch sử và cả văn hoá dân tộc Việt Nam. Vào năm 938, sau bao nhiêu năm chịu ách đô hộ của thế lực phong kiến phương Bắc, Việt Nam đã lật đổ được chính quyền cai trị nhà Nam Hán. Trận thủy chiến nổi tiếng này không chỉ đưa Việt Nam đến với độc lập tự chủ, nó còn gây sự chú ý đặc biệt từ nhiều quốc gia văn minh khác. Chiến thắng lịch sử ấy cùng lúc đã đem lại cho văn hoá Việt Nam một cơ hội khẳng định mình trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, và nền Hán học cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó. Ngay lúc này, nhà nước phong kiến đầu tiên của Việt Nam đã ra đời. Ngay sau khi giành được độc lập từ tay nhà cầm quyền Nam Hán, chính quyền phong kiến của Việt Nam đã tiến hành ngay một số biện pháp, nhằm bảo tồn và duy trì nền văn hoá được thiết lập từ xa xưa, cũng như chắt lọc những giá trị tinh hoa của Trung Nguyên được du nhập qua một thời gian dài, mà đặc biệt là hệ thống chữ viết.

Tới khi giành được độc lập, thì đời sống văn hoá của cư dân Việt Nam đã trải qua một quá trình hình thành lâu dài dưới những ảnh hưởng từ văn hoá Trung Nguyên. Người Việt lúc này sử dụng song song hai thứ tiếng nói là tiếng Việt bản địa và một số ít sử dụng tiếng Hán, nhưng chữ viết thì chỉ có duy nhất là chữ Hán. Chính vì vậy mà tất cả văn bản ghi chép từ những chính sách nhà nước, cho tới những thư tịch lịch sử, và đặc biệt là một kho tàng văn hoá Hán và Việt đều được ghi lại bằng chữ Hán. Do đó, chữ Hán thời gian này vẫn là một trong những đại diện rõ rệt nhất cho những dấu ấn của Trung Nguyên tại Việt Nam. Song, không vì thế mà người Việt Nam không có những sáng tạo của riêng mình trên phương diện này. Tiếng Hán là một sinh ngữ, nên nó có những biến đổi liên tục. Nhưng những thay đổi liên tục ấy chỉ diễn ra bên trong phạm vi Trung Nguyên, bởi lúc bấy giờ, tiếng Hán không còn có được sự ảnh hưởng trực tiếp tới đất nước Việt Nam độc lập. Và như vậy, tiếng Hán và chữ Hán ở Việt Nam lại được chính người dân bản địa tạo ra những khác biệt mới. Những khác biệt ấy bắt nguồn từ chỗ do có một thời gian dài ảnh hưởng tới ngôn ngữ ở Việt Nam, âm Hán đã phần nào thay thế những âm Việt cổ nhằm thoả mãn sự tiện lợi trong sử dụng. Một lợi thế nữa của tiếng Hán là có chữ viết nên việc phát tán cũng như gây sức ép lên một hệ thống ngôn ngữ khác trở nên có hiệu quả. Trong khi ấy, một hệ thống chữ Việt của người Việt cổ vẫn chỉ là những giả thuyết chưa được chứng minh. Do đó, tiếng Việt thời kỳ này chịu ảnh hưởng tới gần 70% âm Hán.

Nguồn gốc sự sáng tạo của người Việt trong vấn đề âm Hán Việt được hình thành từ thời kỳ nhà Đường ở Trung Nguyên. Những cách phát âm tiếng Hán thời kỳ này đã được cư dân Việt chủ động tiếp nhận do có những tương đồng trong ngữ âm. Thời gian dần trôi, với trí thông minh và ý thức sáng tạo, người Việt đã tạo thành một hệ thống âm Hán Việt hoàn chỉnh. Ví dụ như con chữ Hán được phát âm là tian, nghĩa Việt là trời, và âm Hán Việt là thiên. Còn với chữ Hán tượng hình đọc là jia, nghĩa tiếng Việt là nhà, còn âm Hán Việt đọc là gia. Tương tự thế, chữ Hán đọc là shan, nghĩa tiếng Việt là núi, còn âm Hán Việt đọc là sơn. Sự khác biệt một cách rõ rệt như vậy đã đem lại một diện mạo mới cho âm Hán được sử dụng tại Việt Nam. Những học giả người Trung Hoa về sau khi tới Việt Nam có dịp tiếp xúc với hệ thống âm này đều không hiểu được.

Xu thế tách rời âm Hán gốc ở Việt Nam thời gian này không chỉ là kết quả của sự độc lập trong văn hoá người Việt, mà nó còn là tiền đề cho sự ra đời của một hệ thống chữ viết mới ở Việt Nam, đây cũng là một sáng tạo văn hoá lớn của những học sĩ phong kiến người Việt. Lúc này, tuy chữ Hán là hệ thống chữ viết duy nhất ở Việt Nam, nhưng nó vẫn chưa đủ để ghi chép tất cả những âm của tiếng Việt. Đó chính là hạn chế lớn của chữ Hán, bởi văn hoá truyền thống của người Việt có một quá trình hình thành và phát triển từ lâu đời với những giá trị không thể phủ nhận. Ví dụ như trong âm Hán chữ huyết (nghĩa là máu) ghép lại với chữ khẩu, được đọc là hoét, một âm không có trong hệ thống chữ Hán mà chỉ người Việt mới có. Cứ như vậy, những con chữ Nôm được các học sĩ Việt Nam sáng tạo ra trên cơ sở chữ Hán, để có thể ghi được những âm mà tiếng Hán không tồn tại. Thành tựu ấy được các tầng lớp Nho sĩ người Việt sáng tạo từ những con chữ Hán gốc. Có thể nói, chữ Nôm không chỉ là một thành tựu trong học thuật từ xưa của người Vệt Nam. Chữ Nôm còn là một biểu tượng bất diệt cho tinh thần dân tộc được hình thành từ muôn đời, được hun đúc qua nhiều thế hệ và kết tinh trong tâm hồn của giới trí thức Việt Nam. Nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò của hệ thống chữ Hán trong việc tạo lập ra chữ Nôm. Ngoài việc đóng vai trò là nguyên liệu cho kết cấu của chữ Nôm. Văn tự Hán còn tạo cho những tầng lớp Nho sĩ người Việt một nền tảng sơ khai về quan niệm chữ viết, điều kiện quan trọng cho quá trình hình thành chữ Nôm. Còn chữ Nôm, sau thời gian đầu chập chững với những quy tắc, kết cấu, dần dần đã đạt được một sự thống nhất nhất định và trở thành phương tiện ghi chép mới.

Với nền tảng là một kho tàng văn hoá vốn phong phú, lại thêm quá trình giao lưu với những nền văn minh bên ngoài, chữ Nôm có được một môi trường hết sức thuận lợi cho việc hoàn thiện và phổ biến rộng rãi. Lúc này, bên cạnh những trước tác nổi tiếng được ghi bằng chữ Hán, những thư tịch của Việt Nam lại có sự góp mặt của các tác phẩm chữ Nôm, và chỉ trong một thời gian không dài, chữ Nôm đã xác định được chỗ đứng vững chắc trong đời sống sinh hoạt và hoạt động văn hoá của người dân nước Việt. Thời gian trôi đi, loại văn tự này cũng có số phận với những biến đổi trong quá trình tồn tại, và đó cũng chính là một trong những biểu hiện của văn hoá nước nhà.

Hoàng Lâm ( VTV)