Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Quang Dũng

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Quang Dũng

In PDF.

 

QUANG DŨNG
BÙI ĐÌNH DIỆM (1921-1988)



“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành...”
              Tây Tiến -1948


                      *

Tác giả Tây Tiến họ Bùi
Biệt hiệu Quang Dũng type người tài hoa.
Riêng về lãnh vực thi ca
Những bài nổi tiếng xem ra khá nhiều
Thơ ông rất được mến yêu
Nên các nhạc sĩ phổ nhiều lời ca.
 
Ông còn được biết thêm qua
Vẽ tranh, soạn nhạc, đàn và hát hay
Hiền lành mà rất đẹp trai
Lại thêm võ nghệ là tay cũng già!
 
Trước khi cách mạng xảy ra
Tốt nghiệp trung học xong là dạy tư ( ở Sơn Tây)
Cái duyên nợ giữa nhà thơ
Bảng đen phấn trắng xem như không bền.


Theo chân các bạn thanh niên
Ông Bùi Đình Diệm đến phiên lên đường ( sau tháng 8-1945)
Lám phóng viên tại tiền phương (Báo Chiến đấu)
Săn nhặt tin tức chiến trường xảy ra...


Nhu cầu cấp bách đặt ra
Bổ túc quân sự rất là “ khẩn trương”
Huấn luyện cấp tốc quân trường
Chỉ huy Đại đội đảm đương phần mình
Trung Đoàn Tây Tiến thành hình (27-2-1947)
Ông: Đại đội trưởng - Tiểu đoàn 212.


Đơn vị đa số chàng trai
Gốc gác Hà Nội ...tóc dài áo hoa
Vì bổn phận phải xông pha
Không quên nếp sống hào hoa thuở nào.


“ Mắt trừng gởi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

...
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ (Tây Tiến)



Chiến trường phối hợp Việt-Lào
Thanh Hóa- Sầm Nứa- Lai Châu- Hòa Bình
Chủ trương chính của Việt Minh
Là phát triển lực lượng mình tại đây.


Gian khổ đói khát lâu ngày
Muỗi mòng sên vắt tiếp tay hoành hành
Suối thiêng, cọp dữ sẵn dành
Đoàn quân Tây Tiến da xanh lá rừng.


“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”


Tinh thần chiến đấu kiêu hùng
Nhưng không chống nổi núi rừng thâm u
“ Áo bào thay chiếu, anh về đất”
Rải rác biên khu những mộ nằm.


                          *

Ông trải những cuộc tình lãng mạn (1)
Lúc nhiều người lánh nạn chiến tranh
Giả từ thôn xóm thị thành
Đem thân nương chốn yên bình...chiến khu.


Họ là những tiểu thư thành thị
Những nữ sinh kiều mị Hà thành
Những người chồng đã hy sinh
...Trong cơn bão lửa, thường tình xảy ra


Những người lính xông pha trận mạc
Tin gia đình thất lạc chưa hay
Bản thân sống chết nay mai
Tâm lý hưởng lạc ...lúc này phổ thông.


Sinh lắm cảnh vợ chồng tạm bợ
Cũng nhiều chàng họ Sở ra đời
Những vùng xôi đậu chợ trời (chợ Đại-Cống Thần là điển hình)
Là khu giải trí cho người chiến binh.


“Em là con hát ở bên sông (1)
Hát mãi từ khi em bỏ chồng
Chiều đến, em ngồi trên bến vắng
Gửi người bốn xứ mảnh tình không !” (đêm Việt Trì) *


“Em ở thành Sơn chạy giặc về (2)
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi” ( Mắt người Sơn Tây)


Gặp lại nhau Kinh Đào phố núi
Cà phê biên trấn hẹn câu thề!
Chiến sĩ- thi nhân ngồi dệt mộng
Viết vần thơ rung động lòng người
Nàng như một cánh chim trời
Giang hồ cánh mỏi, đậu rồi lại bay.


Lúc chiến tranh càng ngày lan rộng
Như cánh bèo biển động sóng cao
Tấm thân yếu liễu tơ đào
Giữa cơn bão dữ dựa vào nơi đâu?


Chẳng có dịp nói câu từ giả
Trở về thành, vội vã vào Nam
Con tim ai đã nát tan
Nỗi sầu ai đã vì nàng đầy vơi !


“Xa quá rồi em người mỗi ngả
Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?” ( Đôi bờ)


                        *

Thơ ông bị ghép vào cái tội
Làm cho bộ đội xuống tinh thần
Xa rời quan điểm nhân dân
Là tiểu tư sản, phải “ cần quan tâm”

Vì dính vào Nhân văn- Giai phẩm
Chịu chung cùng số phận đắng cay
Bị đi chỉnh huấn lâu ngày
Mất quyền sáng tác, loại ngoài cuộc chơi.


Dìm ông vào cuộc đời nghèo khổ
Những tháng ngày khốn khó gian lao
Tây Tiến, cải tạo cọng vào
Ông mang mầm bệnh cách nào chống ngăn.


Về tinh thần lại càng thê thảm
Công an ngầm theo bám như rươi
Mang tội phản động suốt đời
Như cái vết sẹo trên người khó phai.


Đến 75, sau ngày thống nhất (1975)
Vào Lâm Đồng chật vật cùng con ( năm 1982 ) (3)
Là một cô giáo mầm non       (Bùi Phương Hạ)
Lại thêm trọng bệnh cô mang trong người. (hở van tim)


Ông theo con như người bảo mẫu
Nhằm giúp con phấn đấu với đời
Ông muốn học hỏi đồng thời
Những điều mới lạ phương trời miền Nam.


Nhưng chỉ một thời gian...bị stroke (năm 1985)
Phải đem về tức tốc... thủ đô ( Hà Nội)
Thuốc men chữa trị mong cho...
Cuối cùng ông đã “đôi bờ” chia ly (năm 1988)


Phút lâm chung trước khi nhắm mắt
“ Nhớ Ba Vì ...” bản nhạc của ông
Ca sĩ Kim Ngọc có lòng
Đến thăm và hát trong dòng lệ rơi.


Bà vợ ông tên Bùi Thị Trạch
Đem hết lòng thiết thạch thờ chồng
Ông bà có được năm con
Người đầu Quang Dũng lạc còn ấu thơ.(lúc tản cư vùng Việt Bắc)


Chính vì vậy nhà thơ đã lấy
Tên con làm biệt hiệu cho mình ( Quang Dũng)
Thương con một cách chí tình
Câu thơ là lệ biến hình của ông:


“Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng?
Tôi có thằng em còn bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông ?” ( Mắt người Sơn Tây)


                           *

Trời cao, kẻ có lòng chẳng phụ
Thơ của ông chiếm ngự lòng người
Nên đã sống mãi với đời
Đó là phần thưởng tuyệt vời với ông./.


CHÚ THÍCH


1)Đêm Việt Trì

Em là con hát ở bên sông /Hát mãi từ khi em bỏ chồng /Chiều đến, em ngồi trên bến vắng /Gửi người bốn xứ mảnh tình không !

Lính râu ria

Khi anh về đã xa/ Chị dọn hàng đi ngủ /Chép miệng trong hơi chăn / Chị buồn chi không rõ.

 

2.- Chuyện tình và bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây”:
Quang Dũng có nhiều bài thơ trữ tình rất hay, như: Cố quận, Đêm Việt Trì, Tây Tiến, Đôi bờ, Đôi mắt người Sơn Tây, Đường trăng v.v... nhưng Đôi mắt người Sơn Tây là bài thơ nổi tiếng và được nhiều người hâm mộ nhất. Thi phẩm nói lên cuộc gặp gỡ của nhà thơ với người con gái trong thời loạn lạc, một thoáng quen biết rồi chia tay giã biệt trong cuộc tình buồn, ngắn ngủi:
Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến mới ra đi
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

“Em ở thành Sơn chạy giặc về”, như vậy người con gái này quê ở Sơn Tây, nhưng nàng là ai, tên gì, họ gì, làm nghề gì, gia đình ra sao và bao nhiêu tuổi?

Theo nhạc sĩ Phạm Duy, bạn học cùng lớp với Quang Dũng tại trường Thăng Long, Hà Nội - Quang Dũng ngồi phía sau Phạm Duy cách hai bàn. Ông to con, nước da trắng, thân hình rắn rỏi, khỏe mạnh, đẹp trai, trông như Tây nhưng rất hiền lành.
Lúc Quang Dũng còn là đại đội trưởng trong Trung đoàn Tây Tiến đóng ở Hòa Bình thì Phạm Duy cũng ở trong ban Văn công hoạt động tại đấy. Quang Dũng được nghỉ phép về thăm gia đình ở làng Phùng Xá, thuộc tỉnh Hà Đông, cách Hà Nội khoảng 40 cây số, gần với Sơn Tây (sau này Hà Đông và Sơn Tây nhập lại thành tỉnh Hà Tây, bây giờ cả hai nhập vào Hà Nội), nơi có con sông Đáy đẹp như tranh vẽ. Từ Hòa Bình ở phía Nam đi lên phía Bắc về Hà Đông phải đi qua Sơn Tây, anh tạt qua nơi có tên là Kinh Đào ở gần chợ Đại, thăm người yêu tên Nhật. Do nàng tên “Nhật”, lại đẹp như người Nhật nên bạn bè thường gọi đùa là “Akimi”. Bà mẹ Akimi khi chạy tản cư từ thị xã Sơn Tây xuống Kinh Đào, có mở một quán cà phê nhỏ để buôn bán tạm, Quang Dũng mỗi lần về ngang qua quán thường hay ghé uống.
Nàng chính là “người đẹp Sơn Tây”, nguồn cảm hứng cho Quang Dũng làm “Đôi mắt người Sơn Tây” đầy cảm xúc:
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương
Và:
Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây...

Akimi sống với mẹ trong cái quán nước đơn sơ này, nhà thơ thường hay lui tới và có lần sáng tác ngay một bài thơ ca ngợi nàng dán lên vách nứa:
Tóc như mây cuốn, mắt như thuyền
Khuấy nước Kinh Đào sóng nổi lên
Ý nhị mẹ cười sau nếp áo
Non sông cùng đắm giấc mơ tiên...
(Đây là trích đoạn bài thơ mới phát hiện sau này do chính bà Akimi Nhật - định cư ở Hoa Kỳ cung cấp).
Qua thơ, người thưởng thức vẫn thấy một bóng hình đẹp lãng mạn của người con gái mặc dầu không biết mặt. Có lần Phạm Duy cùng Quang Dũng đi xe đạp về chợ Neo, hai người chạy song song trên đường làng. Thi sĩ kể về mối tình của mình với người đẹp Akimi và đọc lên bài thơ tặng nàng:

Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai
(Đôi Bờ)

Sau này, chiến tranh lan rộng, Akimi theo mẹ về thành phố, bỏ lại người xưa, tan vỡ một mối tình.
Tới sau năm 1954, nàng di cư vào Nam, sống tại Sài Gòn, đã một thời là kiều nữ của Nhà hàng Tự Do; đến năm 1975 sang Mỹ định cư. Nàng đi để lại cho Quang Dũng một nỗi nhớ ơ hờ, chỉ biết:

Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào...


3.- Gia đình:
Nhà thơ Quang Dũng có vợ là bà Bùi Thị Trạch (94 tuổi, năm 2011). Bà hiện sống ở viện Dưỡng lão tư nhân Tuổi Vàng, Hà Nội. Bà sinh ra:
1) Bùi Quang Dũng (trai trưởng). Quang Dũng bị thất lạc gia đình khi đi tản cư ở vùng Việt Bắc… Từ đó, cha lấy tên con làm bút hiệu nhà thơ…
2) Bùi Quang Vĩnh (nhạc sĩ)
3) Bùi Quang Thuận (mất năm 49 tuổi vì bệnh hiểm nghèo)
4) Bùi Quang Doãn
5) Bùi Phương Hạ (trưởng nữ, sinh năm 1958, mất năm 35 tuổi về bệnh tim)
6) Bùi Phương Thảo (sinh năm 1962, Nhâm Dần, Phó hiệu trưởng trường Quang Trung, phố Trần Hưng Đạo, Hanoi).

Phương Thảo đang sưu tầm các thơ văn thất lạc của cha mình và đã ra tập “Mắt người Sơn Tây, 2012 nxbản Hội Nhà Văn, Hanoi.).


Tâm sự của Phương Thảo:

- Chị gái tôi là Bùi Phương Hạ, hơn tôi 4 tuổi. ( sinh năm 1958) Năm 10 tuổi, chị bị một bệnh không phải là bẩm sinh mà do thời tiết, chị bị khớp đớp tim, hở van hai lá, nên bố tôi quan tâm đặc biệt.

Sau này là cô giáo mầm non đã xung phong vào Lâm Đồng chứng minh mình là đủ sức khỏe để vào biên chế. Năm 1982, chị tôi vào trong đó dạy học và bố tôi đi vào theo. Một là ông muốn rèn luyện sức khỏe và viết những cái mới, phần nữa muốn chia sẻ với con gái những khó khăn…

Ba năm sau (1885) bố tôi mắc bệnh tai biến…, tôi vào đón ra, mới cảm nhận rằng cái tình cảm của ông đối với con gái, nó cứ âm thầm, nhẹ nhàng…

( Nhà thơ Quang Dũng với các con. Tác giả Ngô Thị Thanh Thủy-PHUNUTODAY 5-8-12)

Ông mất ngà 13 tháng 10 năm 1988 sau một thời gian dài đau ốm tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.

Hưởng thọ 67 tuổi.

Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Bùi Phương Hạ mất năm 1993 lúc 35 tuổi, sau ông 5 năm.