Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Phùng Quán

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Phùng Quán

In PDF.

 

PHÙNG QUÁN
(1933-1995)

”Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật” …
(Phùng Quán-Lời Mẹ dặn)

                   *
“Xin cúi lạy Quê hương”
30 năm lận đận
Họa Nhân Văn
Đọa đày thân phận
“Cá chôm, rượu chịu, văn chui...” (1)
Bóng tối cuộc đời phủ kín đen thui
...
Bị đạp xuống bùn nhơ
Lúc ngã lòng
Vịn dậy bởi câu thơ
Làm người chân thật.

Lời Mẹ dặn khắc sâu tim óc
Hành trang suốt cả cuộc đời
Nếu ai cướp giật bút giấy tôi
Tôi sẽ viết văn bằng dao trên đá!

Đó là Phùng Quán
Lời tuyên ngôn
Trả giá
Bằng chính cuộc đời
Nghiệt ngã suốt 30 năm.

                                                             *
Ba mươi năm
Lời chính nhà văn:
“sống trong bùn nhơ lăng nhục”(2)
đày ải
với từng ấy tháng ngày
Đến thép sắt cũng gẫy gục



Vịn Nàng Thơ
đứng dậy
Hiên ngang
Trước bạo quyền ông vẫn bền gan
quyết giữ “trái- tim-thơ-trong-sạch” (3)



Khi nguồn thơ cạn mạch (4)
Ông từ giã gia đình bè bạn
lên non
Tìm nguồn thơ giữa rừng núi thiên nhiên
Người đào giếng đi tìm mạch nước
Như “ ẩn sĩ” ngày xưa
“kỳ nhân“ thuở trước
Đói rau rừng, xanh rớt mắt Di (Bá Di)
Khát nước suối, bạc phơ đầu Lã (Lã Vọng) (5)



Ba năm ròng rã (1981-84)
Ông trở về
chắc đã
gặp... Nàng Thơ!



Nàng Thơ của ông (6)
Đến thật bất ngờ
Bằng xương bằng thịt
Họ đi bên nhau
Giữa đêm sương mờ mịt
Ướt đẫm mái đầu
Không biết đi đâu?
Về đâu!



"Anh đi bên em trong biển sương mù
Hư và thực hoàn toàn lẫn lộn
Chỉ nhìn thấy em anh mới biết mình đang sống
Và mang trong mình một kho báu là thơ…".( Thơ Phùng Quán)

 *                                                           
Bị bạc đãi
Nhưng chẳng nghi ngờ
Ông có
người vợ
người tình
chung thủy
Có bạn thơ
Đồng thanh- đồng khí
Thơ ngâm sang sảng
Rượu tràn túy lúy.
Trên “chòi ngắm sóng” Hồ Tây.


Hay
Trên bước đường
Phiêu lãng đó đây
Ông đọc thơ mình
hăng say
Với tinh thần người lính Vệ quốc xung trận.



Có lần
Muốn giúp Phùng Cung người bạn
Người thi sĩ cùng chung hoạn nạn
In thơ
Ông dự trù đi khắp các tỉnh
Gây quỹ
Đọc thơ!
Điều nầy xem có vẻ ngây ngô.
Nhưng đầy mỹ ý.



Ông trải lòng với bạn bè
Tận tình như thế
chẳng đắn đo.
Như Tình Yêu
Như Rượu
Như Thơ
Ông mở rộng lòng
Đón nhận và cho.

             *
“Vượt Côn Đảo” .Truyện đầu tay
Được giải thưởng               ( Hội Nhà văn năm 1956 )
Xác định văn tài thi nhân
Chưa đến Côn Đảo một lần
Chỉ qua lời kể chứng nhân viết thành.



Nghệ thuật hư cấu tài tình
"Vượt Côn Đảo" góp phần sâu xa
Trở thành bản hùng ca
Cuốn sách đặc biệt ngợi ca tinh thần
Hy sinh mạng sống bản thân
Người tù vượt biển gặp phần hiểm nguy.



Trên chiếc thuyền nhỏ ra đi
Thuyền thủng nước, chìm thì đến nơi
“Anh Cả” cần đến năm người
“nhảy xuống biển” tức thời họa may...
Mười người hăng hái giơ tay
Quả là khó, biết chọn ai bây giờ?



Hoàn cảnh không thể chần chờ
“Anh Cả” quyết định bất ngờ, tuyệt hay
Nhìn số người đã giơ tay
Chọn kẻ “khuyết điểm” tuyên bố ngay hợp tình:
Nhân danh Đảo ủy quang vinh
Kết nạp vào đảng các anh...
Thế là
Các đồng chí mới khóc òa
Nhào ngay xuống biển
Chết mà lòng vui!



Hy sinh chừng ấy mạng người
Thuyền vẫn đắm giữa cảnh biển trời bao la
Vượt ngục thất bại nhưng mà
Tinh thần dũng cảm quả là vô song!(7)



“Trăng Hoàng Cung”      ( truyện thơ, 1984-85))
Mênh mông ánh nguyệt
Xao xác canh gà
Lạnh buốt hồn thơ
Sông Hương ai đã đợi chờ
Để cho đá tạc thành thơ ngóng đò!     (đợi đò -Phùng Quán)
Gặp nhau nhờ chút duyên thơ
Vì thơ nên lại hững hờ duyên nhau
Chuyện tình ghi dấu niềm đau
Yêu nhau hóa lại phụ nhau bằng mười!



“Tuổi thơ dữ dội” ra đời ( tiểu thuyết 1968-1986)
Giao liên, dọ thám... trò chơi trốn tìm.
Tuổi thơ Việt Nam
Bị mẹ mìn
Dùng những viên kẹo màu dụ dỗ
Những viên kẹo vàng xanh tím đỏ...
Kéo trẻ ra khỏi ngõ không hay.



Những tên đồ tể
thẳng tay
Đẩy vào lò sát sanh
Những thiên thần bé nhỏ
Hồn rất trắng
Mộng rất xanh
Môi rất đỏ
Chạm mặt chiến tranh
Chết
 Còn ảo tưởng mình vì nhân dân...



Phùng Quán
Tuổi 14, 15
Đi theo đoàn vệ quốc quân
Lòng nuôi sẵn mối hờn căm quân thù
Em đi đánh giặc trả thù
Bởi vì chúng đá vào "khu" người mình! ( đá đít)



“Lời di chúc” viết để dành
Trước giờ xuất phát thân chinh đánh đồn
Những lời quyết liệt hùng hồn:



“Nếu tôi chết …
quanh mộ tôi
Xin đừng trồng bạch đàn, liễu biếc hay thuỳ dương
Hãy trồng cho tôi một nghìn mũi chông nhọn hoắt
Mỗi mũi chông đều nhớ tẩm thứ thuốc độc mạnh nhất!
Viếng mộ tôi, xin đừng đốt hương
Hãy đốt cho tôi ngọn lửa đốt đồn
Khắp cả quê hương đều ngó thấy
Soi sáng hết những nơi nào máu nhân dân đang chảy
Nếu phần mộ tôi là vị trí tốt để đánh mìn
Xin các đồng chí đừng do dự gì hết cả
Hãy đào mộ tôi lên!
Quẳng xác tôi đi!
Và thay vào đó cho tôi một trăm cân thuốc nổ!”...( lời di chúc- Phùng Quán)



Quả là trái tim cuồng nộ
Của nhà thơ biẻu lộ thành lời
Thay vì nói hộ con người
Những lời nhân ái để đời cho nhau.

                *
Người mẹ công nhân
Lời ru con nhiều phần gượng gạo
Nặng công thức, vì cơm áo
Có đúng là diện mạo nhà văn ?:



“Mẹ thương con gái mẹ ngoan
Mẹ xây nhà máy, mở đường khai sông
Để dành gây vốn cho con
Đến tuổi lấy chồng, làm của hồi môn “

( Bài thơ ru con gái của bà mẹ Công ngân Kiến trúc)



“Ru con, con ngủ cho ngoan
Mẹ ra công trường, mẹ đúc bê tông
Mẹ xây nhà máy chín tầng
Xây thành phố mới để phần cho con. “

(Bài thơ ru con Trai của bà mẹ Công nhân Kiến trúc)

                          *

Ông đã mang tấm lòng yêu nước
Tuổi thơ biết đau trước cảnh quê hương
Theo anh vệ quốc lên đường
Hay say chiến đấu coi thường hiểm nguy.



Lúc súng đạn lúc thì ngòi bút
Nhưng than ôi kết thúc bi thương
Dính vào cái họa văn chương
Đời ông lâm cảnh đoạn trường đắng cay.



Nhưng cũng may trước ngày nhắm mắt
Đã có dịp nhìn mặt bà con
Trở về thăm lại xóm thôn
Rưng rưng dòng lệ cúi hôn đất làng! (1984)

                             *
Như nhiều “phản động” nhân văn, sau được
Chủ tịch nước...xét thưởng, tặng bằng riêng     ( năm 2010 )(8)
Sau khi ông đã ngủ yên        (1995)
Sâu dưới lòng đất
Bên cạnh Mẹ hiền của ông .







Hai tác phẩm của Phùng Quán






Cước chú:
1.-Phùng Quán ( 1933-1995) mới học hết tiểu học ( primair) thời Pháp, rồi mò cua bắt ốc ở làng  Thanh Thuỷ Thượng ( Huyện Hươong Thủy- tỉnh Thừa Thiên). Anh trốn mẹ đi theo Vệ Quốc Đoàn năm 14 tuổi ( 1946) ở trong đội liên lạc thiếu niên của Trung đoàn 101 Trần Cao Vân, Huế. Chính liên lạc viên Phùng Quán là người cầm mệnh lệnh nổ sứng kháng chiến đêm 19 tháng 12 năm 1946 của Mặt trận Huế từ phía Nam bơi qua sông Hương đưa sang cho cánh quân bên kia sông. Những trang đầu tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội- cuốn tự truyện xúc động, nhà văn kể “ anh đã trốn mẹ, chui bừa vào hàng ngũ đội thiếu nhi trinh sát của Vệ Quốc Đoàn với “độc cái áo cộc nâu hở cả rốn với cái quần đùi xanh bạc phếch, đít vá hai miếng to tướng”. Đó là thằng Mừng. Anh đội trưởng hỏi :” Em có thích đánh Tây không ? – Dạ, thích lắm. – Tại sao thích ? … – Dạ, dạ… vì tụi Tây hay đá đít người mình…Phùng Quán yêu Tổ Quốc, yêu nhân dân, chiến đấu hết mình vì Tổ Quốc.  Anh là nhà văn chiến sĩ đã đi trọn đời với lý tưởng mà mình đã chọn từ thuở thiếu thời, không tạt ngang, không dừng bước, không bỏ cong ngòi bút .
Theo tác giả Trần Viết Trình.



Phùng Quán tham gia Nhân Văn Giai Phẩm bằng hai bài thơ “Lời Mẹ Dặn” và “Chống tham ô lãng phí”. Khi phong trào này bị nhà cầm quyền Hà Nội dẹp tan, Phùng Quán bị kỷ luật, bị rút mất tư cách hội viên Hội Nhà văn và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi, từ Thái Nguyên, Việt Trì, Thanh Hóa, tới Thái Bình.
Bài thơ “Chống tham ô lãng phí” trong Giai phẩm mùa Thu tập II (tháng 9 năm 1956) của Phùng Quán bị cho là “nói xấu chế độ”. Ông tự bạch: “22 tuổi tôi phải dấn thân vào một cuộc chiến đấu còn nguy hiểm hơn, là chống tệ quan liêu, ăn cắp, lãng phí của công và thói dối trá đạo đức giả, những hiểm họa đang rình phục tổ quốc và nhân dân tôi”. “


“ cá trộm, rượu chịu, văn chui” để mô tả cuộc sống của ông trong thời gian “hậu Nhân văn”:
- Câu trộm cá ở Hồ Tây để sống qua ngày.
- Mua chịu từng hào rượu trắng nấu bằng sắn pha cồn.
- Văn chui: viết văn dưới tên hoặc bút hiệu khác.



2.-...Từ năm 24 tuổi cho tới năm 56 tuổi, cơ chế quan liêu đã đánh trả tôi đến chí mạng. Tước đoạt của tôi quyền lao động thiêng liêng: sáng tác, xuất bản, quyền được sinh sống cho ra một con người. Và dìm ngập tôi trong bùn nhơ, lăng nhục trước công luận.
Chịu chừng ấy đầy ải, lim thép sắt cũng gẫy gục. Nhưng Thơ đã cứu tôi, giúp tôi đứng vững, dậy tôi dũng khí bền gan.
Nếu cần đi trở lại
Tôi lại đi đường này
Để cuối cùng lại chấm hết ở đây...



3.- Năm 1984, gần 10 năm sau ngày đất nước giao thông, cũng là sau gần 30 năm thăng trầm, lận đận, ông trở về thăm lại làng Thanh Thủy Thượng. Bà con, bạn bè, dân làng tụ tập lại thật đông thăm ông. Buổi gặp mặt được tổ chức khá long trọng. Khi Phùng Quán bước ra, tất cả bỗng im lặng, trùng xuống, ông bàng hoàng, đứng ngây ra như trời trồng, hai tay run rẩy, bưng lấy mặt, rồi òa khóc. Ông nhận ra rằng, đất mẹ yêu thương sau bao nhiêu năm xa cách, vẫn dang rộng cánh tay đón ông trở về. Ông liền quỳ sụp xuống, chắp hai tay vừa vái lạy tạ đất làng, vừa nghẹn ngào, nấc lên:
Con xin lạy quê hương!
Rồi đứng lên đọc những câu thơ ứng tác thần kỳ. Bài thơ “Tạ” ra đời.
Sau cuộc trường chinh ba mươi năm
Quì rạp xuống đất làng
Con tạ
Con tạ đất làng quê
Thấm đẫm bao máu anh hùng đã khuất
Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt
Không lá cây nào không mặn chát gian lao…
...
Ba mươi năm tôi bị dìm trong bùn-nhơ-lăng-nhục
Nhưng cuối cùng
Quê hương đã nhận ra
Trái–tim–thơ–trong-sạch
Và gương-mặt-Thơ-bi-thiết của tôi…



4.-Cạn thơ giữa cuộc đời, tôi quyết định rời bỏ thành phố, gia đình, bạn hữu, giữa cái tuổi năm mươi, lên rừng đào tìm mạch thơ giữa thiên nhiên.
Tôi đã sống suốt ba năm trong cái lán lợp tranh nứa, giữa một bãi đất phù sa cổ hoang vu, vùng đồi núi Thái Nguyên, mọc lút đầu cỏ dại và cây trinh nữ xanh. Xung quanh bãi đất hoang, con suối lớn Linh Nham vây bọc. Bàn ghế là rễ cây chết tôi lặn lên từ lòng suối. Giường nằm là cây cơi cổ thụ bị bão xô bật gốc, con suối Linh Nham mang từ rừng đại ngàn về, dâng lũ lên đến tận thềm lán, trao tặng tôi. Tôi vạt bằng mặt trên thân cây bằng rìu, rồi đục lõm sâu xuống, phảng phất hình cái áo quan; mùa đông nằm vào đó tránh được cái giá rét và sơn lam chướng khí. Tôi sống cùng một con chó, một con heo, một bầy gà; ăn bắp, sắn, rau lang, ốc suối, tôm cá tự đánh bắt lấy.
Mưa lũ không ai dám vượt suối dữ Linh Nham, nên có khi mười ngày liền không nói tiếng người. Trong ba năm thì có hai người bạn lặn lội tìm đến thăm. Trần Quốc Vượng, giáo sư sử học; Đỗ Quốc Thuấn, một bạn làm thơ trẻ.
Trước mặt lán, sát bờ suối, tôi đào cái huyệt rộng một mét, dài hai mét, sâu mét rưỡi. Tôi nguyền nếu không tìm thấy Thơ, tôi sẽ lăn xuống đó...
Đàn mối đất phù sa
Sẽ thay phu đào huyệt
Bao nghiệt ngã trần gian
Chỉ một tuần vùi hết...



5.- lấy từ ý: Đói rau rừng, thấy thóc Chu mà trả, đá Thủ Dương chơm chởm, xanh mắt Di nằm tốt ngáy o o,
Khát nước sông, trông dòng đục không vơ, phao Vị Thủy lênh đênh, bạc đầu Lã ngồi dai ho lụ khụ.
Tài tử đa cùng phú - Cao Bá Quát -



6.- Mối tình sâu đậm của nhà thơ Phùng Quán. Tác giả Huy Thắng.