Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Phạm Duy

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Phạm Duy

In PDF.

 


PHẠM DUY (1921-2013 )

“ Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi.
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời..
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui. ...”


Nay nói đến Phạm Duy nhạc sĩ
Khó hết lời tỉ mỉ về ông.
Riêng mặt âm nhạc góp công
Danh hiệu “Đại thụ” quả không phí lời.


Ông khởi sự cuộc đời âm nhạc
Qua vai trò “ kẻ hát rong” chơi *
Và ông để lại cho đời
Kho tàng âm nhạc hiện thời khó ai...


Thuở nhỏ ông chỉ tài... nghịch ngợm
Việc học hành chẳng sớm chuyên chăm
Bỏ trường, khắp chốn kiếm ăn
Hưng Yên, Móng Cáy, Bắc Giang...đủ nghề. ( Hồi ký Phạm Duy)


Nghe lời bạn khuyên về học vẽ (1940)
Nhưng thấy mình chẳng thể khéo tay
Để đeo đuổi học nghề nầy
Chuyển qua âm nhạc mò mày thử chơi.


Ông tập tểnh vào đời sáng tác (1942)
“ Cô hái mơ” bài hát đầu tiên
Phổ thơ Nguyễn Bính, quả nhiên
Được sự đón nhận ngay liền, thành công!


Nhạc sĩ Phạm Duy (1948)


Rồi làm “ người hát rong thế kỷ ” *
Máu giang hồ âm ỉ từ lâu
Giờ có cơ hội, dễ đâu
Dịp may bỏ lỡ, bắt đầu chuyến đi!
 
Theo đoàn hát Đức Huy- Charlot (1943-45)
Bắc qua Trung, vô tuốt miền Nam
Chuyến đi quý báu vô vàn
Hoàn thành nhạc phẩm “ con đường cái quan” sau này (1960)

Ông tham gia những ngày kháng chiến (1945-46)
Như bao người dâng hiến khả năng
Lời ca tiếng hát cung đàn...
Chấm dứt cuộc sống lang bang của thời.


Rồi gặp được hai người nghệ sĩ
Kết bạn thành tri kỷ về sau
Dù còn nhiều chuyện bể dâu
Hoàng Cầm cùng với Văn Cao chính là!


Họ trở thành “bộ ba” ăn ý
Là những người đồng khí đồng thanh
Cả ba sau đã trở thành
Những Thi - Nhạc sĩ nổi danh ở đời.


Họ dùng chính lời thơ tiếng nhạc
Làm hành trang đánh giặc, lên đường
Theo chân chiến sĩ tiền phương
Lấy chất liệu sống chiến trường viết ngay.


Những tấm lòng hăng say đáng phục
Bỏ nhọc nhằn tủi nhục sau lưng
Chấp nhận cuộc sống núi rừng
Gian lao nhưng lại hào hùng biết bao.


Đó là lúc cao trào chống Pháp
Ai cũng mong đóng góp của, công
Đáp lời kêu gọi núi sông
Dù chỉ giáo mác, tầm vông...chẳng từ!


Thanh -Thiếu niên bấy giờ hầu hết
Dốc một lòng cố quyết đánh Tây
Cơ trời vận nước góp tay
Lòng dân đã muốn, tất ngày thành công.


Rồi giây phút non sông chuyển đổi
Về tương lai vận hội nước nhà
Cách mạng tháng Tám nổ ra (1945)
Thành tích của học quả là đáng ghi.


Trong hồi ký Phạm Duy không nói
Đến tên người thả vói lá cờ
Việt Minh đúng chỗ đúng giờ ( ngày 17-8-1945)
Tại nhà hát, lại bất ngờ cướp mi ( mi-cờ rô)
Cất tiếng hát thừa khi nhốn nháo
“Tiến quân ca” để báo mọi người
Thời điểm trọng đại đến rồi
Góp sức thay đổi ngôi trời là ai?


Văn Cao đã sau này tiết lộ      (Bài Tiến quân ca -Sông Hương số 26 tháng 7/1987)
Người bạn ông tên họ Ph. D.
Cao vừa tới chỗ là khi      ( nhà hát lớn Hà Nội)
Chính người hát dạo Ph. D. lên đài!


Duy dấu kín việc này cũng phải ( theo hồi ký thời điểm này ông ở Nam Bộ)
Bởi vì điều trọng đại gây ra
Thúc đẩy lịch sử nước nhà
Đưa cả dân tộc vỡ da trưởng thành.


Nên cố tránh cho mình phiền toái
Điều Văn Cao đã nói đúng ? sai?
Không còn quan trọng, dù ai
Chuyện tới, đã tới chẳng tài nào ngăn.


Ngẫm chuyện đời quả rằng đáng sợ
Mệnh Tổ Quốc định ở một giây
“Thằng bán tơ nọ” ra tay
Nào ai biết được rủi may mà lường!

Phan Kế Toại vô phương chống đỡ
Trần Trọng Kim nhân cớ rút lui
“Thương người Nguyên Lượng bùi ngùi
Lỡ bề giúp nước lại lui về cày ”! (Lục Vân Tiên)

            *

Toàn quốc chín năm dài kháng chiến (1946-54)
Đất nước lúc nguy biến đang cần
Đến sự góp sức muôn dân
Vai trò lãnh đạo có phần buông lơi.


Nhưng “ lãnh đạo” đến hồi siết lại
(theo đường lối Trung quốc-Phát động“đấu tranh giai cấp”1950)
Theo tinh thần Hội đại xét qua (ĐH Văn nghệ Việt Bắc tháng 8-1950)
Tàn tích tư sản loại ra
Tuồng, chèo, thơ - kịch với là cải lương!


Khiến Hoàng Cầm tìm đường “ treo cổ”
Vở kịch thơ ngay chỗ hội trường ( tập thơ"Ngày hội tòng quân" )
Còn Lưu Hữu Phước cố đương
Với tay đao phủ, tìm đường thuyết y.


Lúc Tố Hữu đã  thì bác bỏ
Phán: Cải lương Vọng cổ góp phần
Gây nên ủy mị tinh thần
Mất nước bởi lũ thực dân chính vì!


Phạm Duy chẳng hơn gì, lập tức
Những bài ca “ tiêu cực” bị chê (“ Bao giờ anh lấy được đồn Tây”,“Bà Mẹ Gio Linh” )
“ Bên cầu biên giới” hăm he
Buộc ông khai tử...sau khi phê bình!

Văn nghệ sĩ bất bình, một số
Bỏ chiến khu, cuốc bộ...về thành
Phạm Duy thì chọn vào Thanh ( 1949, Thanh Hóa)
Là vùng kháng chiến còn dành “ tự do”.
Tướng Nguyễn Sơn để cho nghệ sĩ
Chút không gian chưa bị đóng khung
Trị - Thiên khói lửa mịt mùng
Nhưng Thanh- Nghệ- Tĩnh lại vùng bình an.


Như ngựa chứng bất kham vô định
Máu giang hồ chút bịnh Tề Tuyên
Thêm tài ăn nói có duyên
Bao nhiêu hoa đẹp đậu liền lại bay.


Gặp Thái Hằng ...bị ngay cú sét
Đã cùng nàng kết ước trăm năm (1949)
Đầu lòng sinh được Duy Quang
Rồi vì cuộc sống khó khăn “ dinh tề”( dinh tê :rentrer)


Rời Thanh Hóa, quay về Hà Nội
Cả gia đình bay vội Sài Gòn (1951)
Chính nơi “ hòn ngọc Viễn Đông”
Hoạt động âm nhạc thành công sau này.