Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Phùng Cung

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Phùng Cung

In PDF.

 

 PHÙNG CUNG
(1928-1997)



….
Cờ máu ngợp trời
Lợm gió!
Tiếng quốc thiều
Tăng âm cực đại thét gào
… “thề phanh thây uống máu!...”
Ta lùng trong kho nhớ
Nhẩm biên niên sử
Xin hỏi loài người
Có quốc thiều nào man rợ thế không.

(Xuống đường. Biệt giam Lào Cai 1971)
*
Bèo
“Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn
vẫn còn lênh đênh
Phùng Cung.
*
Ông sinh ở Kim Lân Yên Lạc ( Vĩnh Yên)
Nhưng là người gốc gác Sơn Tây
Gởi đến trọ học nơi đây
Vừa đỗ Trung học, đúng ngay thời kỳ



Nhật đảo chánh liền về quê cũ (tháng 3-1945)
Ở đây ông được cử đứng ra
Lãnh đạo cách mạng xã nhà (tháng 8-1945)
Giữ chức chủ tịch khoảng là hai niên. (1945-47)



Pháp đổ bộ, chạy lên Việt Bắc (1947)
Thì quê ông cải cách xảy ra ( cải cách ruộng đất)
Gia đình bị kết tội là
Thành phần địa chủ, đem ra đấu trường.



Bị đấu tố hết đường chống đỡ
Đem giam cha ông ở Thái nguyên ( Trại Cô Ni)
Cung đang hoạt động tuyên truyền... ( cơ quan văn nghệ Tuyên Quang )
Được tin ông đã lo phiền đớn đau.



Bạn bè khuyên tin vào chính sách
Bình tĩnh chờ đến lúc... sửa sai
Đứng ngoài mà nói thì hay
Nhưng người trong cuộc có ai an lòng.



Nhân công tác thăm mong gặp bố
Mang nặng lòng đau khổ người con
Dù cho ngàn dặm núi non
Dù cho gót vẹt chân mòn cũng đi.



Ông đến nơi đã thì... quá muộn
Trời chiều mâycuồn cuộn về nam
Ngọn đồi sau phía trại giam
Người tù già chỉ cho chàng ...mộ cha!



Một mô đất nhìn qua khó biết
Nhiều lùm, gò phân biệt làm sao
Nhờ dấu ngọn sắn cắm vào
Lá vừa mới héo ...Trời cao thấu là!

*
Ông tham gia “ Nhân Văn Giai Phẩm” (1956)
Vì “...ngựa già...” mang phận tù gông (truyện con ngựa già của chúa Trịnh)
Chuyện con thần mã Kim Bông

Đã từng lập những chiến công...chói ngời!



Trong nhung lụa than ôi đâm hỏng
Về Thăng Long được trọng được chiều
Đai vàng, mũ tía, tán điều...

Ăn no tắm mát...được yêu vì tài.



Giúp nhà Chúa hằng ngày thong thả
Đã biến con thần mã Kim Bông
Lâu ngày quen thói phục tòng

Tai mắt bị bịt ...đã không còn mình.



Trong tiềm thức, thật tình muốn gắng
Đâu biết mình khác hẳn ngày xưa
Cái mũ che mắt nó lừa

Khi thấy ánh sáng là vừa hoảng kinh.



Lấy hết sức bình sinh cố phóng
Nhưng hoàn toàn tuyệt vọng than ôi
Kim Bông đứt ruột tàn hơi

Thương cho thần mã cuối đời ô danh!


Chuyện “ con ngựa...” đã đành đụng chạm
Nhưng so qua đại nạn của ông
Còn nhiều uẩn khúc bên trong

Đụng ” Tứ bất tử” (1) chính ông giết mình!



Họ là những thần linh cao tột
Chín tầng trời chót vót quyền uy
Với bao huyền thoại ly kỳ

Ông đã “phạm húy“ tự đi chôn mình.



Ông lại còn cố tình chạm nọc
Những vị quan văn học chính quy ( 2.)
Trong cuốn “Dạ Ký” ông ghi (tháng 9-1959)

Những lời “ phạm thượng”, quả thì khó tha.



Họ là những quan tòa rất mực...
Có phép mầu uy lực vô biên
Nắm giữ chân lý hiển nhiên

Định đoạt sống chết toàn quyền trong tay.



Trước tới giờ chẳng ai lại dám
Nghĩ ngược điều do đảng nói ra
Đồng hóa đảng với Quốc gia

Chủ nghĩa Xã hội mới là Tình yêu



Ông đã lội ngược chiều dòng nước
Khi mọi điều đã được thần minh
Định đoạt, định nghĩa, định hình...

Hạt cát cản trở tiến trình được sao?



Nên ông bị lâm vào đại hạn
Vụ “Nhân Văn” phải nạn đi tù (1961-1972)
Ban đầu nhốt tại Hỏa Lò ( Hà Nội)

Sơn Tây, Yên Bái... mịt mù Lao Cai



Tù không án, mười hai năm lẻ
Mười một năm quạnh quẽ biệt giam
Vợ hiền vượt núi băng ngàn...

Cố tình ông đã khuyên nàng về đi! ( theo Hoàng Cầm)



Nghĩ là mình chắc gì sống sót
Mình chết đành, côi cút bầy con
Vợ thì đang tuổi còn son

Lấy chồng, nuôi dạy các con...thay mình!



Người vợ hiền trung trinh tuyên bố
Hoàn cảnh này anh cố gắng lên
Chấp hành mọi chuyện cho êm

Có ngày đoàn tụ, chớ nên ngã lòng.



Lời vợ khuyên giúp ông bình tỉnh
Tinh thần ông ổn định lần hồi
Tháng ngày tù tội cứ trôi

Lúc buồn lẩm bẩm đôi lời giải khuây.



Không viết được lâu ngày quên mất
Ghi vào đầu chỗ cất khó ai...
Mười điều còn nhớ một hai

Cho đến mãi cuối bảy hai thả về! (tháng 11-1972)



Ra khỏi trại như mê như tỉnh
Nhìn nắng vàng cùng đỉnh trời cao
Mịt mù chẳng biết nơi nào

Hay là mình đã lạc vào âm ty?



Cảnh Hà Nội đang thì sơ tán
Cả thủ đô ánh sáng lờ mờ
Nghĩ thầm chắc hẳn cơn mơ

Vợ con chẳng biết hiện giờ nơi đâu!



Ông trải qua đêm đầu Hà Nội (theo Hoàng Cầm)
B. 52 Mỹ dội ầm ầm
Mái hiên phủ bóng âm thầm

Giấc ngủ như chẳng quan tâm đạn thù!



Qua Hồi ký Cầm dù đã kể
Tin Cung về ông ghé lại thăm
Căn phòng nhỏ xíu, tối tăm

Một bóng ma ẩn khuất trong góc nhà.



Phải định thần hoá ra... anh ấy
Chỉ miệng là mấp máy mà thôi
Thều thào như sắp đứt hơi
Thịt da nhão nhẹt...ra người cho cam!



Sau ngày về thành tâm theo lệ (theo Phùng Quán)
Vợ chồng lo sắm lễ tạ ơn
Cao xanh cho được sống còn

Trở về đoàn tụ vợ con xóm giềng!



Qua tai ương đành yên chịu phận
Chuyện viết lách cẩn thận lánh xa
Dập đinh rán bánh phụ bà

Nuôi con đang lớn toàn là sức ăn.



Nghiệp thơ văn nhiều lần ám ảnh
Theo mộng về từng cánh thơ bay
Đành ghi nhật ký ...tháng ngày

Những bài nho nhỏ ...Nhưng nay nguy rồi!( lời Phùng Cung)



Công an đã đánh hơi tìm tới                                           
-  Chào bác Phùng!...nghe nói làm thơ?
-  Tù tội tởn tới bây giờ

Công an nó đã nghi ngờ là tiêu!



Ông chép tay ra nhiều tập vở ( theo Ngô Minh)
Giấy học trò chữ nhỏ li ti
Nắn nót bằng thứ bút chì

Giải khuây chẳng có “ chuyện gì” ở trong.



Nhưng mình bỏ nhiều công vào đấy
Nếu bây giờ nó lấy...tiếc thôi
Nhờ bạn giữ hộ giùm tôi

Thơ ông vì thế ra đời cố đô (3)

                      *
Ông bề ngoài tợ hồ như dại
Nhưng tinh thần khí khái vô song
Gia đình dù cảnh khó khăn
Ông vẫn sáng tác
...những vần Haiku (một thể thơ Nhật Bản)



Bị theo dõi, trong tù lén viết
Ông đả kích kịch liệt chiến tranh
Xóa bỏ văn hóa văn minh
Chủ nghĩa nô dịch Chí Minh mang về:
 ….
“ Thò lò muôn mặt Lê-mác-mác-lê
Lầm than buộc bụng vác cờ
Tung hô bỏng họng
Thiên triều tiếp sức
Õng ẹo điệu ương ca
Mạ màu mao-ít
Ma thuật ngoan tay
Tạt độc dược vào tâm – vào não “...

(Phùng Quán- Xuống đường- Biệt giam Lao cai 1971)



Thu xa là tiếng gào chinh phụ (4)
Của những người thiếu phụ Việt Nam
Binh lửa cướp mất chồng con
Chiến tranh xương trắng máu hồng khắp nơi:



“ Gió vàng đếm lá vàng rơi
Mười hai bến nước. Em ngồi quay xa
Xa quay gấp. Làn tơ vội đứt
Em nhủ lòng. Tơ đứt vì xa
Tơ vương vó ngựa quan hà
Xa in dấu ngựa
Canh gà gọi thu



Quan hà lộng gió chinh phu
Rừng thu tắm máu. Máu thu gội chiều
Tơ vàng nhỏ giọt lệ điều
Đăm đăm tay vẫn chiều chiều quay xa
Xa quay nhẹ
Làn tơ vẫn đứt
Em hỏi lòng. Tơ đứt vì đâu
Sông ngân lỡ bắc nhịp cầu
Mà người trần thế. Mang sầu thiên cung.”
( Thu xa- Phùng Cung)

                          *
Ông nói lên nỗi lòng người mẹ
Tiển đưa con đứa trẻ mười lăm
Chiến trường hun hút phương nam
Tiếng trống giục giã , ruột gan bời bời:



“Con vừa mười sáu tuổi đời
Nửa đêm vay tuổi lấy người chiến tranh
Ðèn con tiễn đến cổng đình
Quay về hụt bước ngỡ mình chiêm bao
Khe Sanh - Dốc Miếu là đâu (4)
Vắng con nhớ đến bạc đầu cô đơn
Máu chiều gội đỏ hoàng hôn
Nghiã trang mồ giả, nắm xương không mồ
Ðồng chiều gió tím mấp mô
Nén hương đẹn khói, mấy mùa khóc vay.”
( Vay tuổi- Phùng Cung)

                             *
Tập “ Xem Đêm” sau này xuất bản (1995)
Nhờ tấm lòng bè bạn giúp ông (5)
Người giúp của, kẻ góp công
Trước lúc nhắm mắt hẳn ông hài lòng!



Ông qua đời vì lâm trọng bệnh ( 1997)
Những tháng ngày đói lạnh lao đao
Dạ dày cùng với bệnh lao...
Nhưng còn để lại dạt dào lời thơ .



Dưới suối vàng bây giờ hẳn phải 
Tập “Xem Đêm” được giải...về thơ (2012)
Là niềm an ủi vô bờ
Những ngày buồn tủi cơ hồ đi xa



Thái độ ông tỏ ra “tội nghiệp”
Đối với người không biết sống nên
Vừa chết là bị lãng quên
Dù nửa thế kỷ vang rền tung hô. (6)





Chú thích:


1.-Tứ bất tử (chữ Hán:四不死) là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh Công chúa.



Theo tác giả Nguyễn Minh Cần- thì:


- ...lời đồn trong cán bộ thời đó, cho đến đầu thập niên 50 các vị “Tứ bất tử” có ông Hồ, ông Năm/Trườn Chinh, ông Văn/Giáp và ông Tô/Đồng. Đọc Dạ Ký của Phùng Cung.


- còn từ năm 1956 thì có ông Hồ, ông Ba/Duẩn, ông Sáu/Thọ và ông Tô/Đồng; ông Năm bị thi hành kỷ luật sau cuộc cải cách ruộng đất, ông Văn thì bị ông Ba cho ra rìa do ghét bỏ, kèn cựa. Đó là những lời đồn đãi, còn thật hư thế nào thì chỉ có trời mới biết.



2.- Các vị “quan toà văn nghệ ...”, như Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Võ Hồng Cương..( NMC)


“ các quan tòa văn nghệ là : Tố Hữu, Chế Lan Viên, Hoài Thanh,Nguyễn Đình Thi... Theo tác giả Thuỵ Khê .

3.- Lần đầu tiên Phùng Cung xuất hiện trở lại, là trên báo Sông Hương ở Huế năm 1988, với các bài thơ Nghiêng lụy, Bèo, Người làng, Chiếc lá rụng, Cô lái đò.



4.- Xa: vừa là guồng tơ, guồng cửi; nhưng xa còn là bánh xe chiến tranh như chiến xa; xa còn là xa lià đứt đoạn. Người chinh phụ ở đây, không chỉ là nạn nhân của chiến tranh, chịu hậu quả của chiến tranh như những người chinh phụ thời xưa nữa, mà chính nàng cũng góp phần vào bộ máy chiến tranh, nàng đang quay bánh chiến xa, nàng đang "tắm máu rừng thu" như chồng. Ống kính độc đáo của nhà thơ, quay lại cảnh toàn thể dân tộc lao vào cuộc chiến tàn khốc: ống kính duy nhất của thi ca Việt Nam đã chụp bắt được trách nhiệm mỗi cá nhân trong chiến tranh, nam cũng như nữ.
Theo tác giả Thuỵ Khê 



5 .-  Khe Sanh- Dốc Miếu : hai địa danh thuộc vùng giới tuyến tỉnh Quảng Trị.-Nơi đã xảy ra những trận đánh lớn giữa quân đội Bắc Viêt và quân đội Hoa Kỳ- QLVNCH. Vào những năm 1967-1968.


6.- Thơ Phùng Cung in được là nhờ Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, những người bạn "trong cuộc" và vài người "ngoài cuộc" như Quang Huy và nhóm Sông Hương ở Huế gồm Ngô Minh, Hà Khánh Linh và Nguyễn Khắc Phê ủng hộ.


7.- Tội nghiệp
“Tội nghiệp nhà thơ
/Hợm mình/Lầm lạc
Bởi không biết sống
Nên không biết chết
Nửa thế kỷ/ Bị lưu đầy
Trong cõi tung hô.” (Biệt giam Bảo Thắng-Lào Cai 72)

Bà Kim Thoa và tập thơ “Xem đêm”  Tập thơ " Xem đêm"