Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Nguyễn Mạnh Tường

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm: Nguyễn Mạnh Tường

In PDF.

 NGUYỄN MẠNH TƯỜNG
( 1909-1997)
LUẬT SƯ HUYỀN THOẠI



( patience, patience,
patience dans L'azur!
Chaque atome de silence
est ra chance d'un fruit mur!) Paul Valéry.

(Kiên nhẫn, kiên nhẫn
Kiên nhẫn đang ở trên trời
Mỗi hạt li ti của yên lặng
Là cơ hội cho một trái cây chín tới!) Nguyễn Mạnh Tường.


                               *
Trí thức như ông Nguyễn Mạnh Tường
Hai bằng Tiến sĩ : một Văn chương
Một bằng Luật học cùng năm đỗ (1932)
Sĩ tử Pháp quốc phải chịu nhường!

                               *
Nguyễn Mạnh Tường người làng Cổ Nhuế
Từ ấu thơ thông tuệ khác thường
Vốn là dòng dõi thư hương
Lại được theo học các trường của Tây ( Paul Bert, Albert Sauraut Hà Nội)



Mười sáu, đậu Tú Tài ban Triết (1926)
Xếp hạng “ ưu” quả thiệt hơn người
Được cấp học bỗng, đồng thời
Qua Pháp du học Luật rồi Văn chương.( đại học Monperllier)

Bảy năm sau đoạt luôn Tiến sĩ ( 1932)
Một thành tích ganh tị bao người
Xôn xao dư luận một thời:
“ Lưỡng khoa Tiến sĩ” tuổi đời hăm ba.



Ngài Tiến sĩ nhà ta về nước ( tháng 9-1932)
Chức Thượng thư từ khước lời mời (vua Bảo Đại)
Thăm nhà ba tháng xong xuôi
Du lịch các nước để thời hiểu thêm

Những thực tế ngoài, trên điều học
Năm năm trời du lịch giúp ông
Kinh nghiệm quý giá vô song
Bốn cuốn sách viết chính trong dịp này (1)



Rồi trở về, dạy ngay Bảo Hộ (1936, Lycée du Protectorat)
Do phụ thân định vợ gả chồng (1937)
Hai nhà hộ đối môn đăng
Cuộc sống hạnh phúc, tưởng rằng khó ai.



Ông thú nhận sau này như thế
Nhưng ngày vui cũng thể qua mau
Thế rồi bao chuyện thương đau
Họa tai đổ xuống về sau cuộc đời.



Tuy nổi tiếng là người học giỏi
Đặc biệt ông từ buổi ban đầu
Dù cho ở Pháp mặc dầu
Không thấy tham dự phong trào thanh niên.



Mà đa phần sinh viên thời ấy
Qua Pháp nên nhìn thấy thực hư
Mười người thì chín có dư
Chống thực dân Pháp gần như phong trào.



Riêng ông chú tâm vào việc học
Vì tương lai, khó nhọc quản chi
Gia đình kỳ vọng lúc đi
Hai bằng Tiến sĩ đem về...lừng danh!

                           *
Bản thân mình trở thành bồ chữ
Lúc làm thầy thật sự quan tâm
Cùng các học giả văn nhân (1)
Soạn sách, tự điển góp phần công lao.



Chữ quốc ngữ buổi đầu phát triển
Cuốn Việt Nam Tự điển ra đời
Nhu cầu đáp ứng kịp thời
Trở thành khuôn mẫu cho người về sau.



Ông còn tham dự vào chính trị
Phụ tá cho ông Thị thành Hà ( thị trưởng Hà Nội)
Những ngày tốt đẹp trôi qua
Đến lúc bão táp phong ba tới rồi.




Năm 40, Pháp hồi thua trận ( 1940, đệ nhị thế chiến)
Nhật đem quân vào tận Đông Dương
Nhu cầu lúa gạo tăng cường
Tham vọng của Nhật mở đường Nam chinh.



Họ cần có người mình gánh vác
Một hội đồng hợp tác lập ra
Do Phạm Lê Bỗng thương gia
Mời ông ra giúp, ông đà chối ngay.



Phạm Lê Bỗng là tay tài giỏi
Giàu có nhất Hà Nội một thời
Từng là Dân biểu, vốn người
“Bảo hoàng” ủng hộ đương thời nhà vua. ( Bảo Đại)

Là thương gia lại vừa chủ đất
Vừa giám đốc các báo Việt-Tây (Việt Cường 1936-39, La Patrie Annamite ( 1932-45)
Khai Trí ông cũng góp tay ( AFIMA)
Giữ chức thủ quỹ hội này khá lâu.



Bị làm khó, bắt đầu từ chức ( Phụ tá Thị trưởng )
Để tránh điều phiền phức, phòng xa
Văn phòng Luật được mở ra
Ở tại phố Gambetta, Hà thành. ( Trần Hưng Đạo sau này)



Cướp chính quyền Việt Minh thắng lợi (19-8-1945)
Buộc ông hoàng Bảo Đại nhường ngôi (30-8-1945)
Chính quyền ổn định xong xuôi
Văn khoa được mở, ông ngồi giảng viên.



Năm 46, ông liền được cử
Cùng phái đoàn tham dự hội đàm ( Hội nghị trù bị Đà Lạt)
Trưởng ban văn hóa, hàm oan
Dư luận “ phản quốc” râm ran Hà thành.



Sau hội nghị, thân hành người Pháp
Buổi tiệc trà lễ đáp ngoại giao
D'Argen sai thuộc hạ vào ( D'Argenlieu, Thủy sư Đô đốc trưởng phái đoàn Pháp)
Mời ông, nói chuyện xã giao...nào ngờ!



Chuyện rắc rối, sau nhờ ông Hãn ( giáo sư Hoàng Xuân Hãn, trưởng ban chính trị của đoàn)
Gặp phó đoàn, của đảng nói ra ( Võ Nguyên Giáp)
Vụ việc mới tạm gát qua
Hết lời úp mở, gần xa...vụ này!



Hội nghị chính, tiếc thay thất bại ( Fontainebleau từ 6-7-1946 đến giữa tháng 9-1946)
Khơi ngòi cho khốc hại chiến tranh
Tiếng súng kháng chiến lan nhanh
Đọ sức giữa Pháp - Việt Minh bắt đầu ( 19-12-1946)
Người ngoài đảng, mặc dầu như vậy
Được cụ Hồ tin cậy gởi đi
Bắc Kinh dự hội nghị : Vì-
Hoà - bình- Châu- Á ...nhờ khi họp bàn ( 1952)

Rồi tiếp tục lên đàng tham dự
Tại Áo quốc cũng sự Hòa- bình-
Thế giới ngay tại thành Viên ( Vienne)
Ông đã bày tỏ nỗi niềm Việt Nam
Làm cho nhiều phái đoàn cảm động
Mang đến niềm hy vọng tương lai
Hoà bình thế giới lâu dài
Tiếp tay khối Cọng chiêu bài mị dân!



Người Cộng sản bất phân Âu- Á
Mở miệng là ra rã “ hòa bình”
Xúi bẩy mọi cuộc chiến tranh.
“ Xuất cảng cách mạng” tiến hành khắp nơi!



Là kẻ chơi trò chơi cách mạng
Chủ trương từng giai đoạn tiến công
Cuối cùng giai cấp công nông
Xây dựng thế giới đại đồng ...ước mong.



Phái đoàn đã thành công rực rỡ
Được cụ Hồ niềm nở bắt tay
Cụ Hồ đúng bậc thiên tài
Dùng người như thể đánh bài ba con.



Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi
Pháp đã thua chỉ đợi thoát ra
Genève hội nghị bàn qua (1954)
Chấm dứt cuộc chiến Pháp và Việt Minh.



Đất nước trước tình hình chia cắt
Cầu Hiền Lương phân Bắc rẽ Nam
Hai miền tạm một thời gian
Hiệp thương thống nhất sẽ bàn về sau.



Việc ruộng đất từ đầu cải cách (Cải cách ruộng đất từ 1953-56)
Do Trường Chinh đảm trách gây ra
Những vụ đấu tố quá đà
Tạo bao thảm cảnh quả là “ kinh thiên”.



Hồ tìm người ưu tiên gánh tội
Ai người ngoài ông nội Trường Chinh ?
Giáng chức Tổng bí (thư), phê bình...
Xoa dịu bất mãn tình hình trong dân.



Vở kịch đã trăm phần mỹ mãn
Đạt mục tiêu của đảng vạch ra
Kẻ thù giai cấp của ta ( trí, phú, địa, hào, đào tận gốc trốc tận rễ)
Đã bị tận diệt . Giờ là sửa sai!



Nguyễn Mạnh Tường đọc bài tham luận ( ngày 30-10-1956)
Nêu sai lầm trách nhiệm từ đâu
Đề nghị biện pháp ngõ hầu...
Thương ôi! Lời nói qua cầu gió bay!



Nhưng chính nó đã gây tai họa
Cho chủ nhân suốt cả đời ông
“ kẻ bị rút phép thông công” (L'excommunité)
Biến vào bóng tối, sống không ra người!



Nhân dịp này, đảng thời xoá trọn
Thảo, Tửu, Anh...(2) đồng “ bọn Nhân Văn”
( Triết gia Trần Đức Thảo, Giáo sư Trương Tửu, Học giả Đào Duy Anh)
Trí thức , văn nghệ...dấn thân
Trở thành là những tội nhân một thời!



Nhưng ông vẫn nụ cười độ lượng
Vẫn một lòng tin tưởng tương lai
Tuy hơn ba chục năm dài ( 1958-1989)
Ông bị cô lập với ngay quê nhà!



Bán đồ đạt dần dà để sống
Có những lúc cố chống cơn điên
Cơn đói hành hạ triền miên
Cùng niềm cô độc vô biên kéo dài.



Những bạn cũ càng ngày lẫn tránh
Người chịu ơn cũng ngảnh mặt đi
Công an theo dõi từng khi
Bước đâu một bước chúng thì mò theo.



Bỗng gặp được chú mèo ốm đói
Như món quà trời đoái dành cho
Chia nhau bữa đói bữa no
Từ đây có bạn nhỏ to với mình.


Con vật quả có tình có nghĩa
Để vuốt ve ngắm nghía đỡ buồn
Người bạn giải tỏa nguồn cơn
Xem ra con vật dễ thương hơn người!



Vợ ông quả tuyệt vời can đảm
Cung sẻ san hoạn nạn đời ông
Cái bóng theo sát bên chồng
Giữa lúc bão tố, chênh chông cuộc đời.



Sự tận tụy, nụ cười tươi tắn
Dịu lòng ông cay đắng phần nào
Nhưng làm ông lại thêm đau
Nuốt dòng lệ ngược dâng trào về đêm.



Việc dạy học kiếm thêm chút cháo
Nhưng chính vì cơm áo cho nên
Có lệnh cấm của cấp trên
Đã ngầm chỉ thị những tên vô loài


Tìm mọi cách đọa đày tới chết
Lũ bọ dòi rắn rết du côn...
Theo lệnh của chủ nhân ông
Cũng phường vô lại du côn kém gì!



Lũ mọi rợ còn chi để nói
Chút lương tri còm cõi cũng không
Buồn thay “ cách mạng thành công”
Những kẻ vô học nên ông với bà!

Ông phủ nhận mình là Cộng sản
Đã chối từ nhập đảng năm nao (1955)
Cũng đừng thắc mắc vì sao
Chưa hề tham dự phong trào sinh viên.



Khi về nước gắn liền chế độ
Dốc một lòng phục vụ nhân dân
Dù khi biết rõ đã nhầm
Tấm thân ngọc trắng cát lầm dở dang.



Người trí thức lọt hang ma quỷ
Đi sai đường lỡ dĩ bước chân
Chấp nhận thiệt hại bản thân
Còn hơn bất tín thế nhân chê cười.



Ta chẳng phụ dù người phụ bạc
Dù cho đời độc ác gian manh
Giữ lòng một mực trung thành
Phục vụ đất nước tận tình thế thôi.



Ai có trách là người bất trí
Cam nhận lời dị nghị biết sao
Sự này chỉ có trời cao
“ Chút lòng trinh bạch” gởi vào thiên thu.



Cuối cuộc đời bất ngờ may mắn
Chuyến thăm quan nước Pháp ngắn ngày (4 tháng năm 1989)
Cơ hội tâm sự giải bày
Từ lâu ôm kín với ngay gia đình.



Có những điều thật tình thổ lộ
Cũng nhiều điều còn khó nói ra
Hẳn khi được phép đi xa
Phải theo “ điều kiện” người ta mới “ừ”



Để đổi lấy ước mơ, đành nhận
Ra nước ngoài cẩn thận nói năng
Nên chi ông phải nói rằng:
“ Hoàn toàn thỏa mãn, ước mong đạt thành” !



Bạn thân thiết khi quanh câu chuyện
Hẳn biết ông biểu hiện điều gì
Nụ cười ánh mắt trao đi
Hơn là lời nói lắm khi sai đường.



Bạn trẻ vì quê hương thao thức
Nuôi dưỡng lòng yêu nước. Mừng thay!
Mong các thế hệ sau này
Vun trồng chăm bón...tất ngày nở hoa.

                          *
Giữa một ngày thành Hà nắng gắt
Nguyễn Mạnh Tường an giấc ngàn thu
Luật sư huyền thoại sương mù
“ Lưỡng khoa Tiến sĩ” giả từ cuộc chơi.



Bậc nhân tài sinh sai thế kỷ
Bất phùng thời đã bị dập vùi
Ông đã để lại cho đời
Một bài học lớn để người phòng thân.

                         *
Hết lòng yêu nước vì dân
Ảo ảnh danh vọng phù vân cuộc đời!



Nov. 2013
NT2 Hoành Sơn Nguyễn Hữu





Cước chú:

1.- Thành tựu đáng ghi nhớ nhất của Hội -Khai Trí Tiến Đức- AFIMA- là việc soạn cuốnViệt-Nam Tự-điển do nhà in Trung-Bắc Tân-Văn xuất bản năm 1931.Tiểu ban phụ trách soạn thảo gồm các ông Phạm Quỳnh (chủ bút), Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục,Dương Bá Trạc,Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, và Đỗ Thận .


Cuốn từ điển này là tác phẩm công phu, dày 663 trang, tra cứu cả chữ Nho lẫn tiếng Pháp hầu tạo chữ để diễn tả những tư tưởng mới du nhập vào Việt Nam, nhất là những danh từ kỹ thuật. Hơn nữa từ điển Khai Trí Tiến Đức còn thâu nhận những danh từ thổ ngữ của các địa phương cả ba miền Nam, Trung, Bắc. Cuốn từ điển này sang thế kỷ 21 vẫn thường được lấy làm mẫu mực chính tả và từ mục

2.-
Trần Đức Thảo Trần Đức Thảo  (1917-1993)

Là nhà nghiên cứu triết học Việt Nam.


Năm 1936, ông được nhận học bổng sang Paris, Pháp để thi vào trường École normale supérieure (Paris). Ông đậu thủ khoa bằng Thạc sĩ triết học (Agrégation de Philosophie, ngang điểm với Jules Vuillemin) tại Pháp lúc mới 26 tuổi (1942).Thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học ở Pháp, Trần Đức Thảo đã viết thư gửi về Tổ quốc, bày tỏ tình yêu nước nồng nàn đối với đất nước vừa giành được độc lập hồi tháng 8 năm 1945. Lá thư được in trên tờ Cờ giải phóng, cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1952 ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp.


Sau 1954 từ Việt Bắc về Hà Nội, Giáo sư Trần Đức Thảo kết hôn với Tiến sỹ Nguyễn Thị Nhứt, đến ngày 5 tháng 1 năm 1967, theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nhứt hai ông bà đã thuận tình ly hôn[1].


Năm 1955, ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).


Ông bị quy tội dính líu đến phong trào Nhân văn Giai phẩm khi công bố hai bài báo có bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, bị mất chức Phó Giám đốc trường ĐHSP Hà Nội, chức Trưởng khoa Lịch sử chung cho cả ĐHSP và ĐHTH Hà Nội, Trần Ðức Thảo bị cấm giảng dạy, phải dịch thuật lặt vặt để sống, phải bán dần bán mòn những bộ từ điển để ăn. Ông bị chặt đứt mọi liên hệ với thế giới, bị cô lập ngay giữa đồng bào của mình.




Trương Tửu ( 1913 - 1999) là nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Các bút danh khác: Nguyễn Bách Khoa, Mai Viên.


Thời trai trẻ, ông học hết năm thứ nhất bậc trung học, rồi học trường Kỹ nghệ thực hành ở Hải Phòng (nghề thợ tiện, cùng trường lớp với Lê Văn Siêu). Nhưng chỉ được một năm rưỡi thì bị đuổi học (Năm 1927), vì tham gia bãi khoá ở Hà Nội để đòi thực dân Pháp thả tác giả bài thơ Chiêu hồn nước Phạm Tất Đắc.[1]. Bị buộc rời trường, ông tự học chương trình Tú tài Pháp Việt.


Từ năm 1941 đến 1946, Trương Tửu làm Giám đốc Văn chương (tương tự Tổng biên tập) NXB Hàn Thuyên. Thời kháng chiến chống Pháp, ông là ủy viên Hội Văn hóa Việt Nam, chi hội phó Chi hội Văn hóa Thanh Hóa, tham gia bí thư đoàn liên đoàn Văn nghệ kháng chiến liên khu IV, dạy trường Thiếu sinh quân, trường Dự bị đại học…


Sau hiệp định Genève 1954, ông hồi cư về Hà Nội, dạy Trường đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa Hà Nội. Năm 1957, ông được phong chức danh Giáo sư, cùng đợt vớiĐào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn Mạnh Tường…
Đầu năm 1958, bị buộc thôi việc vì dính líu đến vụ Nhân văn giai phẩm. Sau đó, ông chuyển sang nghiên cứu y học và sống bằng nghề Đông y.


Trương Tửu mất vào ngày 16 tháng 11 năm 1999, tại Hà Nội, thọ 86 tuổi.


Đào Duy Anh (25 tháng 4, 1904 - 1 tháng 4, 1988) là nhà sử học, địa lý, từ điển học,ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo, văn học dân gian nổi tiếng của Việt Nam. Ông được xem là người mở đầu cho nhiều ngành khoa học xã hội Việt Nam.


Sau khi đỗ Thành chung tại trường Quốc học Huế năm 1923, ông không làm công chức dưới chính quyền thực dân Pháp mà làm nghề dạy học ở Trường Tiểu học Đồng Hới tỉnh Quảng Bình. Ông chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước đang dấy lên thời kỳ đó như phong trào đấu tranh đòi "ân xá" cho Phan Bội Châu năm 1925, đám tang Phan Chu Trinh năm1926... Cuối năm 1925, ông tham gia sự kiện Hội Quảng Tri Đồng Hới đón tiếp Phan Bội Châu trên đường từ Hà Nội vào Huế.


Năm 1926, ông từ chức giáo học, vào Đà Nẵng và có ý định đến Sài Gòn. Trên đường vào Đà Nẵng, ông đã gặp Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở chùa Phổ Quang, vào Quảng Nam gặp Huỳnh Thúc Kháng đang làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Ông đã giúpHuỳnh Thúc Kháng sáng lập báo Tiếng dân và làm Thư ký tòa soạn. Đào Duy Anh tham gia Việt Nam Cách mạng Đảng năm 1926 và sau khi đảng này đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng (tháng 7 năm 1928), ông trở thành Tổng Bí thư.


Năm 1928, ông sáng lập Quan hải tùng thư, với sự cộng tác của những trí thức như Võ Liêm Sơn, Trần Đình Nam, Phan Đăng Lưu... xuất bản những tập sách phổ cập để người đọc làm quen với tư tưởng khoa học và duy vật lịch sử (như Lịch sử các học thuyết kinh tế, Phụ nữ vận động, Lịch sử nhân loại, Tôn giáo là gì? Xã hội là gì? Dân tộc là gì?). Trong thời gian này, ông lấy biệt hiệu là Vệ Thạch(chim tinh vệ).


Tháng 7 năm 1929, Đào Duy Anh bị chính quyền bắt giam cho đến đầu năm 1930. Từ đó ông chuyên tâm nghiên cứu văn hóa bắt đầu làtừ điển học rồi văn hóa, văn học, sử học. Sau Cách mạng tháng Tám, Đào Duy Anh được mời giảng dạy môn Lịch sử tại Đại học Văn khoa Hà Nội. Ông là Uỷ viên Ban vận động Đại hội văn hóa toàn quốc năm 1946. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động trong Chi hội văn nghệ Liên khu IV.


Năm 1950, ông được mời ra Việt Bắc làm Trưởng Ban Sử - Địa thuộc Vụ Văn học Nghệ thuật, Bộ Giáo dục.


Năm 1952, Đào Duy Anh về Thanh Hóa giảng dạy tại trường Dự bị Đại học. Năm 1954, ông trở về Hà Nội giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa.


Năm 1956, khi trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành lập, ông được cử làm Chủ nhiệm Bộ môn Cổ sử Việt Nam cho đến năm 1958.


Năm 1956, ông có bài trả lời phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do, dân chủ đăng trên bán nguyệt san Nhân văn số 5 (ngày 20 tháng 11).


Năm 1958, Đào Duy Anh chuyển sang làm việc tại Bộ Giáo dục, năm 1960 chuyển sang Viện Sử học. Từ đây, ông thôi công tác giảng dạy đại học và tập trung vào nghiên cứu. Ông nghỉ hưu năm 1965 nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu cho đến năm 1988


Ngày 1 tháng 4 năm 1988, ông qua đời tại Hà Nội, thọ 84 tuổi.


Ông là một trong số ít nhân vật Việt Nam được ghi tên vào bộ từ điển Larousse với tư cách là một nhà bách khoa toàn thư của thời hiện đại.


Đào Duy Anh đã thực hiện trên 30 công trình về nghiên cứu và dịch thuật cổ văn được in thành khoảng hơn 60 tập sách bắt đầu từ năm1927.


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia