Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai MÀU HOA ĐÀO NĂM ẤY

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

MÀU HOA ĐÀO NĂM ẤY

In PDF.

Evergreen State, ngày ... 



HP,

Nghe Tuyết Nga nói là ngày xưa học chung với HP ở Sao Mai Đà Nẵng. Những ngày hoang dại đó chắc vui lắm và cũng “quậy” dữ lắm phải không. Tiếc là những kỷ niệm đã qua sẽ không bao giờ trở lại dù chỉ một lần. Nếu có một lần nào đó thoáng gặp những kỷ niệm đã mất thì hình ảnh đó vẫn chỉ là những bóng hình trong tiềm thức. Một đời người không bao giờ tắm được hai lần trên cùng một dòng sông vì nước sông xưa đã trôi về biển cả mênh mông. Sông xưa không thể đợi người vì dòng đời không ngừng nghỉ bao giờ. Ðịnh luật của hóa công đã tạo ra số kiếp. Kiếp tằm thì phải nhả tơ. Kiếp người nằm trong định luật nhân quả.
 
Nhắc đến biển mới nhớ là HP đã được sống một thời tuổi vàng trên biển Mỹ Khê nước xanh cát trắng. Biển ở đó đẹp vô cùng.  Anh đã đến nơi đó vài lần. Nhưng tiếc là anh không có nhiều kỷ niệm với Mỹ Khê để kể cho HP nghe. Ngày anh rời Quốc Học để về Sài Gòn tiếp tục đèn sách, lòng trống vắng một cách kỳ lạ. Không mang theo hình ảnh quyến rũ mê đắm tà áo dài Đồng Khánh thướt tha như bao chàng trai cùng trang lứa. Không có hình ảnh nàng Diễm dễ thương như anh chàng nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh thuở trước. Cũng không có được suối tóc mềm mại đắm say của cô gái bến sông xưa trong nét nhạc sang trọng pha cổ điển của Văn Phụng và Hoàng Trọng ngày ấy.



Nhớ lại thấy cũng ngạc nhiên đôi chút, nhưng không tìm được lý do để trả lời vì sao. Kỷ niệm của anh là những ngày hoa mộng ở giảng đường Đại học. Là những năm làm lính chiến trường như những bạn bè cùng trang lứa, bỏ sách vở, tình yêu, áo trắng mộng mơ để bước vào cuộc chiến. Kỷ niệm là những ngày hành quân miệt mài với áo trận giày sô giữa lòng cuộc chiến. Kỷ niệm là những đêm thức trắng chờ địch dưới ánh hỏa châu mà lòng thì vẫn mơ ước một ngày hòa bình cho cả hai miền đất nước.



Hai mươi tuổi ta đi làm chiến sĩ
Bước giày đinh lạng quạng một đời trai
Vừa đánh giặc vừa lừng khừng triết lý
Những thằng nầy yêu nước chẳng thua ai.
(Lang Thang Đất Lạ - Thơ Cao Tần)



Kỷ niệm đau buồn là những tức tưởi nghẹn ngào mỗi khi phải nhớ lại một ngày cuối tháng tư năm xưa. Ngày phải buông súng tan hàng vì những nhận định thiển cận, sai lầm của những người lãnh đạo đất nước quá tham lam và yếu hèn. Kỷ niệm là những năm tháng bị đối phương đọa đày trong các trại tù khổ sai từ Nam chí Bắc mà chúng đánh lừa dư luận toàn thế giới bằng mỹ từ “trại tập trung cải tạo”. Sau gần bảy năm chống chọi với tử thần trong các trại tù rừng già Nam Bắc, anh được trở lại nhà với một  án tù mới, quản chế hai năm tại địa phương. Không có gì đau xót và buồn cười cho bằng khi mình chỉ được “sống tạm trú” với vợ con mình trong chính ngôi nhà riêng của mình do chính mình sở hữu. Chuyện có vẻ khôi hài và lố bịch quá phải không em. Cả nhân loại tròn mắt ngạc nhiên tưởng như nghe một chuyện quái đản của một thế giới nào khác. Nhưng đó lại là điều có thật trên đất nước chúng ta sau 1975.


Và anh đã về…



Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ
(Tô Thuỳ Yên – Ta về )   



Em biết không. Anh rời quân trường Đà Lạt những ngày đầu Xuân 1971 có nắng ấm chan hòa. Làm lính chiến trường Đông Bắc nhiều năm trên khu 31 Chiến Thuật. Đụng trận dài dài, bị thương vài lần nhưng tất cả chỉ là chuyện nhỏ. Nhưng đến mùa Hè 1972, cả miền Nam nhuộm một màu đỏ rực vì nhịp độ chiến tranh lan rộng khắp nơi. Mặt trận bùng nổ ngay trong lòng thủ đô Sài Gòn. Áp lực của quân địch ngày càng gia tăng. Trong một trận đánh lớn suốt tuần ở mặt trận Bàu Me, Trảng Bàng, anh bị thương nặng, trực thăng cứu thương phải đưa thẳng về Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị và phải dưỡng thương hơn một năm mới trở lại đơn vị.



Hình như trong một lá thư gởi cho em tháng trước, anh có kể cho em một vài kỷ niệm vui buồn đời lính ở đó. HP còn nhớ tấm hình nổi đình nổi đám mấy chục năm nay của thông tín viên Nick Ut chụp em bé PhanThị Kim Phúc đang trần truồng, giang hai tay chạy với vết thương phỏng nặng trên người. Tấm hình mô tả rất trung thực cảnh cô bé  gắng sức chạy thoát khỏi trận chiến tàn khốc đang hừng hực lửa đạn giao tranh. Anh diễn tả thêm, giữa lúc chiến trận Bàu Me đang mịt mù khói lửa, thì cô bé và cả gia đình đang trú ngụ ở đầu xóm Cây Da nằm hơi sâu phía sau Thánh Thất Cao Đài Trảng Bàng. Súng nổ vang trời. Lửa cháy khắp nơi do đạn pháo hai bên, do bom xăng từ máy bay thả xuống bao trùm cả khu vực và đã táp cháy lên người Kim Phúc khiến cô bé bị phỏng nặng. Mặc dù đau đớn, Kim Phúc đã cùng vài đứa trẻ khác, can đảm chạy cặp theo con lộ nhỏ, vượt khỏi ThánhThất Cao Đài, băng lên quốc lộ để thoát về Thị trấn Trảng Bàng chỉ cách đó vài trăm mét.
         

Trận chiến Bàu Me năm ấy dữ dội và kinh hoàng vô cùng. Bom napan đỏ rực một góc trời. Trận địa pháo của địch và pháo hỏa tập của mình nổ đinh tai nhức óc, át cả tiếng gầm rú của phi tuần oanh tạc Skyraider đang quần trên bầu trời đất Trảng. Tấm ảnh ngay sau đó đã nhanh chóng được các hãng thông tấn báo chí tung ra khắp thế giới. Bé Kim Phúc sau giai đoạn cấp cứu tạm thời, đã được chuyển xuống tàu bệnh viện Hope để điều trị và chỉnh hình. Vết thương trên cơ thể cô bé đã lành sau thời gian chữa trị, nhưng vết tích do chiến tranh để lại trên cơ thể của cô thì có thể mãi mãi không lành. Vết tích đó sẽ vẫn còn đeo đẳng, ám ảnh đời sống cô nhiều năm. Là một người lính từng vào sinh ra tử, từng bỏ lại một phần máu thịt trên nhiều vùng chiến địa quê hương nên anh rất hiểu và cảm thông với những đớn đau của cô bé Phúc.



Trong tấm hình do Nick Út chụp, ngoài bé Kim Phúc, còn vài em nhỏ khác nhưng không ai bị thương nặng như Phúc. Tấm hình phản ảnh rất rõ sự tàn khốc của chiến tranh, ai xem qua cũng phải ngậm ngùi và thương xót cho cô bé. Nhưng mặt khác, bức ảnh tội nghiệp của cô bé cũng đã được nhiều phe phái, nhiều tổ chức chính trị tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác lợi dụng suốt mấy chục năm nay chỉ vì một lý do duy nhất. Cô bé trong bức ảnh còn sống. Họ khó có thể lợi dụng được những người đã chết. Vì những người chết đâu còn tiếng nói. Đúng không em ?



Sẽ có người đặt câu hỏi sao anh lại biết sự việc đã xảy ra trong quá khứ để diễn tả những chi tiết trên. Em biết không, đơn vị của anh tham dự trong trận chiến đó. Và anh cũng bị thương ngay tại chiến trường Bàu Me, Trảng Bàng. Hơn nữa, gia đình của Kim Phúc cũng không xa lạ đối với anh. Quán ăn Thanh Tùng của gia đình Kim Phúc tại ngã tư Trảng Bàng rất nổi tiếng và đông khách từ nhiều năm trước. Thời gian đóng quân tại đó, hầu như không tuần nào anh không ghé ăn cùng với bạn bè trong đơn vị. Đó là cách trả lời rõ ràng nhất cho câu hỏi nếu có.



HP thân yêu ! Không biết em có còn nhớ một tấm ảnh khác cũng nổi tiếng không kém. Nổi tiếng vì cũng bị đám đầu cơ chính trị và phản chiến Mỹ lúc ấy lợi dụng để trục lợi cho tổ chức lẫn cá nhân. Chuyện như thế nầy: Một vị Tướng của Quân Đội miền Nam cuối thập niên 60 vì uất hận và thương xót các binh sĩ dưới quyền bị cộng quân sát hại trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Nhất là khi ông nhận được tin toàn bộ gia đình từ mẹ già đến đứa con thơ của một người bạn thân là Trung Tá Thiết Giáp tại Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Gò Vấp bị đặc công CS sát hại chỉ vì ông nhất quyết từ chối không cho chúng biết những chi tiết kỹ thuật vận hành trên chiến xa tối tân M48 của Quân lực VNCH. Trong lúc hỏi cung  tù binh CS bị bắt, cơn giận dữ lên cực điểm không còn kiềm chế nổi, ông đã chĩa súng bắn thẳng vào đầu tên chỉ huy Bảy Lốp để uy hiếp những tên còn lại phải  khai ra địch tình và những tên đặc công còn lẩn trốn.



Một phóng viên Mỹ lúc ấy đã chụp được tấm hình và đã bán tấm hình đó cho nhóm truyền thông phản chiến Mỹ. Anh chàng phóng viên được trả một số tiền khá lớn, dĩ nhiên rồi, nhưng tấm ảnh vô tình đã giết hại cuộc đời vị Tướng. Dưới áp lực của dư luận phản chiến Mỹ, mặc dù là một tướng lãnh có tài và có công với đất nước, ông cũng bị thân bại danh liệt và phải giải ngũ. Nhiều năm sau ngày mất nước, ông sống lặng lẽ, âm thầm ngay trên đất Mỹ dưới những ánh mắt soi mói không thân thiện của một số ít người Mỹ bản xứ. Anh còn nhớ năm 1976, một vài nhà lập pháp trong Quốc Hội Mỹ còn muốn lợi dụng tấm hinh để vận động thu hút phiếu cử tri. Họ lấy danh nghĩa một nhóm thiểu số đặt yêu cầu Bộ Tư Pháp trục xuất ông khỏi Hoa Kỳ. Nhưng yêu cầu của họ đã không thành công vì Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ lúc ấy không cho phép.



Vị Tướng buồn nhưng không than vãn vì biết nhiều người Mỹ vẫn còn những định kiến  từ bức ảnh. Điều đáng nói nhất là sau khi ông qua đời, người ân hận nhất lại chính là tác giả của bức ảnh. Anh chàng phóng viên năm xưa đã viết và gởi đăng trên báo chí lá thư tạ lỗi của mình nhân ngày giỗ đầu của vị Tướng. Em có biết vì sao lại có bức thư tạ lỗi muộn màng như vậy. Thì ra sau khi Việt Nam chấm dứt chiến tranh, nhìn dòng người vượt biển tìm tự do mỗi ngày mỗi nhiều dù phải chết trên biển Đông.  Anh chàng phóng viên thấy lạ và âm thầm tìm hiểu chính sách cai trị của chính quyền mới tại Việt Nam sau giai đoạn thống nhất đất nước. Chàng phóng viên đã thất vọng vì bản chất mị dân, độc tài của chính quyền mới đang áp đặt trên đời sống dân chúng miền Nam, một dân tộc hiền lành mà anh ta đã có dịp gặp. Cuối cùng thì chàng phóng viên cũng đã  làm được một việc rất dũng cảm mà không phải ai cũng làm được. Lời tạ lỗi dù muộn màng nhưng đã biểu lộ được sự can đảm, lòng nhân hậu, tính nhân bản của người làm nghiệp vụ phóng viên chiến trường.



Jane Fonda tại Hà Nội

Phải chi cô đào Jane Fonda nồi danh của Mỹ cũng làm được điều tương tự thì hay quá. Nhưng cô đâu có cái dũng của một kẻ sĩ. Cô có ân hận một chút về việc làm năm xưa của mình thế thôi, nhưng nếu được trèo lên nòng súng pháo phòng không của Hà Nội để chụp ảnh lần nữa, biết đâu cô đào già vẫn muốn trèo.



HP biết không. Việc làm phản chiến năm xưa của Jane Fonda đã bị một nhà văn nữ Hoa Kỳ, cũng là nữ Thông tín viên truyền hình nổi tiếng của Mỹ trong nhiều thập niên qua là Barbara Walters phản ứng dữ dội suốt gần 40 năm nay. Barbara Walters bày tỏ quan điểm của mình khi được báo chí phỏng vấn, Bà nói: “Many died in Viet Nam for our freedoms. I did not like Jane Fonda then and I don’t like her now…”.



Đối với đám chính trị hoạt đầu, chúng không tha bất cứ ai và chỉ có người chết may ra mới không bị những tổ chức đó lợi dụng được. Trận chiến ở Bàu Me thực sự đã cướp đi biết bao sinh mạng lẫn thương vong của cả hai bên lâm chiến, không loại trừ một số ít người dân hiền lành, vô tội. Nhưng như em thấy đó, không ai nhắc đến những người đã chết dù chỉ một lần, ngoại trừ chính gia đình của họ. Không ai khóc thương cho một nạn nhân chiến tranh bình thường ngoại trừ chính thân nhân, vợ con của họ. Đó là quy luật muôn đời của chiến tranh. Thứ quy luật đầy tính khắc nghiệt và tàn ác. Câu chuyện cô bé Phan Kim Phúc của Trảng Bàng. Chuyện về bức ảnh ông Tướng và cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trước đây rồi sẽ vẫn còn là đề tài tranh cải của nhiều phe nhóm, đảng phái chính trị trong nhiều năm nữa.
   
HP thân yêu,



Ta về cúi mái đầu sương điểm,
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nổi lẻ loi
(Tô Thùy Yên – Ta về)



Rồi anh cũng đã trở về sau nhiều năm bị giam cầm trong các trại tù tập trung của Cộng sản. Hơn mười năm sống vật vờ trong muộn phiền và lo toan những bất trắc của kẻ sa cơ thất thế. Rủi may trong cuộc đời rồi cũng có lúc viếng thăm từng người. Vận may rồi cũng đã mĩm cười với anh. Và cuối cùng, anh cùng gia đình đã được đến Hoa Kỳ sau nhiều năm miệt mài trong chờ đợi. Đến Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng, trong thế chẳng đặng đừng vì tiến thối lưỡng nan. Sau một năm vượt qua ngưỡng cửa ESL rồi ABE, anh đã xâm mình ghi danh theo học suốt 5 năm đại học ở WA nên hiểu rất rõ những khó khăn của HP trong thời gian đi học. Nhất là sau giai đoạn đổ vỡ những chuyện riêng tư.  Rồi thêm gánh nặng gia đình, em phải vừa làm Mẹ để chăm sóc cho các con còn nhỏ dại, vừa làm Cha để lo toan chuyện cơm áo gia đình và vừa phải theo cho kịp những đòi hỏi khó khăn của giáo trình Ðại học mà em đang theo đuổi. Làm sao tìm được yên bình để học giữa những phong ba một đời thiếu phụ như em lúc đó. Chỉ nghĩ đến những bế tắc không thôi, đã thấy bao khó khăn, phiền muộn. Nghị lực, kiên trì và dũng cảm. Đó là những từ ngữ anh muốn nói về em. I ‘m proud of you HP !



Trong suy nghĩ của anh, mãi mãi em vẫn là một phụ nữ có nhiều cá tính nhưng là cá tính tốt đầy kiêu hãnh như hình ảnh những phượng hoàng dũng mảnh trên đỉnh núi Sơn Trà quê em. Nhiều lúc anh có ý nghĩ em là hình ảnh chim phượng hoàng đang ngạo nghễ mở mắt nhìn thẳng vào mặt trời đang lên trên biển rộng, nhìn thẳng vào cuộc đời bằng cả sự thách đố để từ đó thương hoài quá khứ và kiêu hảnh nhìn về tương lai. Cá tính đó đã dẫn em vượt qua ngưỡng cửa Đại học đầy gian nan và em đã tìm được việc làm ổn định tại cơ quan NASA của Liên Bang có bản doanh chính đặt ngay ở Houston. Anh mừng cho em và hãnh diện vì em biết bao.
 
Mai sau dù có bao giờ.
Hoài phương một thuở bến bờ là đây.



Khi anh viết hai câu thơ nầy cho em, không biết vô tình hay hữu ý, anh đã nhắc đến tên em trong hai chữ đầu của câu thứ nhì rồi đó em thấy không. Quả là kỳ lạ như mệnh số.


Và nếu như nhìn dòng đời theo phạm trù triết học Ðông phương thì mệnh số mỗi người đã gắn liền với một vì sao tự trời cao. Nói khác đi, mỗi chúng ta đều có một số kiếp riêng, một định mệnh riêng. Ngày xưa đại thi hào Nguyễn Du từng tiên tri “đã mang cái nghiệp vào thân. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”, thì dù muốn hay không, cũng phải chấp nhận số phận. Cho nên mọi chuyện của ngày mai hãy cứ để cho nó tự nhiên đến, tự nhiên đi. Sách vở thường dạy “Ngũ thập tri thiên mạng ". Anh đã vượt qua ngưỡng cửa đó nên không chừng hiểu được chút xíu khái niệm hai chữ vô ưu.



HP biết không. Thuở chào đời, anh đã không được may mắn nghe tiếng con thoi xuyên khung cửi dệt lụa bên bờ sông quê Ngoại, cũng không được nghe mùi hương rơm rạ đồng lúa của quê Nội mến yêu. Tiếc nhớ vô cùng vì anh ra đời gần miền Nam cũng trên một bãi biển có nước xanh cát trắng giống quê em. Vì vậy, ngay từ tuổi ấu thơ, anh đã không lưu giữ được một hoài niệm rõ rệt nào về nơi chôn nhau cắt rốn của chính mình. Trong hồi ức còn lại rất nhỏ nhoi của anh hiện tại. Anh chỉ còn nhớ là Ba Má anh có xây một căn nhà rất lớn lai kiến trúc Âu Châu tại mảnh vườn quê Nội. Tường dày gạch đôi, mái lợp ngói đỏ. Nền nhà rất cao, có lẽ vì sợ nước ngập vào mùa lũ. Nền tráng xi măng và không có cột trong nhà như kiểu nhà thường xây ở miền quê lúc đó. Nhà không bị hư hại gì nhiều trong suốt cuộc chiến 9 năm chống Pháp (1945-1954) nhưng lại bị tàn phá trong cuộc nội chiến tương tàn Quốc-Cộng năm 1968. Căn nhà xưa như một vùng trú ẩn của tuổi thơ, vẫn thường hiện về trong trí tưởng tượng của anh mỗi khi quay lại nhìn những ngày tháng hoang dại xưa cũ. Mặc dù gia đình anh không ở đó thường xuyên và dài lâu.



Từ sau năm 1954, khi Ba anh trở lại làm việc cho các Bệnh Viện, gia đình anh xem như đã vĩnh viễn không còn trú ngụ ở đó. Ngoại trừ lần tổ chức Đám Cưới cho một người chị một năm sau ngày đất nước bị chia đôi. Lớn lên, mỗi khi nhớ lại căn nhà xưa. Trong giấc ngủ chập chờn những đêm trăng sáng, anh hay mường tượng có mấy vị Tiên Ông râu tóc bạc phơ đang ngồi đánh cờ tướng tại khu bàn cờ trước cửa chính dẫn vào nhà. Anh chỉ nhớ là sau đó Ba Má anh giao nhà cho gia đình một người Chú trông nom trước khi bị tàn phá vào năm Mậu Thân 1968 do chiến tranh.



Lần cuối về thăm quê năm 1993, ngôi nhà cũ đã hoàn toàn mất dạng. Không còn một dấu tích gì của căn nhà cũ, kể cả nền nhà. Không còn cây khế ngọt đầu hè. Không còn cây mít thơm giữa vườn. Chỉ còn lại mảnh vườn xưa với hàng tre tỏa bóng mát chung quanh. Người xưa nói vật đổi sao dời, thương hải biến vi tang điền. Cả hai câu nói hoàn toàn đúng khi anh đứng lặng ngắm khung cảnh ngày cũ. Cả con sông nhỏ xinh xắn gần nhà cũng đổi dạng bên bồi bên lỡ khác xưa nhiều lắm. Nói gì một ngôi nhà, một hàng cây, kể cả một con người. Có còn chăng là tiếng gió rì rào trên hàng tre xanh lá quanh khu vườn tuổi thơ. Có còn chăng là ngàn năm trước, ngàn năm sau, mây trắng vẫn còn bay trong bầu trời xanh thẳm như câu thơ xưa của Thôi Hiệu mà anh đã viết cho em ở thư trước.



Có phải vì vậy mà từ đó anh làm kẻ không quê nhà và cuối đời rồi vẫn là kẻ lưu đày không em ?. Gia đình thì có nhưng quê nhà thì bơ vơ. Anh ghi lại cho HP bốn câu thơ trong một bài anh viết tặng bạn bè hôm Tết Nguyên Ðán mấy năm trước. Biết đâu em sẽ nghĩ ra và hiểu được tâm sự của anh. Nhất là thời khắc giao mùa những ngày vào Xuân trên xứ người.



Khúc giao mùa, rượu tràn qua khóe mắt
Thấy lung linh ảo ảnh cuộc phù vân,
Đêm nhạc sầu và giọng đàn hiu hắt
Quê nhà đâu ? xa tắp ngọn mây tần
(Cuối Năm Nhớ Bạn – LTD ).



Từ thuở còn trai trẻ, anh đã trót mê thơ văn và mơ ngày sau sẽ tập tành làm kẻ bán chữ nghĩa cho đời - Một ước mơ vượt quá khả năng của mình. “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ ”. Hình như đó là tựa một quyển sách của một nhà văn khá nổi tiếng trong giới trẻ tại Sài Gòn trước năm 1975. Anh chỉ mơ chứ chưa dám làm vì tự cảm nhận mình chưa đủ khả năng. Do đó suốt đời vẫn chỉ làm con mọt sách. Sách vở chuyên chở nhiều nguồn tư tuởng khác nhau đã ảnh hưởng rất sâu đậm vào dòng suy nghĩ của anh. Qua đó, anh rất yêu văn thơ Trung hoa thời thịnh Ðường xưa cũ. Có lẽ vì dòng văn học Trung Hoa gần mình quá. Triết học Ðông phương ảnh hưởng sâu đậm quá vào văn hoá, văn minh Việt Nam nên ám ảnh lệ thuộc là một điều không thể tránh được dù biết đó là điều không tốt cho sự phát triển riêng biệt dòng văn hóa dân tộc, nhất là sự sáng tạo trong văn học nghệ thuật.



Anh nhớ, cách nay không lâu có một nhà văn từ miệt Cali nắng ấm, lên thăm thành phố ngọc bích Seattle để ra mắt sách. Cuốn sách trình làng của ông hình như có tựa “ Suối Nguồn Văn Minh Việt Nam” thì phải. Anh nói là hình như vì không nhớ rõ lắm tựa đề cuốn sách. Chỉ nhớ trong buổi nói chuyện có nhiều người nghe, ông luận giải nhiều điều rất thú vị về nguồn gốc văn minh Việt Nam và phân tích những di chỉ văn hóa dân tộc xuất hiện theo dòng thời gian. Luận giải có sắc thái mới, mang tính độc lập cao nhưng mức khả tín như thế nào là tùy vào nhận xét của người đọc và sự tìm tòi của những nhà văn học sử. Phải nhìn nhận một điều, công trình của ông rất công phu, tính dân tộc cao và có ý nghĩa nhất định.



Những năm sau nầy, vì những lý do đặc biệt trong quá trình thay đổi sinh hoạt chính trị của đất nước và dân tộc. Hàng triệu người đã phải rời bỏ đất nước để làm kẻ sống xa quê, trong đó có anh, có em. Cảm giác xa quê là cảm giác mất mát, chia lìa, đớn đau. Hay nói có vẻ văn hoa hơn một chút là những ray rức về thân phận con người. Lưu đày và quê nhà, đó là nhóm từ của phân ly cách biệt, là cảm giác vực thẳm của những người vì một lý do nào đó phải sống xa quê. Mà đã làm kẻ xa quê thì hình như phải chết hai lần em biết không. Một lần cho đất mẹ mến yêu. Nơi chào đời, nơi hít thở đầu tiên nắng gió quê nhà. Nơi nuôi dưỡng nụ cười trẻ thơ. Nơi hạnh phúc với tuổi biết yêu. Nơi chia sớt khổ đau vì những hệ lụy của đất nước. Thêm một lần chết thứ hai trên xứ người hoang lạc nhưng câm nín và cô đơn. Quê hương không ruồng bỏ chúng ta bao giờ. Nhưng chính con người với những đố kỵ nhỏ nhoi muôn thuở, đã tạo ra ly tan và chia cắt giống nòi.



Lúc xưa anh đọc Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu để thấy bóng chiều trên sông vắng gợi cảm giác sầu muộn đau thương cho kẻ xa nhà. Có ngờ đâu hôm nay anh cũng đang phải chịu cảnh “Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. (*Tản Đà dịch ) như người xưa đã từng gặp. Một không gian rất khác biệt và xa lạ. Một thời gian đã lụn tàn qua hàng mấy mươi đời người. Nhưng sao tâm sự người hôm nay vẫn phảng phất tâm sự người xưa. Đã bao mùa Xuân muộn phiền trôi qua trên kiếp đời lữ thứ, mong ước một ngày đoàn viên nhưng bóng quê nhà thì vẫn mù mịt như sương khói. Kinh Kha ngày ấy đã sang Tần, đã qua bờ sông Dịch nhưng tiếng sáo u buồn tiễn đưa của Cao Tiệm Ly vẫn réo rắt chập chờn trên bến sông cô tịch, vẫn lãng đãng trên sóng nước nghìn trùng đến mãi hôm nay. Người đời sau thương cảm tráng sĩ một đi không trở lại hay khóc than cho vận nước điêu linh. Chắc là cả hai.



HP thân yêu,



Hãy đọc tiếp thư anh nếu như HP chưa chán những dòng tâm sự mịt mùng từ thành phố ngọc bích Seattle. Có một bài nhạc anh viết về lứa tuổi năm mươi, cảm tác từ những dòng thơ dễ thương của một người bạn cũng gốc nhà binh ngày tháng cũ. Bản nhạc chuyên chở ít nhiều tâm sự của anh và bằng hữu về quê hương và thân phận làm người. Những ưu tư phiền muộn và những toan tính rối bời của lớp người đang chịu những lận đận bên trời. Trong đó, một nửa đời tuổi trẻ hiến dâng cho đất nước, một nửa đời còn lại là những bi phẫn khi phải chấp nhận cuộc sống tha phương. HP ơi, anh đã nửa đời đi tìm con ngựa trận năm xưa nhưng tìm hoài vẫn chưa lần gặp. Vì mùa Xuân năm ấy là khúc quanh của lịch sử dân tộc, khúc quanh hung hãn và tàn bạo đã nhận chìm đời sống yên vui của biết bao gia đình miền Nam, trong đó có em, có anh.



Thôi, ta đành phong kiếm
Hay ta về diện bích
Ngẫm soi thuở tang bồng
Cuộc đời là hư không...
(Thơ K4 Nguyễn KiếnTạo. Seattle )



Chủ Nhật tuần rồi, hình như HP có lên Houston họp mặt cuối tuần với mấy người bạn phải không ?. Em có vui và có nhắc nhớ đến Seattle lời nào không?. Cảm ơn lượng đất trời bao dung đã nuôi dưỡng cuộc sống cho đời nở hoa. Hoa càng nở muộn, càng quý giá từ những mong manh. Cảm ơn nhà thơ Tô Thùy Yên khi ông nhân danh thơ để “Cảm ơn hoa đã vì ta nở”. Cảm ơn em đã viết cho anh một thư dài tâm sự những kỷ niệm vui buồn của ngày tháng cũ. Và cuối cùng , cảm ơn đóa hoa muộn màng của anh, chút tình mong manh như sương khói nhưng trân quý một đời vì không dễ tìm gặp.



Đọc thư em, anh thấy HP nhắc lại hình ảnh kỷ niệm nhiều quá. Những thư trước cũng vậy, em hay kể về những cay đắng, đau khổ, buồn thương thời thơ ấu. Ðừng gợi nhớ nhiều về những kỷ niệm buồn. Hãy cất nó vào chiếc hộp nhỏ có khóa. Và cũng đừng đánh thức nó dậy. Hãy để dĩ vãng ngủ yên trong tro tàn quá khứ.  Anh nhớ, khi kể chuyện về em, Tuyết Nga vẫn thường nhắc ngày xưa HP là một  thiếu nữ rất xinh đẹp, và là cựu hoa khôi của Trung học Sao Mai Đà Nẵng. Ghê thật, phải biết trước điều đó sớm hơn, có lẽ nhất định anh không để mất em ngày ấy đâu. Nhưng thôi, anh chỉ nói đùa vu vơ cho vui. Hơn nữa, đó chỉ là chuyện của ngày xưa, của dĩ vãng một thời hoa mộng. Không biết anh có phải là kẻ ngu muội hay không mà lúc nầy anh chỉ nhớ và bị ám ảnh mãi câu văn của Eric Segal  “Love means not ever having to say you’re sorry ” trong “Love Story” dễ thương và lãng mạn.



Thôi nhé. Mọi chuyện hãy để cho nó diễn tiến tự nhiên và hãy dành cho nó sự yên lặng với chung quanh. Anh thích thứ hạnh phúc nhẹ nhàng và êm ả. Ðôi khi cũng chấp nhận sự dữ dội nhưng không ồn ào. Gió bao giờ cũng nhẹ nhàng nếu không là cuồng phong. Sóng biển mãi mãi hiền hòa và ru êm nếu không gặp bão dữ cuồng nộ. Emerald City đang vào mùa đông và anh thì đang như loài chim trú tuyết ở Thủ phủ Olympia, cách Seattle đúng một giờ xe. Trời bắt đầu lạnh giá và không chừng sẽ có tuyết rơi nhiều vào tuần lễ trước Giáng Sinh. Thường thiên hạ nói về Washington State, chỉ nói về viên ngọc bích Seattle mù sương trên đỉnh tháp Space Needle, không ai nhắc đến thủ phủ Olympia bao giờ, nếu có chỉ là họa hoằn.



Sẵn nói về nơi anh đang ở, anh muốn gởi cho em vài nét riêng biệt về những ngày cuối Thu vùng Tây Bắc Hoa Kỳ và Canada. Em nhớ cây Maple chứ ? Ðó là cây phong lá ba cạnh chuyển nhiều màu trong suốt mùa Thu. Phong là loài cây đặc thù của vùng băng giá. Nó đặc biệt đến mức dân chúng Canada dùng chiếc lá phong làm biểu tượng cho quốc kỳ của mình. Em biết không, cứ vào mùa Thu, lá phong phô hết vẻ đẹp tự nhiên của sự chuyển màu. Từ màu xanh tươi mơn mởn đầu mùa, lá phong chuyển dần sang màu vàng chanh dịu dàng và mát mắt. Rồi một sáng gần cuối mùa Thu, thức dậy, mắt bổng hoa, lòng thấy rộn ràng như tuổi học trò ngày đầu đến trường học.



Chao ôi ! Cả một rừng lá phong màu vàng chanh dịu của ngày hôm trước đã chuyển sang màu hồng nhạt. Chưa hết đâu em. Vì một hôm, cả một rừng phong sắc hồng nhạt đột nhiên ngã sang màu đỏ xác pháo khiến lòng nao nao nhớ thương những mùa Tết xưa trên quê nhà giờ đã mất. Rất nhiều lần anh mơ màng tưởng tượng là xác pháo ngập tràn hè phố, phủ đầy đường những ngày cuối năm thuở tuổi vàng thơ ấu. Với anh, mãi mãi đó là sắc màu của kỷ niệm, là cổ tích ướp hương thơm. Hiện tại, lá phong đang chuyển sang màu nâu úa và bắt đầu rụng hàng loạt cho đến tuần tới là trơ cành không còn một chiếc lá để đợi chờ thay áo mới mùa Xuân.



Thơ thẩn chuyện lá phong xứ lạnh, anh laị nhớ mấy câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du mà anh đã từng đọc thuộc từ mấy chục năm trước lúc còn học Trung học. Ðoạn Thúy Kiều chia tay Thúc Sinh sau thời gian yêu thương mặn nồng bằng tình nghĩa phu thê dù biết cuộc tình chỉ là tạm bợ và mọi chuyện sẽ không bền vững. Nhưng đáng yêu ở chỗ Thúy Kiều là người đàn bà thông minh. Điều đó đã là hẳn nhiên vì Tố Như Tiên sinh đã chẳng mô tả một Thúy Kiều vừa đẹp vừa “Thông minh vốn sẳn tư trời” đó sao. Sau kiếp nạn của gia đình, Kiều càng như thấu rõ cuộc đời là vô thưòng, càng am hiểu số phận của chính mình hơn ai hết vì đó là định mệnh, vì đó là số kiếp. Số kiếp của lẻ loi và chia ly.



Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
( Kiều - Nguyễn Du )



Ôi chao, một khung cảnh rừng phong cuối thu rất quen mắt nơi xứ người mà lại mang đậm hình ảnh bịn rịn buổi chia tay rất Ðông phương năm nào dưới giàn hoa cũ trên mảnh đất quê nhà. Không biết Việt Nam có cây phong lá tẻ ba cạnh (Nhưng anh biết ởTrung Hoa có nhiều loại cây nầy) và có chuyển màu như cây phong (maple) anh vừa kể hay không. Nếu như không có hoặc nếu chỉ mượn hình ảnh từ sách vở Trung Hoa để vẽ ra bức họa biệt ly thì trí tưởng tượng của thi hào Nguyễn Du  khi dùng màu sắc lá phong chuyển dạng để diễn tả buổi biệt ly của một cuộc tình thì quả là thần sầu.



Em biết không, nơi anh đang ở là một trong những khu vực có lượng mưa nhiều nhất của Hoa Kỳ. Houston của em là miền Nam nắng ấm, nếu có mưa trái mùa cũng chỉ là đột xuất. Nhưng có một điều rất dể hiểu là mưa ở không gian nào, thời gian nào. Từ ngàn xưa cho đến ngàn sau thì mưa vẫn mãi mãi là bạn của thi nhân, là người đồng hành với những cuộc tình. Mưa là mật đắng của đổ vỡ, là ngọt ngào của yêu thương, nhưng cũng là muộn phiền của đợi chờ và chia xa. Hình ảnh mưa thì lúc nào cũng buồn và gợi nhớ vu vơ, nhất là với những người phải sống xa quê, xa nhà và xa người. Ðọc bản tin thời tiết, thấy có chút rét lạnh đang thổi về Houston. Không chừng khu vịnh Galveston của em đang bị lây mưa lạnh của Olympia đó. HP tin không ?



Chiều cuối năm, nhìn mưa rơi rất nhẹ
Như cuộc tình nhỏ từng giọt yêu thương
Nhớ HP anh gọi em rất khẽ
Mưa ngoài trời hay ngàn lệ sầu vương

Từ mắt em, nghe tim đời ấm lạnh
Như suối về đất lạ giữa mùa Thu
Ngủ đi em, mưa hiên ngoài đã tạnh
Gió đã về từ tiếng gọi hoang vu.
( Khúc Giao Mùa . Lê Tấn Dương )




Không biết có phải anh là kẻ nặng nợ với cuộc đời hay không mà bỗng dưng trong một thời gian rất ngắn, anh “loay hoay” với HP suốt ngày. (Hình như có lần HP nói anh là món nợ của em). HP biết không. Em chưa hề là nhân vật của anh trong bất cứ truyện ngắn, truyện dài nào. Bất chợt trở thành nhân vật chính trong chuyện viềt chưa hình thành. Sự hóa thân đó có lẽ chỉ có Thượng Ðế mới sắp đặt được qua những phép nhiệm mầu mà người trần không làm được. Hoặc nếu có, tất cả chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Mình đang tìm những gì mà người khác không thể có. Và mình đang có những gì mà người khác không thể tìm.  Em có nghĩ như vậy không ?.



Ðã bao nhiêu năm rồi, cứ đến những ngày cuối năm anh lại nao nao nhớ thương về quá khứ, tuổi thơ và kỷ niệm. Mỗi lần như vậy, anh lại nhớ như in bài thuộc lòng năm xưa thời tiểu học. “Buổi chiều cuối năm. Buổi chiều êm như một giấc mộng, mấy cây thông đầu hè đứng lặng im đợi gió”. Em biết không, chung quanh nhà anh đang ở cũng có rất nhiều cây thông xanh và có lẽ chúng cũng đang lặng yên đợi gió về từ phương xa ru giấc ngủ muộn phiền cuối năm. Nắng quái buổi chiều đang lụn tàn trên những cành thông xanh mượt lá. Bốn giờ chiều mà vùng Tây Bắc như đã muốn vào đêm. Buổi chiều êm ả nhưng âm thầm và lạ lẫm. Lạ lẫm như chính nổi ước muốn kỳ lạ và điên cuồng của anh hiện tại. Muốn ôm em trong tay để nhớ em ngày sắp tới. Muốn hôn em say đắm cho nụ tình chết lịm trên cung đàn để những nốt nhạc buồn rớt rụng trên cung La thứ muộn phiền bản Serenade của Schubert ngày nào. Chiều tà đang rớt nhẹ xuống đời người hay chúng ta đang dần chết theo bóng chiều loang lỗ như những nốt nhạc tình đã dẫn Schubert vào tận cùng nổi nhớ, vào tận cùng hoang vu.



Trong sâu thẳm của bóng chiều cuối năm, hình như những nốt nhạc buồn nhảy múa trên cung La thứ muộn phiền đã thấm màu tuyết trắng và đang rơi nhẹ trên áo em biến thành những giọt nước mắt ngà tiếc thương tuổi vàng đã mất. Có phải mưa Houston đang làm em khóc và giọt nước mắt ngà đã đẫm ướt nửa vuông khăn thời con gái không em? HP ơi, trong bóng chiều cuối năm, nếu như anh có một điều ước, anh muốn mình được biến thành một nhân vật lãng mạn của Marcel Proust, đem không gian đổi lấy thời gian để có được tình yêu vĩnh cửu. Và nếu như đó là điều có thực thì cuộc sống chúng ta đã hạnh phúc tự kiếp nào rồi phải không em.



Nhắc đến nửa vuông khăn thời con gái, anh mới nhớ ra là một năm sau ngày Ba anh mất, anh có viết một bản nhạc từ một bài thơ rất dễ thương của nữ sĩ Trần Mộng Tú ở Bellevue, Wa. Anh vẫn giữ tựa bài thơ “Ngày Tháng Ngậm Ngùi” làm tên cho bản nhạc của mình. Anh ghi lại mấy câu cho em đọc, biết đâu chừng em cũng sẽ cảm thông với nỗi ngậm ngùi của anh, kẻ đi tìm con ngựa trận năm nào nhưng tìm hoài vẫn chưa gặp. Không lẽ yên cương đã rã mục từ mùa Xuân năm ấy. Mùa Xuân buồn đã dẫm nát một đời lính trận. Phá vỡ hoài vọng lứa tuổi thanh xuân.
   
Tháng hai ra vườn nghe gió,
Vực lên mấy khóm hoa gầy
Hỏi con chim sâu trong tổ
Ước gì trên những cánh bay
    ....
Tháng tư đi vào trong núi,
Tìm con ngựa trận năm nào
Yên cương bây giờ rã mục
Hỏi chàng, chàng bặt âm hao
(Thơ Trần Mộng Tú )



HP ơi, anh chưa được làm con chim sâu nhỏ cuộn mình trong tổ ấm nên không dám ước mơ chuyện tình nhân gian vì thấy cuộc đời cô đơn và mong manh quá.



Cuối tuần rồi, ngẫm chuyện nhân sinh, anh có viết mấy câu thơ cuối năm để tặng bạn bè. Anh gởi cho em đọc và chia xẻ vui buồn với anh nhé, vì anh nghĩ HP dù không là gì của anh đi nữa thì cũng là một bằng hữu dễ thương, mặc dầu là bằng hữu phương xa. Mà đã là bằng hữu thì dù quan san muôn dặm vẫn thấy như gần một bên, vẫn thấy như tình đã trăm năm. Đừng hỏi vì sao. Tất cà chỉ một câu trả lời. Vì đó là em.



Cuối năm lạnh buốt khung trời,
Nằm nghe mưa nhỏ như lời thở than,
Còn đâu một thuở yêu đàn
Những ngày dâu bể ngút ngàn trầm luân
Soi gương, lòng bỗng bâng khuâng
Tóc mai đã lỡ chia phần đời nhau.
Quê nhà - quặn nhói niềm đau,
Bóng xưa chìm khuất theo màu thời gian.
Vì em,
trăng rớt lạnh tàn
Vì em,
cánh hạc vút ngàn sao khuê.

(Khúc Giao Mùa. Lê Tấn Dương)



Có lẽ anh phải tạm ngừng lá thư dài mặc dù cảm thấy vẫn chưa đủ để nói với em những điều muốn nói. Mùa Xuân đang đến rất gần. Và thường trong phút giao mùa đó, anh lại cảm thấy thiếu vắng và cô đơn hơn bao giờ. Sẽ viết tiếp cho em khi mùa đào bắt đầu rụng cánh. Khi ấy, những con đường anh đi sẽ ngập tràn một màu hồng xác pháo, gợi tiếc thương trong anh những mùa Tết thời ấu thơ có mai vàng rực rỡ, tha thiết đã vĩnh viễn trôi theo dòng đời.



Olympia, Cuối Năm.
NT2 Lê Tấn Dương