Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm

In PDF.

 

 

KÍNH THƯA QUÝ BẠN ĐỌC.


Trước khi quý vị đọc những dòng dưới đây, tôi xin có vài lời giài thích.


Số là vào những năm 60, cũng như đa phần các học sinh sinh viên ở Miền Nam có biết hoặc nghe qua : Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, hoặc Nhân Văn Giai Phẩm, nhưng những tình tiết thì ngoài Tác già Hoàng Văn Chí ra, thì không có tài liệu nào đề cập đến. Sự việc cũng " chìm xuống" theo vận nước điêu linh.


Gần đây nhân đọc được


-  " Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc" của Tác giả Thụy Khê.


-  "Vụ Nhân Văn- Giai Phẩm từ góc nhìn...". tác giả Lê Hoài Nguyên


-  Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


- Nghe lại những cuộc phỏng vấn của bà Thuỵ khê với các ông Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm...


- Hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy
Và một số bài viết liên quan của nhiều tác giả.



Rất cảm kích trước những oan trái mà những người liên quan đã phải chịu đựng trong hơn nữa thế kỷ ( 1958- 2013)


Chúng tôi đọc rồi viết thành văn vần,đầu tiên là để thỏa tính hiếu kỳ và lòng ngưỡng mộ.


Nay có cơ duyên gởi hầu bạn đọc. Chắc chắn có rất nhiều tình tiết thiếu sót hoặc bỏ qua hoặc nhận thức còn non kém...Kính Mong quý vị thứ lỗi.


Cuối cùng kính gởi đến Hương Linh những nạn nhân " Nhân Văn Giai Phẩm" một nén hương lòng.



NT2 Hoành Sơn Nguyễn Hữu

************************************************

PHAN KHÔI (潘魁, 1887-1959)



“Đi kháng chiến, đuổi thực dân, tội phản động về cùng chín suối
Đón văn minh, khai dân trí, gương duy tân ở với trời xanh! ”
Phan Nam Sinh





Tìm hiểu nhà báo Phan khôi
Mò kim đáy biển, lên trời lấy sao.
Là người” đầu sỏ” phong trào
Nhân Văn- Giai Phẩm nên bao nhiêu điều
Liên quan đã bị thủ tiêu
Mộ phần chẳng biết lạc xiêu phương trời!



                           *


Phan Khôi vốn là người xứ Quảng (Bảo An-Điện Bàn-Quảng Nam)
Thân phụ ông : Phó bảng Phan Trân
Từ quan vì tận thâm tâm ( tri phủ Điện Khánh)
Khinh bỉ công sứ bất nhân lộng hành!





Thân mẫu: con Hà thành Tổng Đốc (Hoàng Diệu)
Giặc chiếm thành, thất lộc năm xưa (1882)
Truyền thống gia tộc kế thừa
Ảnh hưởng Nho học lại vừa Thái Tây.
Mười chín, đỗ Tú tài chữ Hán
Ra Hà thành nhập bạn Đông Kinh ( Đông Kinh Nghĩa Thục 1907)
Tư tưởng các cụ Châu Trinh,
Bội Châu... soi rọi giúp mình về sau.





Ông cổ vũ phong trào Thơ Mới
Vượt ra ngoài khuôn thói cũ xưa
“ Tình Già”... lớp trẻ say sưa ( Phụ nữ tân văn số ra ngày 10.3.1932.)
Tạo nên ảnh hưởng không ngờ về sau


Gây hứng khởi biết bao thi sĩ
Như thổi luồng sinh khí vào thơ
Cho nên mãi đến tận bây giờ
Khu rừng Thơ Mới vô bờ bông hoa.





Ông cũng còn một nhà tư tưởng
Chịu khá nhiều ảnh hưởng Âu Tây
Nam nữ bình đẳng sau này
Thua ông cả một chặng dài thời gian.





Còn là nhà Việt Nam ngữ học
Thể “ nhàn đàm” bạn đọc hoan nghênh
Trong nghề làm báo của mình
Ông tranh luận chẳng vị tình một ai.





Vì đông con miệt mài cơm áo (hai vợ, 10 con)
Mấy mươi năm xông xáo Bắc-Nam
Biệt danh “ ngự sử văn đàn”
Đối thoại học giới Bắc-Nam chẳng nề.





Chính sách Pháp ông chê sát ván
Với tham quan phê phán thẳng tay
“ Trung ngôn nghịch nhỉ ” xưa nay
Vì lời nói thẳng họa tai vào mình.





Được vào trường Đông kinh học việc
Tham gia viết Đăng Cổ thời này (Đăng Cổ tùng báo, Hà Nội 1907))
Thấy nguy Pháp đã ra tay
Lệnh đóng cửa báo, dẹp ngay nhà trường (tháng 11-1907)
Ông phải vội tìm đường ẩn náu
Trở về quê tranh đấu (với) đồng bào
Chống sưu, chống thuế phong trào ( Trung Kỳ dân biến 1908)
Bị tù đến bảy năm sau mới về. (1914)




Ra tù xong, ông đi Hà Nội
Viết Nam Phong, rồi chuyện bất bình
Với ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh
Vô viết Lục Tỉnh Tân Văn Sài Gòn.
Trần Chánh Chiếu (1867-1919) thời còn chủ bút
Với chủ trương “công cuộc Minh Tân”
“ Tác minh đức, tác tân dân”
Nghĩa: Đức thêm Sáng, người Dân Mới là!





Người Pháp đánh hơi ra liền ép
Vội vàng rút giấy phép... Tân Văn (Lục Tỉnh T.V.)
Ông ra Hà Nội kiếm ăn (1920)
Cho tờ Thực Nghiệp, Hữu Thanh...nhưng rồi
Báo đóng cửa, đến hồi trở lại
Đầu quân báo Bạn gái Tân Văn... ( Phụ Nữ T.V.Sài Gòn,1928)
Thần Chung, chẳng được bao năm
Di chuyển xoèn xoẹt nhọc nhằn biết bao!
Đời ông kể xiết sao lận đận
Của con người số phận không hên
Báo lại đóng cửa cho nên
Ông ra Hà Nội viết trên Thời Đàm.(Phụ nữ Th Đ,1931)





Cứ vô ra Sài Gòn - Hà Nội
Như chiếc thoi, lặn lội cất công
Sự nghiệp báo chí của ông
Con tằm dẫu thác tơ lòng còn mang.





Vào Huế, tờ Tràng An cộng tác (1936)
Rồi chính mình gánh vác Sông Hương
Lần đầu tự lực đảm đương ( 1-8-1936)
Gia đình chung sức khuyếch trương báo nầy.





Non 8 tháng, sang tay kẻ khác (27-3-1937)
Phan Đăng Lưu cùng các bạn ông
Sông Hương Tục bản làm xong (19-6-1937 )
Nhiệm vụ Cách mạng giao trong thời này. (1945)





Vô Sài gòn làm thầy dạy học
Viết văn để tiếp tục mưu sinh
45, chính phủ Việt Minh
Được Hồ Chủ tịch đích danh cho mời





Lúc Tổ quốc gặp thời nguy biến
Ông đã theo kháng chiến 9 năm
Văn hóa phục vụ nhân dân
Như bao nghệ sĩ nghệ nhân cùng thời.





Lúc hòa bình đến hồi lập lại (1954)
Ông trở về sống tại thủ đô ( Hà Nội)
Cuối cùng ông đã dính vô (1956 -58)
Nhân Văn - Giai phẩm. Ô hô đời tàn!





Ông bị cấm hết đàng viết lách
Thuở nhà Tần đốt sách chôn nho
Dưới thời đại của cụ Hồ
Đòi hỏi Dân Chủ - Tự Do...chôn mình!





Nguyễn Văn Linh thật tình chí lý: (Tổng bí thư đảng CSVN)
Hãy cứu mình chớ ỷ vào ai
Trời xa lại chẳng có tai
Dù kêu khản cổ cũng hoài công thôi!





Cụ Phan Khôi qua đời lặng lẽ (1959)
Vụ Nhân Văn mới mẻ biết bao
Cường quyền đang để mắt vào
Vợ con chẳng dám khóc gào huống chi!





Ông đã chết bởi vì ganh ghét
Những trí thức trước hết phải quỳ
Trước lòng thù hận ngu si
Mặc cảm ít học trước khi gặp thời.





Hãy nhìn lại những người lãnh đạo
Từ ông Hồ đến lão Trường Chinh
Duẩn, Đồng,Thọ,Thắng, Lành*,Trinh....(*Tố Hữu)
Mấy ai học hết chương trình phổ thông?





Nên bọn họ trong lòng căm tức
Kẻ học cao trí thức thành danh
Đến lúc có dịp phải hành
Không tội hóa có, nhỏ thành tội to.




Trong Việt sử đem so cũng thấy
Cụ Ức Trai chuyện ấy giống y
Cái án tam tộc tru di
Vì tội bác học nên chi phải trừ!




Dù trăm năm ai người chẳng chết
Nhưng chết đâu đã hết mọi điều
Tiếng tốt để hậu thế nêu
Tiếng ác thiên hạ sẽ bêu rếu hoài./.




VỤ ÁN NHÂN VĂN VÀ GIAI PHẨM

(1956-1960)



Về vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm
Đã từng gây tán đởm bao người
Những nhà trí thức đương thời
Lãnh vực sáng tác đã đòi tự do.



“ Văn nghệ trả cho văn nghệ sĩ ” ( Trần Dần)
Nới tay việc quản lý văn chương
Đạo đạt lên với trung ương
Tự do dân chủ mở đường cho dân!



Lúc kháng chiến ta cần thắng giặc
Thì chỉ huy sáng tác là cần
Nhằm để vận động toàn dân
Ngay đến mạng sống bản thân chẳng từ



Nhưng nước nhà bây giờ Độc Lập
Vì Tự Do - Hạnh Phúc thiết thân
Chính quyền và cả người dân
Tự Do- Dân Chủ phải cần dựng xây.



Mới chỉ đây trào lưu tư tưởng
Chưa tạo nên ảnh hưởng gì nhiều
Cũng như là gióng tiếng kêu
Sau vụ Cải Cách tiêu điều khắp nơi.



Tờ Nhân Văn Phan Khôi chủ nhiệm
Là cơ quan ngôn luận nhóm này
Nhân Văn đã xác định ngay
Trong số ra mắt cái ngày đầu tiên ( Nhân Văn số 1)



Chịu đặt dưới uy quyền của đảng
Đóng góp trong giới hạn phần mình
Văn Hóa - Xã Hội - Nhân sinh
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin...dẫn đường.



Miền Bắc khi hậu phương ổn định
Sẽ mở đường thôn tính Miền Nam
Để mà thống nhất giang san
Ý nguyện của Đảng cũng toàn lòng dân!



Muốn như thế thì cần cởi mở
Một phần nào dân chủ - tự do...

Tạp chí Giai Phẩm thì do
Hoàng Cầm - Lê Đạt vai trò chủ trương.



Việc xuất bản thất thường, bất định
Giai Phẩm Xuân xuất hiện số đầu (1956)
Được thêm ba số về sau
Thì đã có lệnh tịch thâu ngay liền.



Nhân Văn chỉ được nguyên năm mống
Cũng chấm dứt mạng sống như nhau

Nhân Văn - Giai Phẩm về sau
Những kẻ liên hệ ôm nhau ra tòa.



Người tội nhẹ xuyên qua “cải tạo”( Văn Cao,Nguyễn Huy Tưởng, )
Kẻ khai trừ bỏ đạo văn chương ( Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường...)
Nhiều năm ăn ngủ khám đường (Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, Lê Nguyên Chí)
Người thì đày tận biên cương lâu ngày. ( Nguyễn Hữu Đan, Thuỵ An)



Người nặng nhất vụ này là chính
Nguyễn Hữu Đang, xính vính một thời
15 năm giam giữ, là người
Chẳng biết thế giới bên ngoài ra sao! (thời gian Mỹ ném bom miền Bắc)



*


Đường cách mạng dự vào rất sớm
Năm 30, bị tóm, ra tòa (1930)
Nhưng vì nhỏ tuổi được tha (sinh 1913, mới 17 tuổi)
Lên Hà Nội học, tham gia phong trào ( Mặt trận Dân chủ Đông Dương)

Lê Hồng Phong dựa vào nghị quyết

Mà ông ta quán triệt từ Nga ( Đại hội 7, tháng 7-1935 tại Mạc Tư Khoa)
Về đến Thượng Hải đề ra
Đường lối, phương pháp để mà đấu tranh.



Nguyễn Hữu Đang (1913-2007)



Mặt trận được lập thành từ đó ( Dân chủ Đông Dương,1936-39)
Đòi tự do cơm áo hòa bình
Dùng mọi hình thức đấu tranh
Miễn sao đạt mục đích mình đặt ra.



(Mầm độc tài xem ra đã ló
Lúc đấu tranh đòi có tự do
Chính quyền nắm được thì lo
Tiêu diệt mầm mống Tự-Do. Khôi hài!)



Đang, hoạt động công khai mặt nổi ( Nguyễn Hữu Đang)
Ở tại ngay Hà Nội, chính nhờ
Biên tập các báo bấy giờ ( Thời Báo, Ngày Nay, Tin Tức...)
Trở thành quen biết thân, sơ nhiều người.



Lúc đảng phải tạm thời bí mật (1939-45)
Ông phụ trách trí vận đảng nầy
Truyền bá Quốc ngữ tiếp tay
Văn hóa cứu quốc hội này tham gia.(1943)




Dịp Đại hội Giáo khoa ...toàn quốc (1944)
Làm chủ trì, Pháp bắt đem giam

Tháng Tám-Một Chín Bốn Lăm ( 8-1945)
Đã được hội Nghị Quốc dân... Tân Trào


Bầu ông vào Ủy ban Dân tộc ( Ủy ban Dân tộc Giải phóng Trung ương)
Gồm những tay gộc tại trung ương ( 15 ủy viên)
Truyền lệnh đến các địa phuơng
Chuẩn bị cướp lấy chính quyền về tay.



Ông một thời cánh tay đắc lực
Được chính Hồ chủ tịch đích danh
Giao việc gấp rút hoàn thành
Ngày lễ Độc Lập tiến hành khẩn trương.( Ba Đình, 2-9-1945)



Ông vận dụng mọi phương tiện có
Quả thật tình khó ló cái khôn
Chỉ trong vỏn vẹn bốn hôm
Lễ đài lịch sử thật xôm xong liền!



(Nhưng kỷ lục vô tiền khoáng hậu
Dựng khán đài chưa đậu một đêm
Cao 15 mét dựng nên
Là Huỳnh Tấn Phát...xếp trên Đang nhiều!)



Thời kháng chiến giữ nhiều chức vụ
Từ Bình dân học vụ Thanh tra (1949-54)
Tuần báo Văn nghệ chuyển qua (1954-58)
Cộng tác Giai Phẩm với là Nhân Văn.



Là nguyên cớ gây phần hoạn nạn
Vì chủ trương nới hạn để cho
Văn nghệ, báo chí... tự do
Đề cao đóng góp vai trò nhân dân.



Vì lãnh đạo Nhân Văn-Giai Phẩm
Bị tội danh “ phản Đảng”, “ đầu cơ”
15 năm lãnh án bất ngờ (1960)
Giam chung cùng trại, bấy giờ... Thụy An (Lưu Thị Yến)



Tại núi rừng Hà Giang nước độc
Là giang sơn các tộc miền cao
Mông, Tày, Nùng, Việt và Dao
Đến lúc đại xá nhờ vào 73 (1973, Hiệp định Paris)



Chuyện ông Đang nói ra chưa hết
15 năm không chết trong tù
Được hưởng “đại xá” mặc dù (1973)
5 năm quản chế, mịt mù tương lai.



Không con vợ, chẳng ai dám chứa
Chính thân mình nương tựa bản thân
Trải qua một cuộc phong trần
Thể xác tàn tạ, tinh thần tổn thương.




Cái ăn thì thường là ...cóc, nhái
Chỗ ngủ thì ké chái nhà người
Ở tuổi gần đất xa trời
Đúng nghĩa vô sản, xứng đời cố nông.



Tự tính liệu nơi ông khi chết
Chỗ ở này, gắng lết không xa
Đằng sau cái khóm tre già
Có sẵn hố nhỏ vừa ra một người. ( theo Phùng Quán)



Là phần mộ cho ngươi “phản đảng”
“ kẻ đầu cơ cách mạng” cuối đời
Cũng là “đồng chí” một thời
Kẻ trong lăng lớn, kẻ vùi đồng hoang!

*
Bỗng đời ông hoàn toàn thay đổi
Kíp phong trào “ Đổi Mới” xảy ra (1986)
Minh oan, còn được gọi là:
“ Lão thành cách mạng” cấp nhà, hưởng hưu!



Lại phong lưu, mặc dù hơi muộn
Hơn nhiều người chết uổng chết oan
Ông chết, tươm tất lễ tang (2007)
Thi hài hỏa táng, về làng quê xưa.



Có đồng chí tiễn đưa linh cửu
Hẳn linh hồn an ủi biết bao
Nhưng mà trái khuấy làm sao
Cộng sản ông có tin vào tâm linh?

 


Phiên tòa tại Hà Nội (19/01/1960) xét xử vụ Nhân Văn Giai Phẩm.
Từ trái sang phải: Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Thuỵ An,
Phan Tại và Lê Nguyên Chí.
(Ảnh tư liệu : DR)



Kết quả tuyên án như sau:



Nguyễn Hữu Đang 15 năm tù giam, 5 năm quả chế sau khi ra tù.
Lưu Thị Yến tức Thụy An 15 năm tù giam, 5 năm quản chế sau khi ra tù,
Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức 10 năm tù giam, 5 năm quản chế sau khi ra tù.
Phan Tại 6 năm tù giam, 3 năm quản chế.
Lê Nguyên Chí 5 năm tù giam, 3 năm quản chế.





NHÀ VĂN NỮ: THỤY AN
(1916-1989)




Nói về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm
Chắc có sự nhầm lẫn sao đây
Thụy An bỗng bị vạ lây
Tòa án đã quá nặng tay với bà
(15 năm tù)



Bà tên thật là Lưu Thị Yến
Tuổi 13 có tiếng về thơ
Đăng lên tạp chí bấy giờ (Nam Phong)
16, được thưởng giải thơ triều đình
(Huế,1932).



Bà từng qua chuyện tình thơ mộng
Tuổi học trò rung động yêu đương
Với ông thầy giáo vẫn thường
Đến nhà kèm dạy văn chương hằng ngày.



Ông giáo kèm sau này vinh dự
Trở nên nhà quân sự tài danh
Tiếc thay đôi lứa không thành
Chàng theo lý tưởng, nàng đành sang ngang.



*


(Năm ấy xuân vừa mười sáu
Mộng trinh bừng nở má tơ
Môi đào cười rung mắt biếc
Xôn xao lắm gã học trò


….


Thôi nhe, ừ em về bên ấy
Mỏi rồi, chơi cuộc hú tim
Đã rẽ đôi giòng lý tưởng
Hương xưa: ngọc đắm châu chìm
Sao lại mùa Thu -
Nguyên Quy-tức Thụy An)



*


Câu chuyện bà Thụy An, bí ẩn
Vụ Nhân Văn tuy chẳng tham gia
Chỉ do quen biết mà ra
Nhưng cũng đủ để cho tòa nặng tay.
Cho đến nay chuyện này ít biết
Những nạn nhân, hầu hết qua đời
Kẻ buộc tội cũng chết rồi
Làm cho người đọc bồi hồi chuyện qua.



Lưu Thị Yến vốn là quen biết (Thụy An)
Không tham gia hoặc viết lách gì ( cho Nhân Văn- Giai Phẩm)
Dù từng chủ nhiệm một thì ( Đàn Bà Mới, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ Nữ)
Một tay phụ nữ gan lì hơn ai.



Từng nhảy dù như trai thời chiến
Là phóng viên xuất hiện chiến trường
Một người phụ nữ khác thường
Lập gia đình với Băng Dương, nhưng rồi ( Biệt hiệu của nhà văn Bùi Nhung)
Ly thân, sống cuộc đời xuôi ngược (1949)
Cuộc tình sau chẳng được bao ngày
Ông Đỗ Đình Đạo không may

Bị chết đột ngột, đến nay còn ngờ!
( ngờ bị bà đầu độc)



Bà bị bắt, đợi chờ xét xử ( vụ Nhân Văn)
Tuy là không tham dự phong trào
Hữu Đang, Lê Đạt... cùng nhau

Phủ nhận bà đã dự vào nhóm ông.



Nhưng một điều cũng không chối cãi
Bà quen thân hết thảy... Nhân Văn
Phan Khôi, Lê Đạt, Trần Dần,

Hữu Đang, Phùng Quán, Hoàng Cầm...chẳng xa.



Là bằng chứng để toà buộc tội: ( Bàng sĩ Nguyên và Xuân Dung)
“Gián điệp” địch cài lại nơi đây
“Phù thủy xảo quyệt” cao tay

“Như vắt thấy máu” là ngay bám vào

Là “rắn, rít” chứa bao nọc độc
Đợi thời cơ tức tốc phun ra
Mạt sát chế độ của “ ta”

Bằng những lời lẽ xấu xa nhất đời!



Bị bôi nhọ toàn lời cay độc
15 năm giam ngục Hà Giang (1960)
Cùng với “đồng phạm” Hữu Đang
Thật là quái đản, hai đàng khác xa!



Đến một chín bảy ba (1973) mới được
Theo tinh thần hiệp ước Paris
Thả tù chính trị tức thì
Những người giam giữ bởi vì chiến tranh.



Bà đã chọn Sài thành để ở
Nhưng than ôi cái nợ còn vương
75, lại đến cùng đường
Sài Gòn sụp đổ, vô phương vãn hồi.



Bà xa lánh cuộc đời bể khổ
Tìm bình an tiếng mõ câu kinh (1987)
Danh tài cũng kiếp phù sinh
Bà mất lúc tuổi của mình bảy ba. (1989)



Nay những kẻ gây ra oan khốc
Bao cuộc đời tang tóc thương đau
Cũng đã chết hết còn đâu
Cháu con của họ chia nhau tiếng đời!


( còn tiếp)