Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Trăng Sông Trà, Khúc Ca Bi Tráng

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Trăng Sông Trà, Khúc Ca Bi Tráng

In PDF.





(Trích Ðốt Lò Hương Cũ)                              
                         

Chu Thần Cao Bá Quát (1808-1855) là một kỳ tài trong nền Văn học Việt Nam đầu thế kỷ thứ 19. Là một nhà thơ đầy bản lãnh. Qua một số ít thơ văn của ông còn lưu truyền cho hậu thế, ta thâý rất rõ lòng tin của ông vào ý chí, vào tài năng của chính mình. 21 liên biền ngẫu Tài tử đa cùng phú đã soi rọi rất rõ lòng tin của ông vào chính con người của mình. Ông tin rằng ông có thể thay đổi đuợc chính cuộc đời của mình, mặc dù đang sống duới một chế độ Quân chủ hà khắc của triều đinh nhà Nguyễn.



Tôi nói “một số ít thơ văn” là điều đáng để chúng ta suy ngẫm và tìm hiểu. Vì thực ra, sự nghiệp văn chương của Cao Bá Quát rất đồ sộ. Nhưng vì là khắc tinh của triều đình lúc ấy, đa số tác phẩm của ông đã bị triều đình tịch thâu và thiêu hủy. Số tác phẩm còn lại, thân tộc và bằng hữu sợ bị liên lụy cũng không dám cất giữ nhiều vì ông là chủ soái trong âm mưu lật đổ triều đinh nhà Nguyễn năm 1854. Tổ chức chống đối với chiêu bài phù Lê đã không duy trì đuợc sức kháng cự lâu dài. Chỉ hơn nửa năm, Nguyễn triều đã tiêu diệt phong trào khởi nghĩa, giết chết Cao Bá Quát và thê thảm hơn: tru di tam tộc giòng họ Cao. Triều đình đã trút cơn thịnh nộ tàn độc lên trái tim đầy khát vọng đổi mới của nhà thơ lúc tuổi đời vừa tròn bốn mươi bảy (47).


Cũng từ lý do đó, văn thơ của Chu Thần chỉ còn lưu giữ cho hậu thế trên duới một ngàn bài cả chữ Hán lẫn chữ Nôm trong đó đa phần là Hán văn.  Ðối với văn học sử Việt Nam, đây là một sự mất mát vô cùng to lớn.
   
Thơ Cao Bá Quát thể hiện sắc thái độc đáo, bay bỗng và vô cùng sinh động trong dòng thơ văn Hán Nôm của Văn học Việt Nam. Tư tuởng khoáng đạt của ông đã bay vào thi ca, vuợt thoát những định kiến nhỏ nhen, những lối mòn thấp bé. Trên hành trình thăng hoa đó, thơ của ông đã xô đổ những khuôn sáo tầm thuờng để vươn đến tầm cao vời vợi và trong sáng hơn. Vũ trụ trong thi ca của Cao Bá Quát là một vũ trụ sinh động nhịp nhàng. Thiên nhiên trong thi ca của Chu Thần vô cùng rộng lớn và trở thành tri âm, tri kỷ với nhà thơ. Vì thế ta không ngạc nhiên khi thấy ý thơ của ông đã chắp cánh bay cao, hòa vào sông núi biển rừng Việt Nam bằng hơi thở nồng ấm, bằng trái tim khát vọng đổi mới.



Với riêng Chu Thần, thiên nhiên là một tri kỷ lớn nhất của đời ông. Thiên nhiên hòa nhập vào ông nhẹ nhàng như một cành mai trắng mộng theo gió xuân về. Nồng ấm như chén ruợu tiễn bạn tri âm trong một đêm thu trăng sáng trên giòng sông loáng bạc. Thiết tha như lòng mong nhớ của thiếu phụ chờ đợi chinh phu trong một đêm cuối năm gió mưa vần vũ ngoài trời. Ngọt ngào như tình bằng hữu một đời không dễ tìm gặp.
       
Thập tải luận giao cầu cổ kiếm.
Nhất sinh đề thủ bái mai hoa .



Ôi ! Trong chốn nhân gian mịt mờ sương khói, muời năm dài đi tìm bạn tri âm khó như đi tìm thanh kiếm báu. Một đời tài

hoa như Chu Thần chỉ chịu lụy thân bái phục đóa mai vàng mong manh, tinh khiết giữa gió xuân. Tính lãng mạn và bi tráng trong thơ văn Chu Thần rất dễ tìm gặp trong những bài ông đề cập đến vẻ đẹp của thiên nhiên và thân phận con người. Ông có nhiều bài thơ tuyệt hay khi đề cập đến bằng hữu và gia đình. Không phải vô tình mà một vị vua nổi tiếng uyên bác về văn chương của triều đình nhà Nguyễn lúc ấy đã phải thốt lên lời khen ngợi biệt tài văn chương của ông. Mặc dù vua không thích ông và một số quan đại thần trong triều đình cũng rất đố kỵ với cuồng sĩ họ Cao



Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán



Nhưng định mệnh là một trò chơi trớ trêu của tạo hóa. “Chữ tài liền với chữ tai một vần” ( Kiều- Nguyễn Du ). Cũng vì một

chữ tài mà tai họa đã đuổi theo ông suốt cả cuộc đời. Cuộc đọ sức giữa tài và tai đã diễn biến không khoan nhuợng và

đầy kịch tính. Khát vọng và hoài bảo của kẻ sĩ đã không còn nơi dung thân vì vàng thau đã lẫn lộn giữa nhung lụa và dối

gian. Cuối cùng son vàng đã tả tơi và một kẽ sĩ cô đơn như Chu Thần không thể vuợt thoát đuợc con thuyền mệnh số. Ông đã trả giá cho chữ “tài” bằng cái chết thê thảm của chính mình và của cả ba họ dòng tộc. Một vì sao tắt liệm giữa tuổi thanh xuân, tài mệnh tương đố là một điều có thực.



Có một chi tiết khá thú vị mà tôi nghĩ là đã dự phần quan trọng vào tiến trình phát triển tư tưởng đổi mới xã hội, canh tân đất
nước trong tư duy của Cao Bá Quát. Tháng 8 năm 1841, được triều đình cử làm sơ khảo trường thi. Thấy một số bài thi của sĩ tử rất hay nhưng bị lỗi phạm húy Hoàng tộc. Thương tiếc cho nhân tài của đất nước, ông cùng một người bạn cả gan sửa lỗi dùm họ bằng cách dùng son hòa với muội đèn để sửa lại hoặc bôi bỏ những chữ phạm húy. Việc làm bị bại lộ.

Người bạn bị bắt vào ngục không chịu nổi cực hình tra khảo, đã cung khai sự việc và trút tội chủ mưu cho họ Cao. Cao Bá

Quát bị triều đình kết tội khi quân bằng bản án tử hình ( xử chém ).



Cũng may, Vua lúc ấy là người sính văn chương, yêu kẻ sĩ nên đã tha tội cho Cao Bá Quát nhưng buộc ông phải đi công

cán cùng phái bộ ngoại giao sang các nước lân bang. Đi xa, mở rộng tầm nhìn. Ông so sánh và nhận thức được sự quan

trọng trong việc canh tân và phát triển đất nước. Cơ hội đó về sau đã thúc đẩy tư duy đổi mới của ông thành hành động

chiêu binh mãi mã chống lại triều đình. Tiếc thay, tuyệt chiêu Côn Sơn Hành đã không thắng được mệnh số và không xóa

được ván cờ lịch sử giai đoạn đó. Ván cờ đã xếp lại như cũ sau cái chết của Cao Chu Thần.



Từ sau mùa Xuân 1852, Cao Bá Quát không còn đuợc thuờng xuyên ở lại Kinh Ðô để xuớng họa thơ văn với các danh sĩ

đất Thần kinh. Thi sĩ phài thường xuyên đi công cán nhiều nơi. Nhất là khoảng thời gian từ 1841 đến 1847, giai đoạn ông bị thất sủng vì mang tội khi quân. Nhưng cũng chính nhờ vậy, ông đã kết giao đuợc nhiều bằng hữu.  Bầu ruợu và bằng hữu, vầng trăng và giòng sông, mây trời và mùa thu, lưu đày và quê nhà. Trong khoảng thời gian nầy, nhà thơ của chúng ta sống khắc khoải giữa mộng và thực. Thơ ông càng vút cao hơn, càng bay xa hơn như chim vạc đuợc chắp thêm cánh, như én liệng trong gió mùa xuân, đắm đuối giữa trời cao như chờ đợi trăng về từ cuối nẽo …



Tôi xin phép được diễn đạt ý thơ của Cao Bá Quát qua bài
“Trà Giang Thu Nguyệt Ca”



Ðất trời đang vào thu và lá vàng bay rất chậm trong gió mùa buồn hiu hắt. Trăng mùa thu đã về trên sông Trà lộng gió phù vân. Trăng thu trên sông nuớc -  Một hình ảnh tuyệt vời cho những cuộc tình lãng đãng mộng mơ. Nhưng thu với trăng cũng là ẩn số muôn đời cho những biệt ly nghìn trùng xa cách.. Nó là nốt khởi đầu cho những cung nhạc buồn  muôn thuở và kết thúc cuộc từ ly bằng nỗi nhớ trở về.
    
Trăng sông Trà đêm nay sáng quá. Ánh trăng thu như muốn soi sáng hết biển trời sông núi. Màu trăng bàng bạc như vương vấn mối tình non nuớc. Như ngậm ngùi lệ sầu chia phôi, bồi hồi cách trở ngàn dặm quan san. Ôi ! Màu trăng huyền dịu như ẩn chứa những bi lụy của trần gian thế tục. Giòng sông bạc như gợi nhớ xa xôi những mùa vàng đã mất.



Ta muốn vớt trăng trong giòng sông loáng bạc để đuợc mời trăng cạn chén ruợu đầy. Giò từ sông nuớc đã thổi trăng vào

ruợu. Có phải ta đang say trong giấc mộng huyền hoặc vì trong ruợu đã có trăng và trong trăng đang có rượu. Trong ánh

sáng huyền ảo của trăng thu trên sông Trà lộng gió. Trăng đang huyền ảo buớc vào ly, nhảy vũ khúc nghê thuờng trong sóng ruợu nhấp nhô. Duờng như trăng đã nhập vào cung nguyệt lạnh và mỗi giọt rơi tàn như lệ ứa màu trăng trong tiếng đàn thổn thức. Ta muốn ngậm hết vầng trăng rạn vỡ trong ly ruợu tràn đầy như ngậm hết thương đau những mắt lệ biệt ly trong cuộc đời dâu bể. Nhưng còn gì nữa đâu vì trăng đã lặn tàn về cuối nẽo trời xa, và tiếng nhạc cũng câm lặng theo gió mùa trăng nuớc.



Ta chợt rùng mình, nhìn quanh quất chỉ còn thấy thấp thoáng bóng nguời dọc ngang lung linh mờ ảo như gợi nhớ tiếc

thương những mùa vàng xưa cũ. Có phải trăng đã lạnh, mùa đã tàn cho một thời đã hết .



Ta hững hờ đặt ly ruợu về chỗ cũ - Ô kìa - Chén ruợu long lanh tuởng chừng đã tắt liệm bỗng loang loáng và đầy ắp bóng

trăng thu tự bao giờ. Trăng lại về ngân trầm trong khúc nhạc như muốn cùng ta đi đến cuối cuộc viễn trình. Hình như ta cũng giống như Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm thất hiền thuở xa xưa, đi tìm trăng cuối trời tận đất. Nhưng vó ngựa chỉ đuổi theo cõi mộng tuởng xa mờ. Một lần đi là một lần trở về với hoang lạnh cô đơn.



Gió mùa thu đã len lén trở về trên giang đầu vọng nguyệt, trên long đầu hí thủy của sông Trà loáng bạc. Ta muốn mời trăng cùng ta cạn chén ly bôi để tiển đưa bằng hữu cùa ta, ngày mai sẽ lên đuờng từ Ðà Nẵng vào nhận nhiệm sở tận phương Nam. Trăng ơi, có thấu tình ta. Mỗi lần tiển bạn vào ngàn dặm quan san là một lần thổn thức với khúc hát biệt ly vì nghìn trùng cách trở .
   
Ðêm đã về tự trời cao. Gió vàng phương xa đã thổi về hiu hắt buốt lạnh xương da và ngậm ngùi trắng đường sương phủ.

Chốn nhân gian hội ngộ tương phùng là điều mơ uớc. Nhưng giữa cuộc bể dâu, có biết đâu, một lần ra đi là không hẹn

buổi trở về. Trăng sông Trà, thôi hãy uống cho say tình trăng nuớc, cho quên đi nổi sầu ly biệt chia phôi.



Trăng sông Trà, trăng ngời ngời lồng lộng soi mình trên giòng sông loáng bạc như một tấm kiếng phản chiếu cả giải ngân

hà lung linh tự trời cao. Nuớc vẫn trôi vô tình về biển cả. Mây vẫn bay lạnh lùng vào phương trời vô định. Thôi đừng dùng

dằng tiễn biệt với phân ly. Truợng phu chống kiếm đi là đi thẳng, không vấn vương nhỏ lệ nữ sầu .



***

Trên đây chỉ là đoạn văn tôi viết để giải ý bài thơ “Trà Giang Thu Nguyệt Ca” mà Chu Thần Cao Bá Quát đã cảm hứng sáng
tác trong một đêm trăng sáng mùa Thu ở Long Ðầu Hí Thủy, sát bên bờ sông Trà ở Quảng Ngãi. Bài thơ tiễn bạn như một khúc ca bi tráng bay lãng đang giữa mây trời sông núi. Bài thơ nhắc ta gợi nhớ hình ảnh bi hùng những chinh phu thuở trước.



Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.

(Chinh Phụ Ngâm. Đặng Trần Côn. Bản dịch quốc âm của Đoàn thị Điểm)



Tôi trích đăng nguyên văn bài thơ của tác giả và bài thơ mà tôi đã dịch từ hơn muời năm truớc. Tôi đã sửa đi sửa lại bản

dịch nhiều lần mà vẫn thấy còn thiếu sót, không diễn tả được hết tâm sự của nhà thơ qua ý tưởng cao vợi của ông.


Đành xin tạ lỗi với người xưa.




TRÀ GIANG THU NGUYỆT CA
(Nguyên tác Cao Bá Quát)




Trà giang nguyệt.
Kim dạ vị thùy thanh !
Quan sơn vạn lý hạo nhất sắc.
Hà xứ bất hệ ly nhân tình
Cử bôi thí yêu nguyệt
Nguyệt nhập bôi trung hành
Hảm bôi dục yết cánh phi khứ
Chỉ hữu nhân ảnh tương tung hoành
Dinh bôi thả phục trí
Hựu kiến cô quang sinh
Vấn quân hà sự luyến luyến bất nhẫn xả
Ngã thị Trúc Lâm cùng đồ chi Bộ binh
Giang đầu thử tịch phùng thu tiết
Tửu mãn tu khuynh vị quân thuyết
Ðà môn cựu lữ Tồn Chân ông
Cần hải minh tiên hiểu tương biệt
Tạc dạ kim phong há thiên khuyết
Bạch lộ thanh sương sảo xâm cốt
Nhân sinh hội ngộ an khả thuờng
Hữu tửu thả ẩm Trà giang nguyệt
Trà giang nguyệt
Như kính há ngân lưu
Truợng phu án kiếm khứ tiện khứ
Kỳ lộ vô vi nhi nữ sầu.




BÀI CA  TRĂNG SÔNG TRÀ
( Bản dịch Lê Tấn Dương)




Ðêm nay trăng nhuộm sông Trà,
Ánh trăng huyền hoặc nhạt nhòa đêm thâu.
Quan san muôn dặm một màu.
Làm sao ngăn đuợc lệ sầu chia phôi
Mời trăng nhập chén ly bôi,
Trăng vờn đáy cốc, bồi hồi hợp tan
Nhấp môi - Trăng bỗng lặn tàn,
Lung linh chỉ thấy dọc ngang bóng nguời

Hững hờ đặt chén đầy vơi,
Trăng vàng nhập lạnh như lời biệt ly
Luyến lưu tiễn biệt nguời đi ,
Trúc Lâm - Nguyễn Tịch phân kỳ từ đây .
Ðầu sông vào tiết thu gầy
Mời trăng uống cạn chén đầy chén vơi .
Tiễn nguời vào cõi mù khơi ,
Cần Giờ - Ðà Nẵng bằng lời chia xa .

Gió đêm buốt lạnh trăng tà.
Trắng đuờng sương phủ, nhạt nhòa tâm can.
Mơ gì hội ngộ nhân gian.
Uống đi ! Trăng đã vỡ tràn sông xa
Trăng sông Trà !  Trăng sông Trà !
Dưới sông trăng sáng như là tấm gương
Truợng phu chống kiếm lên đường ,
Ði là đi thẳng, đừng vương nữ sầu .




Olympia, Tây Bắc Hoa Kỳ
LêTấnDương