Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Hồi Ký: Đường Vào Cuộc Chiến

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Hồi Ký: Đường Vào Cuộc Chiến

In PDF.



(Thân tặng các bạn Khóa NT.2/CTCT/Đà Lạt)
Và chút ưu ái gửi đến cựu Thiếu tá Lưu Toàn Nghĩa (cựu TĐT của tôi), Chicago/Illinoise,
người đã cùng tôi chia sẻ những ngọt bùi cay đắng truớc đây,




Lời nói đầu:

Mấy hôm nay, trời đất miền TrungTây nước Mỹ (Colorado) tuy đã vào tháng hai, nhưng khí trời vẫn còn mang cái hơi băng giá của mùa đông. Thường trong thời điểm này chiếc áo bông là người bạn duy nhất cho tôi nguồn hơi ấm, thì năm nay tôi lại có thêm nguồn hơi ấm từ các bạn đồi 4648 ngày cũ gửi đến. Các bạn nhắc nhớ tôi cái khung cảnh nhộn nhịp, tưng bừng của ngày khóa Nguyễn Trải II ra trường 40 năm về trước. Các bạn khuyến khích mỗi anh em chúng tôi cống hiến cuộc hành trình của cá nhân cho Đại hội như là món quà nho nhỏ chung góp cho ngày trọng đại,19/02/2011 sắp tới đây. Tôi tuy là một con chim lạc bầy kể từ ngày rời tổ Mẹ nhưng cũng xin đóng góp chút quà nho nhỏ qua câu chuyện kể “Đường vào cuộc chiến của tôi,” Đành rằng làm việc này là đi ngược lại cái ý của quyển truyện ““Let That Day Go Away!” (Hãy để ngày đó lụi tàn!) là một quyển truyện mà tôi rất lấy làm đắc ý, ngay từ thời còn trong lứa tuổi trung học, luôn muốn lấy đó như lời nhắc nhở qúy báu , “quên quá khứ để vui với cái vui hiện tại!” Nhưng mỗi năm tháng hai về, tôi không thể quên cái ngày tôi thực sự bước chân vào cuộc chiến và để rồi từ đó, cuộc đời tôi chẳng khác nào bị cuốn theo giòng nước lũ, mất định hướng…. Và giờ đây ngỡ ngàng khi thấy nơi tôi đang sống không là nơi tôi sinh ra và lớn lên, hàng xóm của tôi không là những người thân quen da vàng, tóc đen mà là những người rất xa lạ, xa lạ từ màu da, màu tóc, ngôn ngữ, và lối sống…!!! Tôi chợt nhớ mới ngày nào đây, “Gối tôi qùy giữa Vũ Đình Trường của Quân trường CTCT Đà Lạt, tay đưa lên về phía trước mặt và cất cao lời thề, “Sống Chết Cho Quê Hương!” Quê hương ngày xưa của tôi giờ còn chăng hay chỉ còn trong trí nhớ? Tôi phải làm gì để giữ vững lời thề đó? Và liệu rằng tôi có còn thì giờ và khả năng làm việc đó hay không??!!!



A/ Nhập Cuộc



Sau biến cố Tết Mậu Thân (1968), nơi các giảng đường của trường Đại học Khoa học, nói chung và phân khoa MPC của tôi, nói riêng thật là vắng vẻ đìu hiu! Phần lớn các sinh viên đều đã và đang lần lượt lên đường nhập ngũ. Thiểu số còn lại, phần cảm nhận sự buồn bã xâm chiếm tâm hồn vì thiếu vắng bạn bè, phần vì tình hình đất nước bất ổn, hướng tương lai mờ mịt, cùng cảm thấy chút hổ thẹn khi nghe một ai đó nhắc đến câu, “Quốc Gia hưng vong thất phu hữu trách.” Do đó mà không còn mấy ai thiết tha đến việc học hành! Tôi là một trong những sinh viên còn lại, thường ngày cũng cắp sách đến trường nhưng đầu óc lúc nào cũng trống rỗng, như ở chốn hư không, cứ mong ngày qua nhanh để đến cuối tuần ra bến Bạch Đằng thả hồn theo mây nước. Và một hôm, đang lang thang thì gặp Tuất (Nguyễn Văn Tuất ở Thị Nghè, người bạn học cùng lớp MPC1 với tôi.)



Tuất vỗ vai tôi hỏi, “ Sao, mày tính sao?”


Tôi không hiểu ý Tuất nên hỏi lại, “Sao, có nghĩa là sao? Ý mày tao không hiểu!”


“Có gì mà không hiểu! Tình hình như thế này phải tính đường ‘dzọt’ trước, không lẽ để họ lấy rọ xúc rồi đem thảy vô Thủ Đức à?” Tuất nói.


“Tao cũng có nghĩ đến điều đó, nên tao đã nộp đơn thi vào khóa III Biên Tập Viên…” Tôi chưa nói dứt câu thì Tuất cắt lời tôi và nói.


“Cảnh Sát đó à? “Dùi cui” làm chuẩn! Bộ mày thích gia nhập đoàn Dùi cui? Mày không sợ các em gái hậu phương chê sao?!! Theo tao thì mày nên nộp đơn thi vào Đại học


CTCT/Đà lạt thì hơn dẫu rằng nó là một quân trường đúng nghĩa, nhưng chương trình huấn luyện của nó phản phất một chút gì dễ nhớ dễ thương (ý Tuất nói có dịp ngồi giảng đường để tưởng nhớ cái thủa áo thư sinh.) Thêm vào đó được học tại Đà lạt, xứ sương mù thơ mộng, có các Sơn nữ Phà Ca ‘má đỏ môi hồng’ mày không thích sao?”


Tôi nêu ra ý kiến, “Theo tao được biết, các quân trường như Võ bị Đà Lạt hàng năm đều có mở khóa tuyển sinh, nhưng họ cũng phải đợi sau kỳ thi tú tài toàn!”


Như đoán được ý tôi ở một góc nào đó, Tuất nhanh nhẩu nói ngay, “Kỳ này đặc biệt mà mày! Tao đã đến Biệt Khu Thủ Đô lấy đơn rồi mày đừng cãi. Tao có lấy thêm một cái đơn cho mày, nếu mày muốn mai vào lớp tao sẽ đưa cho.”



Thế rồi ngày thi cũng đến, hai đứa cùng trúng tuyển. Tuất và tôi được gọi lên đường nhập ngũ. Gặp nhau tại trung tâm III/ TMNN thật là vui, và vui nhất là cái đêm chúng tôi bước vào khám sức khỏe Tổng quát (tôi đã kể cái vui đêm này qua bài viết “Bộ Ba Của Tôi” đã đăng trong Đặc san Ức Trai, hè năm 2006) thế nhưng niềm vui đó vụt tắt ngay sau khi chúng tôi được đưa qua trại tiếp chuyển Nguyễn Tri Phương, nơi đây Tuất bị loại ra khỏi hàng ngũ các sinh viên chính thức được nhập khóa vì Tuất không đạt được chiều cao quy định. Tuất ở lại trại Nguyễn tri Phương, còn tôi tiếp tục theo các anh em được tuyển qua Quang Trung để thực tập làm quen với nếp sống của người lính mới. Thế rồi:



- Ba tháng Quang Trung nắng cháy, cát bụi mịt mù tô điểm da người qua đi,
- Hai năm Đà lạt sương mù, gió núi luyện tinh thần cũng tàn lụi.
- Ngày xuống núi cũng đến nơi,
- Mười lăm ngày nghỉ dưỡng sức cũng vụt biến,

- Hai mươi hai ngày chờ đợi nhận đơn vị cũng đã mãn hạn.



B/ Nhận Sự Vụ Lệnh (SVL)



Ngày ấy, bốn thằng tôi (Giao, Hoan, Hồng, Phò) dậy sớm, ăn điểm tâm qua loa rồi đến Khối CTCT / TKVL để nhận SVL về đơn vị, như lời dặn ngày hôm trước đó của vị thiếu tá Trưởng khối. Khi chúng tôi vừa tới cửa thì thấy ông đã có mặt ở đó từ bao giờ. Thấy chúng tôi, ông không cần chờ đợi nghi cách chào hỏi mà ông nói ngay, “SVL của các Thiếu úy đã có sẵn trước mặt tôi, tự do đến nhận và về trình diện đơn vị theo địa chỉ đã ghi trong giấy. Riêng Thiếu úy nào về LĐ.4/78 thì phải nán lại đây đợi đến khi nào có chuyến máy bay tiếp tế tôi sẽ gửi cho vào đơn vị.” Chúng tôi bước tới bàn giấy ông để nhận SVL của mình và rồi bước ra khỏi văn phòng Khối. Ra tới cổng TK thì Giao (Phạm Cô Giao) cất tiếng hỏi to, “Thằng nào về 4/78?”


“Ai trồng khoai đất này!” Tôi nhẹ giọng buồn bã trả lời Giao (vì ai trong chúng tôi đều biết LĐ. 4/78 rất ‘hắc ám’ từ vùng hoạt động cho tới tính tình người chỉ huy!)


“Mày hả? Chúc mừng mày! Mày về đó sẽ có cơ lên lon trước tụi tao.” Giao nhe răng cười.


“Sao mày không nói dễ lên bàn thờ hơn?” Lời nói tôi mang chút âm điệu mỉa mai chua xót!


Có lẽ Giao thấy chút hối hận trước lời đùa cợt của mình, nên Giao đến bên tôi, vỗ vai tôi mà nói, “Đùa giỡn tí cho mày vui đừng giận tao nhé. Hy vọng mọi chuyện tốt lành sẽ đến với mày.”


Hồng và Hoan sau đó cũng đến bắt tay từ giã tôi cùng lời chúc tương tự như vậy. Riêng Hoan, trước khi chia tay Hoan dặn tôi dù bất cứ giá nào cũng phải chờ có máy bay mới đi, tuyệt đối không nóng lòng mà dùng đường bộ hay đường thủy đến đơn vị là chuốc lấy sự khổ đau! Tôi không nói chỉ gật đầu cho Hoan vui.



Khi Giao, Hoan, Hồng đi rồi, tôi trở vào Khối hỏi có cách gì sớm về đơn vị? Thì ông thiếu tá Trưởng Khối dẫn tôi đến trước tấm bản đồ treo phía phải bàn giấy của ông và chỉ vào đó vị trí căn cứ Tiền phương của LĐ.4/78, đồng thời ông nói thêm hiện thời LĐ không có mặt tại nơi này mà đang hành quân trong vùng liên ranh Trà ôn / VL và Cầu kè / VB. Và sau cùng ông khuyên tôi nên chờ đợi hơn là ra đi ngay bây giờ, vì giả sử tôi có đến được tiền cứ cũng phải chờ cho đến khi ông LĐ Trưởng trở về. Mặc dù lời nói ông rất chí lý, nhưng tôi vẫn muốn ra đi ngay nên nài nỉ ông chỉ cho tôi con đường có thể. Ông ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi nói:


“Thôi được, nếu Thiếu úy quyết lòng ra đi tôi không cản, nhưng nếu có xảy ra chuyện gì đừng đổ lỗi cho tôi.”
Tôi vui vẻ nói với ông, “Thiếu tá an tâm, tôi sẽ không bao giờ...”


“Được, hãy lắng nghe cho kỹ,” ông nói, “Trước hết Thiếu úy phải đón xe qua Cần Thơ, rồi đến bến Ninh Kiều, theo tàu về Trà ôn, và rồi vào Chi khu Trà ôn nhờ họ xem có  phương tiện nào có thể đưa Thiếu úy đến Tích Thiện, Tích Thiện là nơi trú đóng của căn cứ tiền phương LĐ. Thôi Thiếu úy ra bến xe đi ngay đi kẻo muộn.” Tôi vội vã khoác Ba lô lên vai và hối hả ra đi, sau tiếng nói “cám ơn.”



C/ Đường về Đơn vị



Tôi đến bến Ninh kiều trễ chuyến tàu 10:00 giờ sáng, nên phải đợi đến chuyến:12:00 giờ trưa. Trong thời gian chờ đợi tôi rảo một vòng quanh bến Ninh kiều, hơi nuớc từ dòng sông Hậu bốc lên làm tâm hồn cảm thấy dễ chịu, phong cảnh tấp nập tàu thuyền qua lại làm mắt tôi cảm thấy vui vui. Và vui nhất là được làm quen với một cô gái vui tính, không những nàng cho biết cũng sẽ đến Trà Ôn cùng chuyến tàu 12:00 giờ với tôi, mà còn hứa khi tàu cặp bến Trà Ôn sẽ đưa tôi đến tận cổng Chi khu.



Tàu đến Trà ôn đúng 1:00 giờ chiều, cô gái đã lịch sự giữ lời hứa. Vào Chi khu, tôi tìm đến ban 5 nói ý định của mình đồng thời trưng bày tờ SVL làm bằng chứng. Ông Trung úy trưởng ban 5, Nguyễn Văn Bông, đưa tôi đến các ban liên hệ để biết sơ qua tình hình Địch, Bạn, và vấn đề mấu chốt liên quan “Lịch Tiếp Vận” để tôi có thể theo đó mà vào đơn vị. Kết quả cũng chẳng có gì sáng sủa hơn, nghĩa là tôi vẫn phải chờ! Lúc đó tôi thật bối rối vì không biết ăn đâu ở đâu trong những ngày chờ đợi. Tôi đâm ra hối hận, phải chi giờ này tôi còn ở Tiểu khu thì có Câu lạc bộ Sĩ quan không lo gì việc ăn và ngủ.!


Có lẽ Trung úy Bông đọc được trong mắt tôi những điều đó nên ông trấn an tôi bằng câu nói, “Thiếu úy đừng lo việc ăn và ở trong thời gian chờ đợi. Nếu Thiếu úy thiếu tìền thì tôi có thể nói bà xã tôi cho mượn, bà xã tôi có sạp bán vải ở đây, không đến nỗi nào không có đủ tiền cho Thiếu úy mượn. Còn nếu Thiếu úy không muốn mượn tiền thì tôi có thể nói ban 4/CK ứng cho Thiếu úy vài khẩu phần lương khô. Ngủ thì tối vào văn phòng tôi nghỉ đỡ! Sao, Thiếu úy tính sao?”


“Cám ơn Trung úy cho những lời đề nghị, tôi sẽ suy nghĩ về điều đó và sẽ cho Trung úy biết về quyết định của tôi trước giờ Trung úy rời nhiệm sở. Giờ thì Trung úy để tôi dạo một vòng chợ cho biết cảnh sinh hoạt ở nơi đây.” Tôi nói.


“Tốt,” ông nói, “Chúc Thiếu úy có những phút vui tươi trong lúc ngoạn cảnh quanh chợ Trà ôn và hẹn gặp lại Thiếu úy lúc 4:00 giờ chiều.” Nói xong ông quay đi, tôi cũng không thấy cần thiết nói gì hơn nữa, nên bước ra khỏi Chi khu và tiến vào khu buôn bán sầm uất của chợ. Vừa bước qua chỗ bán hoa tươi thì có một cô gái cất tiếng gọi các bạn cô, “Coi kìa, Thiếu úy ‘Ba-bi-lắc’ (hiệu sữa bột dành cho trẻ con) ngộ ghê bay ơi!” Nói xong, cô xổ một tràng cười thật là giòn giã. Các cô bạn nàng nhao nhao lên hỏi, “đâu đâu…??” Và bỗng một cô trong bọn họ lao ra chận đường tôi và hỏi, “Thế chiếc khăn xanh đeo ở cổ để làm gì Thiếu úy, phải chăng để lau mũi dãi lúc nó nhĩu nhão thập thò? Hi hi hi..!!!”


Tôi cảm thấy mặt, tai tôi nóng lên! Và tôi biết, tôi đang dẫm phải hang kiến lửa, nên không tỏ phản ứng gì chỉ cố lách qua cô gái tinh nghịch và bước nhanh ra khỏi nơi ấy, rồi hướng thẳng ra bến sông, chỗ ngồi đợi của khách đi tàu. Tôi chọn một cái bàn nhỏ, đặt cạnh mé sông ngồì xuống và rồi gọi một ly nước giải khát để uống. Nước mát của dừa tươi làm tôi tươi tỉnh lại và lại một lần nữa sóng nước của giòng Hậu Giang xóa một phần nào nỗi ưu tư đang chất chứa trong tôi.



Đang thả hồn theo trời nước mênh mông, bỗng tôi nghe tiếng nói ngọt ngào của một cô gái, “Thím Sáu, chút nữa cho cháu ‘quá giang’ về Tích Thiện với.” Tiếng ‘Tích Thiện’ khiến tôi đặc biệt chú ý, nên tôi quay lại tìm người vừa phát ra tiếng nói. Tôi không phải đảo mắt tìm đâu xa vì người ấy ngồi ngay phía sau tôi. Và tôi cảm thấy một tia hy vọng loé lên, nên đặc biệt chú ý mẫu đối thoại giữa người con gái với người đàn bà, được gọi là ‘thím Sáu.’


“Mày có chuyện gì mà cần về Tích Thiện hã con Cúc..cúc..Cúc kia?” Thím Sáu hỏi người con gái xin quá giang.


“Thím kỳ quá, cho hay không thì nói. Chuyện riêng tư, giữa chỗ đông người thím cũng phải thông cảm cho cháu chứ.” Cô gái miệng cười tươi đáp lại.


“Thôi được, ngồi chờ đó rồi tao sẽ trở lại.” Thím Sáu nói xong thì quay gót đi ngay.


Thím Sáu đi rồi tôi lân la đến gần cô gái, tên Cúc, hỏi vài câu bâng quơ làm quen với mục đích nhờ cô xin cho tôi được cùng về Tích Thiện trong chiều hôm đó.


“Cô C..ú..c…” Tôi mới nói có thế thì cô quay mặt lại nhìn tôi và nói, “Dạ, có chuyện gì vậy Thiếu úy?”
Tôi nở một nụ cười để chữa thẹn và nói, “Hồi nãy tôi nghe thím Sáu gọi cô là ‘Cúc..cúc..Cúc.’ Tôi không biết tại vì thím Sáu có tật nói cà lăm hay tên cô là “cúc-Cúc?”


Cô gái trả lời, “Thím Sáu giả bộ nói cà lăm là để trêu em đó. Tên em là ‘Thu-Cúc’ nhưng Thiếu úy cứ gọi em ‘Cúc’ là được rồi. Thú thật, má em rất yêu hoa Cúc và em được sinh ra trong mùa Thu nên má đặt tên em là ‘Thu-Cúc’, thế nhưng các ông anh họ của em thường chọc ghẹo em về cái tên mẹ đặt.”



“Vâng, tôi hiểu rồi! Thôi kể từ đây tôi gọi tên cô là Cúc vậy.” Tôi cười và nói, “ Và này Cúc, chút nữa Cúc có thể xin thím Sáu cho tôi cùng quá giang về Tích thiện với Cúc có được không?”


Cúc giật mình dẫy nẩy nói, “Ý không được đâu! Thiếu úy đi lỡ VC chận bắt thì chết.”


“Tôi không sợ chết, Cúc đừng lo!” Tôi ngại cô ta không chịu xin dùm nên nói bừa như vậy.


“Em nói ‘Chết’ có nghĩa là em và thím Sáu sẽ chết, vì khi đó sẽ bị Cảnh sát và An ninh Quân đội tra khảo thì làm sao sống được!” Cúc giải thích.


Nghe Cúc nói như vậy tôi cũng thấy ái ngại, không phải chỉ ái ngại sự an nguy cho chính tôi mà còn ái ngại cho hai người tôi vừa mới quen trong giây phút. Tôi gục đầu suy nghĩ và không hiểu cái hình ảnh của tôi lúc đó có tác động nào đối với tâm hồn cô gái mang tên Cúc mà nàng cũng cúi đầu im lặng như tôi! Một lúc sau… Cúc ngước mặt lên và nhìn thẳng vào mặt tôi hỏi, “Thiếu úy có mang theo áo quần dân sự không?”


Tôi nghĩ Cúc đã tìm ra giải pháp, nên không cần hỏi lý do mà chỉ trả lời ngắn gọn, “Có.”


“Vậy thì được! Để em tìm cách xin cho Thiếu úy đi chung với em khi thím Sáu trở lại.” Cúc nói vừa dứt câu thì thím Sáu ở đâu đó cũng vừa trờ tới. Có lẽ vì thế mà còn nghe được hai chữ ‘trở lại’ cuối câu nói của cô, nên thím hỏi cô nói cái gì ‘trở lại’ và nói với ai đó?


Cúc trả lời, “Cháu đang nói chuyện với ông Thiếu úy này, ổng cũng muốn nhờ cháu xin thím cho ổng về Tích Thiện chiều nay với.”


Thím Sáu giật mình, nói một câu giống y như câu nói của Cúc vừa mới nói với tôi cách đây vài phút, nhưng thím Sáu còn thể hiện sự quan tâm về hậu quả khốc liệt mà người thân của tôi sẽ nhận lãnh, nếu có sự việc xấu xảy ra cho tôi trên đường đi.


Nghe thím Sáu nói, Cúc nhoẻn miệng cười rồi trấn an Thím bằng một giọng nói ngọt ngào: “Thím yên tâm, ổng còn độc thân, chưa có vợ con gì cả. Hơn nữa ổng có mang theo quần áo dân sự, nếu cần bảo ổng thay quần áo thì VC khó nhận biết được, vì gương mặt ổng còn non choẹt, thím nhìn xem! Thêm vào đó, nếu thím cháu ta khởi hành ngay bây giờ thì đến ‘Vàm Bang-Chang’ chậm nhất là 4:00 giờ chiều, và giờ  đó thì chắc VC chưa dám ra lục soát tàu thuyền.”


Thím Sáu nhìn tôi, rồi nhìn Cúc,  rồi ngước mắt nhìn trời, nở  một nụ cười khó hiểu rồi nói: “Cô giỏi thật, mới mà đã nắm rõ lý lịch của người ta! Luận cứ của cô cũng nghe được lắm. Thôi tôi chìu cô cho cô hài lòng, nhưng trước tiên nên bảo ổng thay đồ dân sự đi đã.”



Tôi nghe thím Sáu đồng ý cho tôi đi, tôi mừng vô tả và thầm cảm ơn sự khôn khéo của Cúc đã làm xiêu lòng người chủ ghe. Tôi nói tiếng ‘Cám ơn’ thật nhẹ với thím Sáu, rồi lặng lẽ bước theo Cúc xuống thuyền. Vừa bước vào trong khoan có mái che thì Cúc bảo tôi dừng lại ở đó để thay bộ đồ lính tôi đang mặc, còn Cúc ra ngồi phía trước mũi thuyền. Tôi ngoan ngoãn làm theo lời Cúc bảo, chẳng khác gì một đứa em trai tuân lời chị cả của mình. Thay xong, tôi nằm dựa lưng vào thành thuyền để nghỉ, nghĩ đến Giao, Hoan, Hồng giờ này chắc đã ổn định rồi vì Giao chỉ cần mất 15 phút là tới Chi khu Minh Đức,  Hoan thì cũng không mất quá 35 phút tới Vũng liêm, còn Hồng thì hậu cứ LĐ. 4/79 ngay trong tỉnh lỵ, đâu đứa nào giờ này còn lênh đênh trên biển nước mênh mông! Càng nghĩ càng buồn cho số phận. Lỗi tại tôi hay của ai đây?!?! Tôi đang chìm trong suy nghĩ, thì tiếng của Cúc ở đầu thuyền vọng vào, “Thay quần áo xong chưa? Nếu xong rồi thì ra ngoài này nói chuyện cho vui chứ làm gì trong đó mà lâu dữ vậy?”


“Xong lâu rồi, nhưng chưa có lệnh Cúc tôi đâu dám ra!” Tôi đáp.


Cúc “hứ” một tiếng rồi đổi cách xưng hô nói, “Sao Thiếu úy hiền quá vậy? Tôi thấy mấy ông lính ở đây, nhất là mấy ông sĩ quan trẻ, hễ thấy gái là tươm tướp nhào vô tán hưu tán vượng ghê gớm lắm kia mà. Thôi ra đây đi, tôi không hớp hồn Thiếu úy đâu mà sợ!”


Tôi làm theo ý muốn của Cúc và lặng lẽ bước ra khỏi mui thuyền, đến ngồi cạnh nhưng không nói gì, giữ sự im lặng cho tới khi Cúc cất tiếng hỏi, “Thiếu úy nghĩ sao mà nằng nặc xin đi về Tích thiện chiều nay. Thiếu úy có biết lộ trình này không mấy an toàn cho lính tráng? Thiếu úy không nghĩ vợ con ở nhà buồn khổ, nếu Thiếu úy sa vào tay mấy ông ấy sao? Tôi thấy có cái mâu thuẫn nơi Thiếu úy: VC không sợ mà lại sợ một cô gái bé nhỏ như tôi!”


“Cúc à,” tôi nói, “Tại sao bỗng dưng đổi cách xưng hô như vậy? Lúc nãy xưng ‘Em,’ bây giờ lại xưng ‘Tôi.’ Với lại Cúc bảo tôi thay quần áo lính để VC không nhận biết, thế mà Cúc vẫn cứ gọi tôi Thiếu úy, Thiếu úy có nghĩa là sao? Chẳng lẽ tiếng ‘Anh’….” Tôi vừa nói tới đó thì Cúc bảo tôi đừng nói nữa.


“Em xin lỗi anh,” Cúc nói, “Em vô tình không chủ ý. Thôi cũng đã gần đến Bang-Chang chúng ta cũng nên thay đổi cách xưng hô ‘Anh, Em’ cho hợp lý hợp tình. Vậy anh hãy trả lời những điều mà em hơi thắc mắc.”


“Có như vậy tốt hơn không?” Tôi nói, “Trước khi trả lời hết các vấn đề em thắc mắc thì cho anh hỏi em một câu là tại sao em đã biết anh còn độc thân mà trách anh không thương con thương vợ?”


“Ai nói biết anh còn độc thân hồi nào?” Cúc cãi lại ngay.


“Chính em nói với thím Sáu, em quên rồi à?” Tôi nói.


Cúc tỏ vẻ suy nghĩ để nhớ lại rồi nói, “À em có nói, nhưng nói để thím Sáu cho anh đi, chứ không có nghĩa là em biết gia cảnh của anh. Em thấy mấy ông Sĩ quan không chỉ có một vợ mà còn có nhiều vợ, nhiều bồ nhí nữa kìa…”


Cúc nói tới đây bỗng dưng đôi mắt đỏ lên như muốn khóc. Thấy thế tôi xem vào để chận sự cảm xúc bằng một câu nói nửa đùa nửa thật:


“Em đoán quá già nên trở thành non. Không thể đánh giá người này qua hình ảnh của người nọ vì mỗi người có cá tính khác nhau. Chẳng hạn em thấy đó, từ lúc gặp em cho tới giờ anh đã có hành động gì gọi là ‘tươm tướp nhào vô tán hưu tán vượng’ như em nói không?”


Cúc cười và nói, “Anh là một con người khác lạ! Mà này, anh có tin con người có số mạng?”


Tôi nói, “Đối với anh, anh không tin con người có số mạng, nhưng anh tin có Chúa trong con người biết yêu mến Người, và dành cho Người một chỗ ở đặc biệt trong tim họ.”


Cúc lại đấu lý với tôi: “Số mạng và Chúa đâu đó cũng là một, vì Chúa có uy quyền có thể can dự vào mọi việc. Chúa thương ai thì ban cho người đó hạnh phúc, còn Chúa ghét ai thì người đó phải chịu cảnh đắng cay! Đó không phải là số mạng đó sao?”


“Không phải vậy Cúc à, Chúa vốn là yêu thương nên Người không binh ai bỏ ai, Chúa luôn cho ta tự do lựa chọn, ai làm theo lời Chúa để lại trong quyển Thánh kinh thì có sự bình an, ai không làm thì có kết quả ngược lại. Ví như Chúa bảo ‘đừng trộm cắp’ mà ta không nghe, đêm đột nhập vào nhà người khác chôm chỉa đồ đạt của họ, bị chủ nhà bắt đưa ra tòa thì cái khổ đó không do Chúa mà do chính mình gây ra phải không?” Tôi giải thích cho Cúc nghe.
Cúc lại xem vào, “Vậy Chúa bảo hãy tránh bước vào hiểm nguy, sao hôm nay anh lao vào hiểm nguy không sợ VC chậm đường bắt anh?”


Tôi nói, “Trong cuộc sống, có những cái ta cần phải sợ nhưng cũng có những cái ta không cần phải sợ. Phân tích được hai cái đó là do trí óc của chính mình chứ không do người khác ban cho. Ví như hôm nay, tuy lộ trình về Tích Thiện có nguy hiểm nhưng anh cảm thấy em và thím Sáu là thiên thần của Chúa phái đến bảo vệ anh, nên anh ..”


Tôi nói chưa dứt câu thì Cúc tức tốc tiếp lời tôi, “ nên anh không sơ! Có thật vậy không Thiếu úy?”


“ Lại Thiếu úy nữa!” Tôi trách nhẹ Cúc và nói tiếp, “ Cúc à, anh biết bất cứ ai nghe anh nói như vậy cũng cho anh che dấu sự thật, họ sẽ nghĩ rằng anh quá say mê em, nên tâm trí anh bị lu mờ không còn thấy cái mồm con cá sấu rộng mở đang chờ anh đến để vồ anh nuốt trọn!”


Cúc nói, “Anh có vẻ sâu sắc quá, thế mà hồi nãy em đánh giá sai về anh cho rằng anh còn quá trẻ nên đã nói với thím Sáu ‘gương mặt anh còn non choẹt’. Vậy xin anh bỏ qua cho nhé! Thôi cũng gần đến Tích thiện rồi, anh hãy vào trong thay lại bộ đồ lính rồi ra đây đứng trước mũi thuyền, để thím Sáu có thể ghé vào bến đậu ngay trước mặt tiền cứ LĐ 4/78 cho anh lên. Em sợ lính anh nổ súng lắm!” Cúc nháy mắt đôi cái trong lúc nói làm đôi mắt Cúc trở nên long lanh rất dễ thương, khiến lòng tôi dậy sóng! Tôi cố gắng đè nó xuống bằng một câu nói mà tôi không biết nó đến từ đâu, “Không, không…Anh không bao giờ trách hờn em gì cả mà cái trách hờn nếu có là con đường Trà Ôn – Tích Thiện sao quá ngắn!”


Như thể để tránh xúc động bỡi câu nói của tôi nên Cúc giả vờ không nghe bằng cách thúc giục tôi lần nữa vào trong khoan thay lại bộ đồ lính.


“Đi mau đi anh, thím Sáu đang cho thuyền vào bến kìa!” Cúc giục tôi.



Tôi trở vào trong khoan thay đồ và vừa bước ra thì thấy một anh lính gác xách súng chạy tới bến sông và tay lên cò súng  ‘rốp, rốp’ Cúc vội chạy núp sau lưng tôi và nói.


“Đó đó, lính anh sắp nổ súng kìa. Mau mau bảo anh ấy đừng bắn, em sợ lắm!”


Tôi trấn an Cúc bằng câu nói, “ Có anh đây, em đừng sợ!” Và đồng thời vẫy tay ra hiệu cho người lính trên bờ biết tôi cũng là lính.


Thuyền tấp vào bờ, người lính thấy tôi vội đứng nghiêm bắt súng chào. Tôi chào lại và đến bắt tay anh rồi nói cho anh biết tôi về phục vụ cho LĐ 4/78.


“Thế thì LĐ ta có thêm người, vui biết mấy!” Anh lính gác nói, “Đại úy LĐT đang trong vùng hành quân không có ở đây, tuy Thiếu úy cứ vào trong có Trung sĩ Hòa trực hành quân sẽ giải quyết mọi sự cho Thiếu úy.”


Tôi nói, “Cám ơn anh, nhưng cho tôi một phút nói lời cám ơn bà chủ ghe và cô gái đã xin cho tôi quá giang.”


Người lính gác nói, “Được, Thiếu úy có thể làm việc ấy đi, xong rồi vào gặp Trung sĩ Hòa cũng được.”


Khi tôi quay lưng, bước xuống bến sông thì anh lính gác quay điện thoại kêu ông trung sĩ trực hành quân tên Hòa ra để đưa tôi vào trong. Tôi vừa nói xong tiếng cám ơn đối với thím Sáu và Cúc (Cám ơn thím Sáu và Cúc thật nhiều. Kể từ nay đây là nơi ở của tôi, hy vọng sẽ có nhiều dịp gặp lại thím Sáu và Cúc. Chúc thím Sáu và Cúc luôn gặp may mắn trong cuộc sống.”


Thím Sáu nói “ Không có chi!” Riêng Cúc cúi đầu im lặng làm tôi cảm thấy buồn buồn và không biết cái buồn đó đến từ đâu?!!) thì Trung sĩ Hòa cũng vừa ra tới. Anh nhìn tôi với đôi mắt tròn xoe tỏ vẻ ngạc nhiên và cái miệng há hốc làm ngập ngừng lời nói, “Thiếu úy…Thiếu úy về đây bằng cách quá giang chiếc thuyền nhỏ đó à? Tại sao Thiếu úy gan quá vậy? Bộ TK và CK không cho Thiếu úy biết gì về tình hình địch ở đây sao?”


 “Có, tuy ‘điếc nên không sợ súng’!” Tôi cười đáp và đồng thời lấy tay quàng vai ông Trung sĩ rồi nói tiếp, “Thôi anh dẫn tôi vào trong có gì muốn hỏi tôi sẽ nói thêm.”



D/ Ngày đầu với Đơn vị



Vào đến Văn phòng của TT / HQ, Trung sĩ Hòa kéo ghế mời tôi ngồi. Tôi ngồi xuống và móc tờ SVL trong túi áo ra để đưa cho Tr/s Hòa xem.


Hòa nói, “Được, để em ghi vào sổ và bảo điện tín viên báo cho Đại úy LĐT biết Thiếu úy đã đến.”


Anh bước vào trong truyền lệnh cho người lính truyền tin rồi quay ra ngồi đối diện tôi nói: “Thế là xong, bây giờ chúng ta có thể trò chuyện với nhau nhưng trước hết cho em được hỏi Thiếu úy có phải là người Phú yên không? Vì nghe giọng nói có vẻ thân quen quá!”



Nghe chữ ‘thân quen’ tự dưng lòng tôi ấm lại, do đó thay vì trả lời thẳng vấn đề anh đặt ra, tôi chỉ cười cười rồi buông ra một câu nói mà dường như để nói với chính tôi, “Vậy Trung sĩ Hòa có phải là người đồng hương của tôi ở nơi ‘đồng chua nước mặn’ này không nhỉ?!”


Tôi vừa dứt lời thì Hòa bật đứng dậy la lên, “Ah…” và rồi chạy tới ôm lấy vai tôi nói trong hơi thở dồn dập, “Vui quá, vui quá!


Thế là từ nay em không còn cô đơn vì bên em có Thiếu úy là người đồng hương, có gì chúng ta cùng nhau chia sẻ!”
Tôi làm bộ nghiêm sắc mặt, nhìn thẳng mặt anh và đặt câu hỏi, “Anh nói anh cô đơn? Vậy anh vẫn còn độc thân? Không có ai là bà con bạn bè  ở đây? Tại sao anh không xin hoán chuyển về quê mà cứ bám trụ nơi đây làm gì?”


Thấy gương mặt tôi có vẻ nghiêm nghị nên Hòa từ tốn đáp, “Thú thật với Thiếu úy, em đã có vợ nhưng vợ em là người Nam, không hiểu hết cách sống của dân mình, nên đôi lúc cũng có gây gỗ với nhau, làm em cảm thấy cô đơn cần có người đồng hương để tâm sự. Vợ chồng là vợ chồng, nhưng ai cũng có cái ốc đảo riêng mà không ai có thể xâm nhập vào đó để biết mọi sự riêng tư của người khác. Thế nên người ta thường nói: Vợ chồng tuy hai mà một, tuy một mà hai đó Thiếu úy à!”


Tôi cúi đầu ngẫm nghĩ và thầm phục cái kiến thức ‘rành tâm lý’ của người trung sĩ phụ tá Quân số, nhưng tôi thấy không cần dùng thì giờ để hiểu thêm vấn đề này. Vấn đề tôi cần biết là tính tình của ông LĐT, người có thể quyết định đời sống của tôi trong những ngày sắp tới nên tôi đã dùng một câu nói chuyển mạch nhẹ nhàng nối tiếp lời anh: “Vậy ông Đại úy LĐT là người Nam, Trung, hay Bắc? Tính tình ông ra sao? Ông có vợ con gì hay không? Nếu có thì vợ con ông ở đâu hay ở ngay tiền cứ này?”


Trung sĩ Hòa nói, “Ông đã có vợ và có 6 con, nhưng ông để vợ con ông ở Vĩnh Long, chứ ở đây sao được vì căn cứ này thường xuyên ăn đạn pháo của VC, tháng cũng được nhận thưởng những 1 hay 2 lần..”


Anh nói tới đây ngưng lại, ý để xem gương mặt tôi có đổi khác gì không. Tôi hiểu ý anh nên tỏ vẻ bình thản nói, “Anh nói tiếp đi, tôi đang lắng nghe sao anh ngừng lại?”


“Dạ, cho em lấy hơi!” Anh tủm tỉm cười rồi lấy giọng nói tiếp, “Ổng người Nam, tính tình thì cũng không dễ và cũng không khó lắm, nhưng rất ‘Réc-lô’ trái ý ông thì khó sống!”


Anh lại ngưng nói…Thấy vậy tôi thúc giục anh nói thêm về tiểu sử và đời sống của ông LĐT vì tôi biết tính nết của con người thường phát sinh từ cuộc sống của họ, nên tôi nói, “Đừng dừng lại nếu tôi không yêu cầu. Tôi cần biết rõ về ông, do đó anh càng nói nhiều về ông ấy thì càng giúp tôi tránh được những đụng chạm có thể xảy ra trong tương lai.”
Trung sĩ Hòa chớp chớp mắt vài cái rồi nói, “Nếu Thiếu úy nói như thế, em sẽ nói hết những gì em biết về cuộc đời ông, nhưng xin Thiếu úy đừng nghĩ em bươi móc hay thêu dệt đời sống của ổng. Em làm việc này để Thiếu úy hiểu ổng hơn rồi có sự hợp tác hài hòa đối với vị chỉ huy của Thiếu úy.”


“Vâng, cám ơn anh nhiều. Điều anh vừa nói là cái suy nghĩ của tôi nên tôi hứa sẽ trân qúy những lời anh nói.” Tôi nhấn mạnh.



“Cám ơn Thiếu úy đã hiểu ý em.” Hòa nói tiếp, “Ông xuất thân từ hàng binh. Trước đó ông là Hạ sĩ mang máy truyền tin cho ông Đại úy cũng tên Nghĩa như ông. Một hôm đi hành quân, ông mang máy còn ông Nghĩa cầm ống liên hợp để điều quân, thì đến lúc đụng độ bị VC bắn quá rát, ông Nghĩa phải nhảy qua lại những con mương, ông theo chân không kịp làm ống liên hợp tuột khỏi tay ông Nghĩa rơi xuống mương. Ông Nghĩa tức giận, lấy gậy ‘Bâton’ đập trên nón sắt của ông và chửi mắng ông một cách tồi tệ! Từ đó ông âm thầm mua sách tự học thi lấy được bằng Trung học Đệ nhất cấp, rồi xin đi học khóa Sĩ Quan Thủ Đức (Thời đó có bằng TH/ĐNC là được tuyển vào trường Sĩ quan Thủ Đức.) Ra trường ông chọn về Vĩnh Long và được giữ chức vụ ĐĐT các đơn vị biệt lập. May mắn cho ông, ông chỉ huy đánh thắng nhiều trận liên tiếp, chỉ trong vòng ba năm ông được thăng lên cấp Đại úy. Và ông được đề cử đứng ra thành lập LĐ/ĐPQ cho TK/VL, trong LĐ ông có cả đại đội của ông Nghĩa, nguyên là đại đội trưởng của ông ngày trước. Sau cuộc triệu tập các đại đội trong LĐ để nhận huấn lệnh từ vị LĐT là ông, ông đã mời ông Nghĩa vào phòng làm việc riêng, rồi yêu cầu ông Nghĩa vạch rõ cho ông thấy ‘cái ngu của ông’, mà ngày trước ông Nghĩa đã gán ghép cho ông. Và sau cuộc gặp gỡ đó, ông Nghĩa đã xin được đi phục vụ đơn vị khác: Với lý do để tránh sự khó xử cho cả hai người trong lúc làm việc với nhau và cấp trên đã chấp thuận lời yêu cầu.”


“Khá ly kỳ giống như chuyện trong phim kiếm hiệp! Anh có còn biết ông có ‘chiếu cố’ một ai khác trong LĐ này nữa hay không?” Tôi hỏi Hòa.


Hòa trả lời, “Em không thấy một ai trong LĐ này bị ông ‘chiếu cố’ như ông Nghĩa nữa cả. Có lẽ nếu ông không thay đổi cách cư xử của ông đối với thuộc cấp thì chẳng còn ai làm việc với ông! Thiếu úy nghĩ xem LĐ có 4 ĐĐ tác chiến mà chỉ có 5 Sĩ quan, còn BCH/LĐ cũng chỉ có 5 Sĩ quan kể cả ông, là Thiếu úy biết lực lượng Sĩ quan của LĐ này thiếu một cách trầm trọng như thê nào!”


“Anh có thể nói cho tôi nghe về cách sắp xếp lực lượng Sĩ quan của BCH/LĐ như thế nào không?” Tôi hỏi Hòa.


Hòa nói, “LĐ không có Sĩ quan đảm trách chức vụ LĐP, mà chức vụ này do ông Trung úy Minh trưởng Ban 3 kiêm nhiệm, ĐĐT/ ĐĐ Chỉ huy cũng không có, mà do ông Đại úy Long trưởng Ban 2 kiêm nhiệm, Ban 1, 4, 5 (CTCT) cũng không có vị Sĩ quan riêng rẽ mà cả ba Ban này nằm gọn dưới quyền điều động của ông Trung úy Ân, duy chỉ có Ban 6 (truyền tin) là có Sĩ quan chuyên ngành chỉ huy đó là ông Trung úy Du, ông này thì không kiêm một chức vụ nào khác.”


Tôi hỏi tiếp, “Còn cách phối trí lực lượng Sĩ quan cho các đại đội tác chiến thì sao?”


Hòa nói tiếp, “Theo em thấy, Trung úy Vân là con cưng của LĐT do đó ĐĐ của Trung úy Vân mới có 2 Sĩ quan, ngoài ra 3 đại đội khác chỉ có Trưởng không có Phó.”



Nói tới đây Hòa ngưng lại dường như để chờ đợi những câu hỏi kế tiếp của tôi, nhưng đây là ngày đầu tiên về làm việc với một đơn vị tác chiến, tôi không thể hiểu hết những ‘Khuất Mắc’ của nó, nên cũng không biết đặt thêm câu hỏi nào nữa mà chỉ biết im lặng để dòng tư tưởng viễn du trên một lãnh địa quá mênh mông!


Hòa thấy vậy hỏi tôi, “Thiếu úy còn có muốn biết điều gì nữa thì xin đặt câu hỏi, chứ sao mà im lặng như vậy!”


Tôi nói, “Có trăm điều muốn biết nhưng không biết bắt đầu từ đâu! Thôi anh cứ nói những gì mà anh nghĩ nó sẽ giúp ích cho tôi, nếu tôi biết, trong những ngày sắp tới.”


Hòa nói, “Thiếu úy quá khiêm nhường, nhưng thôi cũng được vì chúng ta là đồng hương. Em có thể hiểu những ưu tư đang có trong Thiếu úy vì em đã trãi qua cái tình huống như Thiếu úy bây giờ, 3 năm trước đây.” Hòa ngừng dây lát rồi nói tiếp, “SVL bổ nhiệm Thiếu úy về đây là để đảm nhận chức vụ Trưởng ban 5 (CTCT), nhưng có thể ổng bắt Thiếu úy đảm nhận thêm một chức vụ khác nữa, có nghĩa là Thiếu úy phải theo hành quân chứ không thể ở hậu cứ chỉ đi mua QTV như Trung úy Ân đã làm.”


“Vậy theo anh nghĩ ông LĐT sẽ giao cho tôi chức vụ nào hay bắt tôi kiêm nhiệm những gì?” Tôi hỏi Hòa.
Hòa trả lời, “Thiếu gì chức vụ đang chờ đợi Thiếu úy vì Thiếu úy trẻ, lanh lợi lại có kiến thức cao, tuy kinh nghiệm chiến trường chưa có nhưng có kiến thức thì rất dễ hội nhập cuộc sống.”


“Anh quá khen làm tôi cảm thấy ngượng đó anh Hòa à..” Tôi vừa nói tới đây thì viên trực truyền tin chạy ra báo cho Hòa biết là LĐ đang trên đường về tiền cứ. Hòa hỏi về hướng nào thì người lính truyền tin bảo mở cổng ‘Rạch Chiếc’.


Hòa quay điện thoại ra lệnh cho lính gác chuẩn bị mở cổng đón LĐ về, đồng thời anh loay hoay kiểm lại sổ trực và đặt tờ SVL của tôi ngay trên trang ghi các sự kiện xảy ra trong ngày. Anh nói, “Thiếu úy nên xem lại quân phục chỉnh tề đi, thế nào khi ông LĐT về cũng đi qua đây và có thể bảo Thiếu úy vào văn phòng làm việc ngay, vì em biết tính ổng không để việc gì có thể làm ngày hôm nay đến ngày mai cả.”



Tôi làm theo lời Hòa đề nghị và ngồi im trong thế đợi chờ. Thời gian lúc đó tôi cảm thấy sao mà trôi qua thật chậm, có lẽ bị ảnh hưởng cái tư tưởng quá háo hức muốn biết một con người mang quá nhiều huyền thoại là ‘có nhiều may mắn và cũng rất ư là thâm sâu.’ Tôi không đếm được thời gian trôi qua bao lâu chỉ khi thấy Hòa đứng bật dậy đưa tay lên chào người nào đó có lẽ đang đi tới từ phía sau lưng của tôi. Tôi quay đầu nhìn lại thì thấy một người lính (vì không thấy đeo cấp bực) trong lứa tuổi trung niên, mập tròn đang tiến về phía chúng tôi, trong bộ quần áo trận lấm lem sình lầy, có một đúm cỏ đầy bùn dính trên vành nón sắt. Chờ cho ông đến gần tôi đưa tay lên chào nhưng không được ông chào lại. Ông tiếp tục đi qua chúng tôi và đi thẳng vào nơi nào đó phía sau phòng hành quân.
Hòa bỏ tay xuống và nói với tôi, “Thiếu úy đợi đây, em đem sổ trực trình ổng rồi sẽ trở lại.”


Hòa đi rồi, tôi ngồi xuống ngẫm nghĩ thấy buồn vì cảm thấy bị thương tổn bỡi cái thái độ của ông LĐT vừa qua. Và khoảng 5 phút sau đó Hòa trở lại, Hòa cho tôi biết ông LĐT muốn gặp tôi ngay và anh chỉ lối cho tôi đi. Tôi không nói gì chỉ bước đi và nghe tiếng Hòa vang lên từ đàng sau,  “nhớ gõ cửa rồi chờ lệnh Thiếu úy nhé.” Tôi tự nhủ, phải có thái độ bình tĩnh, dũng cảm để không hổ thẹn là một Sĩ quan xuất thân từ quân trường Đà lạt. Tôi đưa tay gõ vào cánh cửa đóng hờ ba tiếng thì nghe tiếng nói vọng ra từ bên trong, “Mời vào.”


Tôi xô cửa bước vào, thấy ông ngồi ngã ngửa ra trên chiếc ghế dựa đóng bằng thùng gỗ đựng đạn pháo binh, trên người vẫn mang bộ quần áo dính đầy bùn đất, chưa thay. Tôi đứng nghiêm đưa tay chào trình diện theo thứ lớp: cấp bậc, họ tên , số quân, đơn vị. Xong ông ra lệnh cho tôi ngồi xuống trên chiếc ghế vuông đặt trước mặt ông. Tôi ngồi xuống và nhìn thẳng vào mặt ông, tập trung tư tưởng để nghe những gì ông sắp nói.



“Ở trên bổ sung Thiếu úy về LĐ này là đúng, tuy nhiên cũng không thật sự là đúng bỡi lẽ chúng tôi đang cần Sĩ quan tác chiến hơn là Sĩ quan tham mưu. Tuy người phụ trách CTCT/LĐ này chưa có, nhưng tôi nhận thấy chức vụ này không cần phải có một Sĩ quan trẻ trung đầy nhiệt huyết như Thiếu úy đảm trách, do đó nếu để Thiếu úy làm SQ/CTCT/LĐ là uổng phí tài năng. Tôi muốn Thiếu úy đảm nhiệm chức vụ khác quan trọng hơn, nhưng cái đó là do ý muốn của Thiếu úy, tôi không có quyền bắt buộc khi cấp trên đã bổ nhiệm Thiếu úy vào phần vụ đã ghi trong tờ SVL.” Ông nói.


“Tôi không rõ ý của Đại úy, xin nói ngắn gọn rõ ràng hơn.” Tôi nghiêm sắc mặt nói.


Ông bật ngồi dậy nói, “Tôi muốn Thiếu úy đảm nhiệm chức vụ ĐĐP/ĐĐ hơn là CTCT/LĐ. Nếu Thiếu úy sợ tác chiến thì có thể từ chối và cầm SVL này về trình diện TK để họ đưa Thiếu úy đến đơn vị nào họ cần SQ/CTCT.”



Ngọn lửa tự ái dâng cao tột đỉnh trong tôi, do đó tôi không còn có thể ngăn chận được nữa, tôi đồng ý để nó tự bộc phát nên tôi lớn tiếng chất vấn ông, “Nếu Đại úy cắt đặt tôi làm ĐĐP thì Đại úy sẽ trả lời sao với TK và tôi sẽ phải nói với họ như thế nào?” Tôi đang chờ phản ứng mãnh liệt từ ông, nhưng ông đã làm tôi thất vọng vì ông đã không tỏ thái độ sừng sỏ như tôi mà ông lại nở một nụ cười và nhẹ giọng nói, “Miễn Thiếu úy không khiếu nại thì mọi việc đều yên ổn! Tuy cấp trên cắt đặt như vậy nhưng vẫn để cho cấp dưới linh động sắp xếp cho phù hợp với nhu cầu thực tế của đơn vị. Cộng thêm tôi cũng có đủ cách để nói với họ vì chức vụ ĐĐP cũng liên quan đến CTCT, chức vụ ĐĐP/CTCT dễ thực thi công tác CTCT hơn là SQ/CTCT/LĐ vì ĐĐP/CTCT luôn gần gũi với lính hiểu rõ những nhu cầu của lính, nhất là lãnh vực tinh thần. Thiếu úy còn trẻ chưa có vợ con nên chưa có kinh nghiệm trong việc dạy dỗ, ‘trăm lời nói không bằng một hành động,’ đối với lính cũng vậy!” Ông ngừng lại đôi chút nhìn chăm chú vào đôi mắt tôi rồi nói tiếp, “Có lẽ Thiếu úy ngạc nhiên lối nói của tôi lắm phải không? Đôi mắt Thiếu úy đã nói điều đó cho tôi biết! Tôi không ‘dụ’ Thiếu úy ở lại với chúng tôi, nhưng tôi hiểu rõ ‘có thực mới vực được đạo!’ Nếu Thiếu úy nhận chức vụ ĐĐP, tôi không đưa Thiếu úy ra các ĐĐ tác chiến ngay mà để Thiếu úy vẫn ở với BCH/LĐ, có nghĩa là Thiếu úy sẽ đảm trách chức vụ ĐĐP/ĐĐCH. Và đồng thời tôi sẽ tạo nhiều cơ hội cho Thiếu úy học hỏi cách điều quân từ Trung úy Minh trưởng Ban 3/HQ và tôi. Và trong thời gian Thiếu úy ở với BCH/LĐ thì Thiếu úy sẽ được miễn tiền ăn uống xem đó là tiền phụ cấp chức vụ cho Thiếu úy vậy! Nào Thiếu úy quyết định đi: Đi hay Ở? Tôi muốn mọi việc giải quyết trong đêm nay để ngày mai tâm trí thảnh thơi ngơi nghỉ!”



Tôi cúi mặt nhìn xuống đôi bàn tay tôi đan nhau để trên hai bắp vế và tâm trí rối bời. Tôi tự hỏi: Chẳng lẽ tôi vứt bỏ những gì tôi đã học hai năm qua nơi trường Mẹ? Chẳng lẽ tôi giết chết cái hoài bão của tôi? Chẳng lẽ tôi chấp nhận để ông xem tôi là tên hèn nhát sợ tác chiến? Chẳng lẽ năng lực của tôi thua sút các Sĩ quan Thủ đức? Chẳng lẽ, một lần nữa, tôi phải trở lại con đường tôi vừa mới đi qua? Chẳng lẽ về TK năn nỉ sự ban ơn và nằm dài chờ đợi nữa….??? Không, không…Tôi có thể hy sinh tất cả, nhưng nhất định không để cho bất cứ ai xem tôi là thằng hèn, sợ tác chiến, nhất là không để ai đánh giá Sĩ quan xuất thân từ trường Đại học CTCT/Đà Lạt là thiếu khả năng tác chiến, nên tôi ngẩng mặt lên đáp ngắn gọn, “Tôi đồng ý ở lại và đồng ý nhận chức vụ ĐĐP.”


“Tốt!” Ông nói và tuyên bố tiếp, “Như thế là kể từ giờ phút này Thiếu úy đã là ĐĐP/ĐĐCH của LĐ 4/78 dưới quyền điều khiển của Đại úy Long, Trường B.2/Kiêm ĐĐT/ĐĐCH. Ngày mai, lúc 10:00 giờ sáng tôi sẽ để Thiếu úy ra mắt LĐ. Nói LĐ chứ cuộc tập họp ngày mai chỉ có BCH/LĐ, ĐĐ.1, và Khẩu đội 4.2 tăng phái thôi còn các ĐĐ khác không có mặt, tuy ĐĐT của các ĐĐ ấy sẽ tham dự đầy đủ, do đó tôi muốn đêm nay trước đi ngủ Thiếu úy nên thảo qua bài nói chuyện cho ngày mai. Thôi Thiếu úy có thể ra về và nhớ ghé lại trung tâm hành quân nhận trang bị và được chỉ dẫn chỗ nghỉ đêm nay.”


“Cám ơn Đại úy, tôi ghi nhớ lời Đại úy dặn. Chào Đại úy.” Tôi nói xong, lập tức bước ra khỏi phòng ông và mới bước đi được vài bước thì nghe tiếng ông vọng tới từ đàng sau, “À, tôi quên nói, LĐ ta có toán ‘Cố Vấn Mỹ’ do đó ngày mai họ cũng sẽ có mặt đó. Nếu biết tiếng Anh thì nói vài câu cho vui và cũng để họ nể mặt hàng ngũ Sĩ quan của chúng ta.” Tôi vẫn im lặng bước đi như không hề nghe lời ông nói.



Về tới phòng hành quân thì Hòa và một Trung sĩ khác đón tôi bằng cái “chào tay” của họ. Hòa giới thiệu người Trung sĩ đứng cạnh anh là Thuận, phụ tá Ban 4 (tiếp liệu). Tôi đến bắt tay Thuận và nói, “Tôi tên Lê Như Phò, hân hạnh được biết anh.”


Thuận có vẻ cúm núm với cái bắt tay của tôi. Anh nói, “Thiếu úy đối xử với đàn em thật bình dân và thật thân mật, tôi ít thấy xảy ra ở đây nên tôi rất cảm kích Thiếu úy. Và đây là trang bị cá nhân cho Thiếu úy và để em đưa về chỗ ngủ cho Thiếu úy. Mời Thiếu úy theo em.”


Tôi theo chân Thuận về cái láng, có mái che le que vài cành dừa nước, do đó đêm nay tôi có thể làm bạn với trăng sao. Thuận để trang bị của tôi xuống một cái sạp làm bằng các ống ‘lồ-ô’ đập dẹp kết lại, rồi Thuận nói rằng đó là nơi ở tạm trú qua đêm cho tôi và rồi vội vã ra đi bỏ lại tôi với bao nỗi ưu tư chồng chất. Nhìn các thứ trang bị cho tôi, ngoại trừ ‘mùng + màng + tấm trải’ để ngủ qua đêm, thì chỉ có ‘khẩu súng Thompson bá xếp + một cấp số đạn + sợi dây ba chạc có dính tùng teng 2 quả lựu đạn M.26 cùng cái bi-dông đựng nước + nón sắt’! Có thế sao? Tôi là Sĩ quan hay là lính đây?!!! Tôi thở dài và ngã mình trên tấm sạp không màng giăng trải gì hết vì tôi biết rằng tôi không thể ngủ được đêm nay. Nào là bài nói chuyện cần phải ra hồn nhưng ngắn gọn, nói cách khác là phải ‘Súc-tích’, nào là biết nói gì với toán Cố Vấn Mỹ? Và liệu rằng lối phát âm không mấy chuẩn xác của tôi Mỹ nó có thể hiểu không? Kinh nghiệm cho tôi biết là hồi năm 67 tôi đã được cấp chứng chỉ ‘Proficiency’ của trường Anh Văn Nguyễn Ngọc Linh, thế mà qua cuộc sát hạch của Hội ‘Việt – Mỹ’, ở đường Mạc Đỉnh Chi/SG  cho thấy khả năng nói tiếng Anh của tôi chưa đạt tới lớp 3! Tôi trăn trở với mấy điều đó trời sáng lúc nào tôi không biết. Tôi giật mình bởi tiếng phát ra từ phía sau tôi.


“Trời, bộ Thiếu úy hồi hôm giờ không ngủ? Kìa mặt ông đầy vết muỗi cắn. Thôi, thôi đứng dậy đi rửa mặt rồi đến ăn sáng với tụi tui mau lên, rồi còn sửa soạn cho cuộc ra mắt LĐ, Thiếu úy không còn nhớ sao?” Hòa nói.


Tôi hờ hững quay lại và hỏi Hòa có gì đặc biệt mà đến mời tôi thì Hòa nói không có gì khác hơn là mì gói, nhưng có được đông người ngồi ăn chung thì thấy vui.


Tôi đứng dậy theo Hòa đến chỗ ở của anh thì thấy Thuận có mặt tại đó và đang đun nước. Hòa chỉ cho tôi cái vại nước để rửa mặt. Xong Hòa, Thuận, và tôi quây quần quanh một cái thùng gỗ vuông đựng lựu đạn, ăn mì cười nói vui tươi. Cho đến lúc đó, tôi cảm nhận được cái ‘vui vui’ của đời lính, của tình ‘huynh đệ chi binh’ khắng khít với nhau.



Thời gian trôi qua thế nào chúng tôi không biết, đến khi nghe tiếng còi tập họp của ông Thượng sĩ Dương, thường vụ BCH/LĐ, anh em chúng tôi mới rời nhau ai về vị trí đó. Tiếng chân ‘rùm rụp’ của lính đua nhau tập họp, tiếng hô ‘nghiêm, trước thẳng’ trước sân BCH/LĐ phá tan bầu không khí yên tĩnh ban mai.


Tôi quay lại chỗ đêm hôm tôi ngủ, lục trong ba-lô lấy tờ giấy đọc thuộc lời thảo đêm qua. Đọc xong tôi bước ra chỗ lính LĐ đang tập hợp, thượng sĩ Dương chỉ tôi ngồi ở chiếc ghế đơn độc đặt bên phía phải hàng ghế dành cho các vị sĩ quan trong LĐ, phía bên trái có 4 ghế dành riêng cho Cố Vấn Mỹ.


Khoảng 5 phút sau toán cố vấn đến, kế đó là nhóm Sĩ quan LĐ gồm 10 người, do ông LĐT dẫn đầu. Và khi ông LĐT đến, Thượng sĩ Dương chỉ huy trình diện, ông gật đầu và tuyên bố lý do buổi triệu tập cuộc họp ngày hôm đó và đồng thời giới thiệu tôi với toàn thể LĐ và toán cố vân Mỹ. Xong ông yêu cầu tôi có vài lời cùng toàn thể anh em trong LĐ.


 Tôi dứng dậy và bước ra trước hàng quân chào và dõng dạt nói:


“Kính thưa Đại úy LĐT, Kính thư qúy vị sĩ quan, HSQ, và anh em Binh sĩ trong LĐ.


Tôi, Lê Như Phò, xuất thân từ trường ĐH/CTCT/Đà lạt, được TK/VL đưa về đây để góp một tay súng cùng các anh em và quý vị trong công cuộc chiến đấu chống CS xâm lăng, bảo tồn nền độc lập, tự do, dân chủ, cho nhân dân miền Nam của chúng ta. Tôi mong được sự dìu dắt chỉ dẫn của qúy vị và sự thương yêu đùm bọc của các anh em trong tình ‘huynh đệ chi binh’ sẵn có. Chúc qúy vị và các anh em có một ngày nghỉ thoải mái!” Tôi đưa tay chào và nói tiếp, “Thể theo ý muốn của Đại úy LĐT, tôi xin phép được nói vài câu tiếng Anh với các bạn Cố Vấn Mỹ.”


Nói xong tôi quay mặt qua phía Cố Vấn Mỹ từ từ nói từng tiếng một, “Dear gentlemen, I don’t know what I should say now. I just want to say ‘Thanks’ to all of you for fighting beside us in the cause against communism. Hopefully, we’ll stick together forever. I wish you have a great day.” Tôi vừa dứt lời thì tất cả cố vấn Mỹ đứng lên đến bắt tay tôi và họ tự giới thiệu cấp bậc và tên của họ, do đó mà tôi biết được tên 4 người của họ; Thứ nhất là Đại úy David Williams, thứ hai là trung úy John Wheeling, thứ ba là Thượng sĩ Nick Smith, và Trung sĩ thông dịch viên người Việt nam tên Nguyễn văn Tâm. Khi tiếp chuyện với anh Tâm, anh hứa mua tặng tôi quyển tự điển Quân sự để khi cần tôi tra cứu, làm tôi phấn khởi tinh thần ngày đầu về với đơn vị.



Sau khi LĐ tan hàng, đơn vị nào về đơn vị nấy thì cỡ 4:00 giờ chiều, ông LĐT kêu ông Thượng sĩ Dương đi kiếm vài lít rượu đế và vài con gà làm gỏi nhậu chơi. Tôi nghe nhậu tôi muốn xỉu vì hồi nào đến giờ tôi đâu biết uống rượu, tôi tìm cách từ chối thì ông nói, “Nam vô tửu như kỳ vô phong! Thiếu úy biết điều đó chứ?” Rồi ông cầm ly đưa lên miệng hô, “Dô, Dô, Dô..” đồng thời đảo mắt nhìn qua phía tôi, không thấy tôi nâng ly lên ông bèn nói, “Làm gì kỳ vậy mày, Phò. Đừng làm mốc mặt KBC.7866 này nhé!” Thấy mắt ông đỏ ngầu, tôi đâm ra ngán nên cũng ráng đổ đại vào miệng đổ đến chừng tôi ngã, tôi cũng không còn biết… cho đến khi có tiếng “Xèo.. Oành, Xèo…Oành, rồi Đùng..đùng, Oành..Oành…” Và có tiếng người kêu réo, “Thiếu úy Phò ở đâu? ở đâu? Thiếu úy Phò, Thiếu úy Phò!!!” Tôi lò mò ngồi dậy thì mới biết ai đó đã khiêng tôi về cái láng của tôi, nên tôi vội đáp để người gọi an tâm. “Tôi đây, tôi đây!” và đồng thời tôi nghe tiếng hỏi từ xa, “Thíếu úy có bị gì không?” Tôi nhận ra tiếng của Hòa, nên hỏi lại, “Có nghĩa là sao?” “Trời đất ơi VC pháo kích rầm rầm mà ông không biết gì cả!”


Nghe nói ‘VC pháo kích’ tôi mới hoàn hồn đôi chút, nhưng trí óc vẫn còn mù mờ...nên không có phản ứng gì! Có lẽ hiểu trạng thái tâm thần tôi lúc đó nên Hòa chạy tới lôi tôi vào hầm trú ẩn cùng anh, ngay sau đó một trái đạn rơi trúng láng tôi nằm nhưng may mắn không có ai bị thương vì mọi người đều ra hầm trú không còn có ai ở đó. Tôi xanh mặt, nín thinh. Hòa nhìn tôi nói, “Ông mạng lớn lắm đó. Đây là bài học cho ông, nhớ lần sau đừng uống quá như vậy nghe Thiếu úy. Tôi  nhắc Thiếu úy điều này rất quan trọng, Thiếu úy cần nhớ là ở đây có rất nhiều VC nằm vùng. Thiếu úy thấy không, việc Đại úy mở tiệc nhậu đãi Thiếu úy chiều nay mà VC biết ngay cho chúng ta ăn mấy loạt pháo đó không?”


Tôi nhướng mắt hỏi Hòa, “Cái gì cho anh đoan quyết điều đó?”
“Kinh nghiệm.” Hòa nói tiếp, “Rất nhiều lần chứ không phải một lần!”


Tôi lại xen vào hỏi, “Vậy tại sao Đại úy cứ mở tiệc nhậu để bị ăn pháo?”


“Cái đó em không biết được!” Ngưng một chút rồi Hòa nói tiếp, “Nhưng một hôm em nghe ông Đại úy nói là không nhậu thì đời còn có chi vui, mà đời không có vui thì đời không còn gì đáng sống! Hơn nữa sợ mãi VC nó được lừng, nói chung thằng nào mạng ‘CHỆT’ thì chết, còn mạng ‘TÀU’ thì sống, hơi đâu mà lo!”


Tôi đang ngẫm nghĩ để phân tích cái triết lý của ông ‘Xếp’ của tôi, thì nghe ông hỏi, “Anh em có ai bị gì không?” Không nghe ai trả lời rồi ông nói tiếp, “Thiếu úy Phò ngon thiệt, mới vừa về đơn vị thì được VC bắn súng chào, may mà nó chỉ có bắn 7 phát, chứ 21 phát chắc được vài chai Whiskey (Wounded) nhậu mệt.” Ông ngừng một lát rồi nói tiếp, “Anh em nào đang gác thì canh phòng cẩn thận, coi chừng nó bò vào đó.”


Sự im lặng lại được trả lại cho màng đêm và bóng tối. Hòa đưa tôi về chỗ ngủ của anh ngủ đỡ qua đêm vì chỗ ngủ của tôi đã thành bình địa!



E/ Vào Cuộc Chiến



1/ Đổ bộ tái chiếm đồn Tân Quy


Sáng ngày hôm sau, Thượng sĩ Dương (Thường vụ LĐ) đến gặp tôi nói LĐT cần gặp tôi tại phòng hành quân. Tôi vừa tới cửa phòng họp, thì gặp Đại úy Long (Trưởng Ban 2 kiêm ĐĐT/ĐĐCHT, Trung úy Vân (ĐĐT/ĐĐ1), và ông LĐT đang bước ra. Gặp tôi ông nói, “Trung úy Minh đang chờ Thiếu úy ở bên trong.”



Thấy tôi bước vào, Trung úy Minh đứng dậy kéo ghế mời tôi ngồi rồi vào đề ngay, “Đêm hồi hôm lúc VC pháo kích ta chính là lúc nó tiến đánh đồn Tân Quy và đồn Tân Quy đã bị VC tràn ngập. CK/Trà-Ôn cho biết VC đã đốt cháy toàn bộ căn cứ này do đó hầu hết lính đồn trú và vợ con của họ đều bị giết. CK ra lệnh cho LĐ ta phải tái chiếm vị trí này. Đại úy muốn nhân đây cho Thiếu úy học hỏi cách điều quân tái chiếm của chúng ta. Đại úy LĐT, trên nguyên tắc, đã đồng ý với phóng đồ hành quân do tôi vẽ ra.  Đây Thiếu úy thử nhìn xem.”


Tôi đứng dậy nhìn vào phóng đồ HQ trên chiếc bàn nhỏ trước mặt Trung úy Minh, anh chỉ cho tôi đâu là điểm xuất phát, đâu là tuyến xuất phát, đâu là tuyến tấn công, và đâu là mục tiêu. Nhìn những nét vẽ xanh đỏ trên bản đồ tôi nể anh quá, nhất là lúc anh vạch cho tôi thấy cách điều phối với các đơn vị yểm trợ. Vì là lần đầu tiên tôi chạm với thực tế chiến trường nên cái gì cũng mới lạ đối với tôi, khiến tôi khó có thể góp ý kiến mà chỉ biết cất tiếng ‘ừ..ừ..’ dấu hiệu của sự đồng ý.


Anh nói tiếp, “Tuy rằng Thiếu úy là ĐĐP/ĐĐCH hiện nay, nhưng trong cuộc hành quân tái chiếm ngày mai, Thiếu úy không có nhiệm vụ gì ngoài việc theo tôi để học hỏi cách điều quân. Đại úy đồng ý để một ‘tài lọt’ mang Ba-lô cho Thiếu úy, để Thiếu úy dễ dàng theo kịp đoàn quân.” Ngừng một chút rồi anh lại nói tiếp, “Ngày mai lúc 3:00 giờ sáng, tàu Hải quân đến đây đưa chúng ta đến Cù Lao Tân Quy, giáp ranh CK/Kế Sách/Sóc Trăng. Do đó phải mất 45 phút tàu mới tới đó. Vị trí đổ bộ cách xa đồn Tân Quy cỡ 2 cây số, và nơi đó là tuyến xuất phát của chúng ta. Theo tôi nghĩ, giờ này VC không dại gì bám lấy đồn Tân Quy mà đang chờ ta tại con kinh ‘Cái Lập’ Do đó tuyến tấn công của chúng ta là 300 mét cách kinh ‘Cái lập’ thay vì đồn Tân Quy. Thiếu úy có điều gì cần hỏi, cứ hỏi, nếu không Thiếu úy có thể ra về để nghỉ ngơi chuẩn bị cho cuộc hành quân sáng sớm mai.”


“ Cám ơn sự chỉ dẫn của Trung úy. Tôi không có gì để phải hỏi.” Tôi nói.


“Tốt! Thôi Thiếu úy hãy ra về.” Trung úy Minh tiếp lời tôi.



Cỡ 2:00 giờ sáng tôi nghe tiếng rầm rầm, bước chân của những người lính thuộc các ĐĐ. 2,3,4 kéo về cùng tiếng còi báo thức của Thượng sĩ Dương, mọi người thức dậy chuẩn bị ba-lô súng đạn để lên đường. Đúng 3:00 giờ tàu Hải Quân cập bến ngay trước BCH/LĐ, lần lượt các ĐĐ/TC.1,2,3,4, rồi ĐĐCH và sau chót là BCH/LĐ lên tàu. Tàu rời bến lúc 3:30 sáng. Tiếng máy ì ạch trong đêm trên sông vắng nghe thật não nùng buồn tẻ. Cảnh mặt nước sông mờ mờ bỡi làn khói lạnh ban mai, cho tôi cảm giác như đang lạc vào cõi ma quái âm u. Cũng cái cảnh vật buổi sáng mờ mờ như Đà Lạt nhưng Đà Lạt, trong tôi, chẳng khác nào là cõi Thiên Thai, còn bây giờ ở đây sao tôi tưởng chừng là Địa Ngục có phải chăng tôi cảm nhận rằng tàu đang đưa tôi vào “vùng đất mà cái Tử lớn hơn cái Sinh?!!!”
 
Tôi đang chìm đắm trong suy tư thì nghe tiếng máy tàu hơi đổi khác, tiếng máy kêu như to hơn vài giây trước đây, tôi chợt nghĩ có lẽ tàu đang mắc cạn và đang cố vượt qua đụn cát hay bùn nào đó dưới dòng sông. Nhưng không phải vậy, tàu đang hãm máy để dừng lại. vì tôi nghe Trung úy Minh lệnh cho mọi người đổ bộ. Từng người lao xuống mặt nước đen ngòm và tôi cũng lao theo. Chưa kịp giật mình vì cái lạnh thì tôi bị chìm sâu trong nước, tôi cố trồi lên, nhưng trồi lên lại chìm xuống, tôi cố bơi nhưng đôi giày, nón sắt, và súng đạn như cầm cản cánh tay tôi. Tôi uống nước nhiều đến độ làm tôi muốn tắt thở nhưng cũng cố lên để bắt kịp bạn bè. Lên được trên bờ tôi thở đốc, nước từ trong miệng tôi ào ạt tuông ra. Thấy vậy Hà (người mang Ba-lô cho tôi) hỏi tôi, “có sao không Thiếu úy?” thì tôi lắc đầu nở một nụ cười cho đỡ ngượng và trả lời là “Không!” Hà cũng đáp lại tôi với một nụ cười như để tỏ sự ‘cảm thông’. Rồi Hà vui vẻ bày tôi cách vượt những đoạn sông sâu ngập đầu như vừa trải, ‘là phải nín hơi đi ngầm’ thì không có chuyện bị trồi lên trụt xuống như tôi. Tôi cám ơn Hà cho tôi bài học thật là quý giá và đồng thời nói một câu buâng quơ rằng, “ví như tàu đỗ bến gần hơn thì tốt biết bao!” Hà lại cười bảo Hải Quân họ không ưa những gì ‘nông cạn’ và cũng chẳng ưa mấy ‘bà cỡ tuổi 41, 40’. Câu nói Hà có chút khôi hài và thâm thúy, bây giờ Hà trước mắt tôi không là Hà đến nhận lãnh mang chiếc Ba-lô cho tôi lúc ban đầu. Tôi vui và thầm nghĩ từ đây tôi có bạn, có thể cùng tôi chia sẻ những vui buồn.



Đường tiến quân không có nhiều chướng ngại, nên đến 8:000 sáng LĐ đã làm chủ tình hình cả khu vực quanh vùng căn cứ Tân Quy. Tôi theo toán Trinh sát vào trong đồn để thám sát, thấy có 15 xác lính nằm chết ngổn ngang, chúng tôi tiếp tục tiến sâu vào những con hầm bị sập thì khám phá thêm 4 xác của vợ lính nằm chết ngay đơ. Tôi không thấy vết đạn nào lưu trên thân thể những người đàn bà xấu số, nên không rõ nguyên nhân họ chết ra sao, cho đến khi khiêng xác họ ra khỏi hầm gặp phải cơn mưa làm quần áo họ bị thấm ướt rã ra để lộ cả thịt da cho tôi hiểu họ chết bỡi ngạt do hơi lửa nung đốt. Tôi cúi mặt dành một phút im lặng cho những người bạc mệnh và tự dưng cảm thấy no hơi khi Hà mang đến cho tôi mấy miếng lương khô. Tôi rảo bước quanh đồn nhìn cảnh điêu tàn thấy lòng thật buồn bã, thế nhưng những người lính trong LĐ tôi vẫn cười nói như vô tình. Tôi tự hỏi, đời họ đã chứng kiến nhiều cảnh bi thương như thế nên đã quen rồi, niềm xúc cảm của họ đã hóa đá hay chăng?!



Chiều đến lệnh CK cho LĐ tôi đóng quân tại chỗ, những đám lửa bập bùng khơi sức sống lại hồi sinh, tiếng đàn hát nổi lên xóa tan phần nào nỗi buồn mất mác, và bài ca “Kỷ Vật Cho Em,” hạ sĩ nhất Tài hát, tôi chợt thấy buồn cho thân phận những người lính trận hôm nay. Từ sáng cho đến 8 giờ tối tôi vẫn thường xuyên đi quanh quẩn, suy nghĩ mông lung cố gắng tìm ra một hướng đi mà huớng đi đó tôi có thể mở gói hành trang trường Mẹ ban cho ra dùng, nhưng tôi không thấy có cách nào đem ra áp dụng. vì địa hình thực tế quá khác xa với mô hình được tạc vẽ nơi Trường! Tôi nghiệm thấy lời ông LĐT nói đêm đầu tiên có phần đúng, nếu tôi không có mặt để chứng kiến đời sống của người lính hôm nay thì làm sao hiểu họ cần có những gì? Và dẫu rằng hôm nay tôi hiểu nhu cầu của họ, nhưng liệu rằng tôi có khả năng làm được hay nhờ ai chấp cánh cho tôi?!


Đêm càng về khuya khí trời càng trở lạnh và càng lạnh hơn bởi cái tử khí quanh đây. Hà mang đến cho tôi một tấm chăn để quấn quanh người cho đỡ lạnh, nhưng tôi nói không cần vì tôi sắp đi ngủ rồi!




Sáng ngày hôm sau Trung úy Minh nhận lệnh, LĐ tôi phải dựng lại căn cứ Tân Quy. Lệnh phát hoang được ban ra, trung đội Thám sát lại một lần nữa lục tìm những cạm bẫy mà VC có thể để lại trong khu vực. Đại úy LĐT, Đại úy Long, Trung úy Vân, và Trung úy Minh đi tìm địa điểm lập đồn mới, tôi cũng được cho theo nhóm người quyết định chiến trường.


Địa điểm được chọn, LĐT, Đại úy Long, Trung úy Minh trở lại căn lều Chĩ huy của LĐ. Trung úy Vân trở lại ĐĐ của ông. Còn tôi, không ai bảo tôi phải theo họ và tôi cũng không thấy cần trở về chỗ nghỉ đêm rồi, nên tôi lợi dụng dịp đó đến làm quen với anh em lính đang làm nhiệm vụ phát hoang, nhất là các anh em lính thuộc các ĐĐ đã không có mặt trong ngày tôi ra mắt LĐ. Thật là vui, tôi đi đến đâu cũng được anh em tiếp đón chào hỏi niềm nỡ. Những mẫu chuyện tiếu lâm tạo nên những tràng cười như pháo nổ, cộng thêm tiếng búa rìu, cây đổ làm sống động cả khu rừng. Chiều đến, vài đám mây đen kéo đến rồi một cơn mưa dài nhè nhẹ tuông rơi. Cảnh sống động ban trưa dần dần giảm xuống và giảm xuống đến tận cùng khi một trái lựu đạn VC gài trên cây nổ tung xé nát thịt da của trung sĩ Khi! Tôi cúi mặt bước theo chiếc băng ca khiêng người xấu số, bước qua từng đám người tôi thấy ai nấy đều nhăn mặt cúi đầu! Và đêm hôm đó những hình ảnh bi thương cứ vật vờ trong trí khiến giấc ngủ tôi cũng ở trạng thái vật vờ.



Bình minh thứ ba lại lố dạng, 5 người Sĩ quan chúng tôi lại hội họp bên nhau. Hơi nóng từ các chung trà bốc lên hòa cùng khói thuốc, tiếng nói lâm rang xóa tan phần nào những nỗi buồn ngày qua. Nắng lên sưởi lòng thêm chút ấm, những tiếng bùa rìu lại vang dậy trong khu rừng, những bếp lửa hồng lại thắp sáng, tiếng ca tiếng đàn lại trổi dậy mỗi cuối ngày. Ngày qua ngày, nhạc khúc trưa chiều vẫn thế và ngày thứ 25 thì nhiệm vụ được hoàn thành. LĐ trao trả vùng rừng Tân Quy cho một trung đội Nghĩa quân mới tới. LĐ lại trở về Tiền cứ ở Tích Thiện thân yêu. Và tiệc nhậu diễn ra và tôi lại hát bản tình ca ‘Over Thau’ bất tận!



2/ Phút giây làm công tác Dân Vận


Bảy ngày nghỉ dưỡng sức, tôi cùng Hà đi dạo chơi quanh vùng lân cận Tiền cứ LĐ. Tôi được làm quen với vài cô gái nửa ‘Quê’, nửa ‘Tỉnh’ Các nàng có những tên như là ‘Hai Hột, Sáu Pomat, Tư Bom Bừa, Chín Vú Dài…’ nghe cũng vui tai. Mỗi cô đều có một câu chuyện dài tạo nên cái biệt hiệu. Tôi thích thật nhiều về giai thoại tạo cái tên ‘Sáu Pomat’ nên đã dệt được 4 câu thơ gửi tặng cô nàng:



Chân em lở, khơi lên nhiều trăn trở.
Ước mơ sao thành thuốc ‘mát’ xoa em
Xoa nỗi khổ, nhọc nhằn em gánh chịu
Cho tiếng lòng hòa khúc nhạc đêm đêm!
(5/1971)



Sau khi nhận được bài thơ nàng đi khoe cùng xóm, mọi người đồn ầm lên là tôi đã ‘chịu’


nàng Sáu Pomat, còn nàng thì gặp tôi cứ mủn mỉm cười. Rồi một hôm nàng mời tôi đến nhà chơi cho biết… (dĩ nhiên có ăn nhậu,) và trong dịp này tôi lại được làm quen với vài người hàng xóm của nàng. Tôi nhận thấy ai cũng tỏ ra qúy mến tôi làm lòng tôi mở hội, nhất là khi nghe ý của ông già cô muốn nhận tôi làm con nuôi. Ông nói, “ Sáu này, từ nay con phải kêu Thiếu úy Phò là anh năm nghe không. Ba muốn cho Thiếu úy thế vai trò đứa con trai thứ 5 của ba, anh con, đã chết trong chiến trận năm qua đó. Ngày hôm nay, nếu Thiếu úy cho phép, ba sẽ nhận Thiếu úy làm con nuôi. Ba không nghĩ ý ba là đùa cợt!” Nói xong mắt ông như đang dõi về một nơi xa nào đó. Thấy thế nên tôi vội nói, “Bác không đùa cợt đâu, cháu hiểu bác. Cháu mà được bác nhận làm con nuôi thì phước ba đời cho cháu rồi. Cám ơn bác, cám ơn bác thật nhiều.” Rồi tôi quay sang em ‘Sáu Pomat’ cười nói, “ Còn em, Sáu! em có thấy vui không? Nào thử kêu anh là anh năm coi ngọt ngào đến độ nào! Nghe anh đếm nè 1, 2…” Nàng quay mặt đi nơi khác, rồi ‘HỨ’ một tiếng làm mọi người cười ồ lên. Và đến lúc đó, tôi nhận thấy cuộc vui cũng đã đến hồi cần chấm dứt, nên tìm cách nói khéo để kiếu từ và trở về đơn vi.



3/ Cuộc hành quân Liên Quân


Đúng! cuộc vui nào cũng đến giờ phải chấm dứt và giờ đó đã đến với LĐ tôi. Lệnh chuẩn bị cho cuộc hành quân 7 ngày liên tục, cuộc hành quân Liên Quân, phối hợp với một TĐ chủ lực thuộc SĐ.7, để càng quét ‘vùng xôi đậu’ liên ranh hai Chi khu Trà-Ôn/VL và Chi khu Cầu-Kè/VB. Tôi được lệnh đến phòng HQ để xem phóng đồ hành quân như thường lệ. Và theo kế hoạch thì LĐ của chúng tôi là phải tiến chiếm ngôi ‘Chùa Cây Xanh’ ở Cầu kè/VB trước khi hoàng hôn buông xuống của ngày một, để sáng sớm ngày hôm sau có thể ‘ập’ vào khu dân cư sống dọc bên rạch Trà Ngang trước khi bình minh lố dạng.


Cuộc hành quân ngày 1 không chạm địch nên không có gặp gì khó khăn, ngoại trừ phài hành quân trong mưa tầm tã. Sáng sớm ngày hôm sau, toán quân đầu của chúng tôi vừa đến xóm nhà dân dọc bên kinh ‘Trà Ngang’ thì bị VC bắn vài loạt súng, cả toán lính đi đầu tản ra, nằm xuống bắn trả thì vướn phải 2 trái mìn, chôn dưới mặt lộ, nổ tung làm hai người lính phải bị thương. Chúng tôi tràn vào nhà lục soát thì bắt gặp một miếng thiết có vẽ lá cờ MTGPMN để trên mái nhà. Chúng tôi đoan quyết đây là cơ sở VC nên tiếp tục tra hỏi thì chủ nhà nói, “Các ông muốn bắn giết hay làm gì thì làm vì sống ở vùng này chúng tôi phải chấp nhận làm thân phận cây cỏ , gió chiều nào phải xoay theo chiều đó.” Ông chủ nhà nói thêm, “Nếu các ông không tin thì hãy lật xem mặt kia của miếng thiết thì biết?” Chúng tôi làm y như lời ông nói. Ôi sự thật đau lòng, lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” nằm chung cùng một miếng thiết với “Lá cờ nửa đỏ nửa xanh có ngôi sao vàng chính giữa!


Qua ngày hành quân thứ ba, chúng tôi bắt tay được với TĐ của Thiếu tá Tuệ, thuộc Trung Đoàn 12, Sư đoàn 7, cũng đang hoạt động trong vùng này và sau đó 2 đơn vị, một ĐPQ và một CLQ chia vùng tảo thanh lục soát. Nhiệm vụ hoàn tất vào buổi chiều ngày thứ 4, kể từ lúc chia tay. Và sau đó LĐ tôi trở về Tiền cứ Tích Thiện nghỉ ngơi.

Với cuộc hành quân này tuy không có gì đặc biệt đáng nói, nhưng đối với tôi có hai sự kiện tôi nhớ mãi:


a/ Được lính ca ngợi can đảm và tài giỏi 



- Can đảm: Trưa ngày thứ năm của cuộc hành quân, BCH/LĐ đang băng qua một thửa ruộng thì bị VC ở trong vườn bắn ra xối xả, ai nấy đều nhảy xuống mương, tôi cũng nhảy theo nhưng khi thấy dưới chân có nhiều con gì rất dễ sợ (tôi không biết đó là con đỉa) bèn chạy lên bờ quên cả đạn VC đang đan cày dưới chân tôi!!!


- Tài giỏi: Và trong buổi chiều ngày sau đó, trời đổ cơn mưa đường rất trơn trợt, thế mà chúng tôi phải băng qua chiếc ‘Cầu khỉ’ thật cao. Lính tráng, ai nấy băng qua cây cầu một cách dễ dàng, nhưng đối với tôi thật là khó khăn vì vừa bước chân lên thì đã muốn ngã xuống vực sâu bèn thụt chân lại, hai ba lần gì đó làm cản trở cuộc tiến quân, Đại úy Long thấy thế quở trách tôi. Tôi biết rằng tôi không thể nào băng qua cây cầu quái qủy này được nên có dự tính lội xuống mương để khỏi làm phiền bất cứ ai, thì VC ở đâu đó bắn ra mấy loạt súng và nhờ có mấy loạt súng này vịn đẩy chân tôi, giúp tôi qua cầu không mấy khó khăn. Tôi quay nhìn lại phía bờ trước đó vài giây tôi đứng, thì thấy lính vỗ tay hoan hô tôi -  giỏi không ai bằng!!!)



b/ Gặp được bạn (NT2 Huỳnh Công Phát)



Chúng tôi lại trở về Tiền cứ Tích Thiện nghỉ ngơi được vài hôm thì Thiếu tá Tuệ dẫn một phái đoàn thuộc TĐ ông đến thăm viếng xã giao và trong phái đoàn này có bạn tôi, NT2 Huỳnh Công Phát, chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng. Và sau tiệc nhậu, Phát đề nghị tôi thành lập một đội bóng chuyền để thi đấu vui chơi. Kết quả, dù sân nhà chúng tôi vẫn bại, tôi bắt tay Phát cười và nói rằng chúng tôi phải nhường lực lượng đàn anh. Phát cũng cười vỗ vai tôi rồi từ biệt với lời chúc nhau khoẻ mạnh, bình an. Và kể từ đó về sau tôi chẳng gặp lại Phát lần nào nữa, dù rằng sau đó LĐ tôi được điều động tăng cường cho chiến trường ‘Cái Bè - Sầm Giang – Cai lậy’ khá lâu.



4/ Trận đánh tại Đập Bà Phấn


Cứ thế ngày qua tháng lại cũng giống nhau, nhiệm vụ chính của LĐ tôi là hành quân, tảo thanh, phát hoang, và bình định. Mỗi đợt hành quân thường kéo dài 5 đến 7 ngày rồi về tiền cứ nghỉ ngơi vài bữa rồi tiếp tục ra đi. Những ngày có sự hiện diện của TĐ Thiếu tá Tuệ ở trong vùng liên ranh với chúng tôi thật là bình yên.
 
Mãi cho đến ngày 13 tháng 9/1971 chúng tôi mới có một cuộc đụng độ nẩy lửa với VC. Số là trước đó gần một tháng đồn Me Tây thuôc CK/Trà Ôn bị VC bao vây kiềm chế mọi hoạt động, tình trạng lương thực và đạn dược dường như khô cạn, do đó lệnh cấp trên cho LĐ tôi dọn đường để tiếp tế. Lệnh hành quân được ban ra, trung úy Minh và LĐT phối hợp lập sơ đồ Hành quân. LĐT tiên đoán sẽ có đụng độ mạnh, nên trong buổi họp tại phòng hành quân, LĐT chỉ đích danh tôi tăng phái cho ĐĐ2, để hộ trợ cho Trung úy Long, ĐĐT, dẫn LĐ đi đầu. Khi ĐĐ.2 của chúng tôi gần tới con kinh chắn ngang lộ tiến quân gọi là ‘Đập Bà Phấn’ thì bị lực lượng VC chận đánh phủ đầu với hỏa lực rất căng. Sau 10 phút giao tranh, Trung úy Long bị trúng đạn, tôi báo cáo, “Long Vân (LĐT), Công bằng 2 (ĐĐT/ĐĐ.2), đã uống Whiskey (Wounded)”. Thì ông ra lệnh tôi thay Trung úy Long cho dàn quân bắn cầm cự, để ông điều động LĐ trừ chạy ra phía ruộng trống đánh bọc sườn. Tôi nghe ông nói tôi toát mồ hôi hột, chiến thuật nào cho quân chạy sồng sỗng ngoài cánh đồng ruộng trống không?!!! Tuy nghĩ vậy nhưng tôi không để việc này phân tâm hay chi phối đầu óc tôi trong lúc làm việc. Tôi lệnh các trung đội dàn rộng ra, tìm chỗ núp, và tập trung hỏa lực bắn rát về phía đối phương. Tiếng đạn bay vèo vèo trên đầu, đạn pháo nổ quanh người lúc đầu tôi hơi sợ, nhưng khi thấy máu của đồng đội tôi đã đổ thì máu trong tôi sùng sục sôi lên, tôi không còn sợ chết mà chỉ muốn xông lên tiêu diệt kẻ thù trước mặt để báo thù cho bạn, nhưng nhiệm vụ của tôi không là tiến công nên tôi đã dùng tiếng hô ‘Xung phong, xung phong, xung phong…’ để thay cho bước tiến. Các binh sĩ dưới quyền chỉ huy của tôi cũng hô to như vậy, tiếng hô dường như áp cả tiếng súng của đôi bên. Và một lát sau tôi nghe một tràng dài ‘Whistle’ phát ra từ lực lượng LĐ trừ, tôi biết rõ đó là hiệu lệnh tấn công của LĐT nên tôi ra lệnh cho lính tôi ngưng bắn mà chỉ dùng miệng la to. Tiếng hò, tiếng súng inh ỏi của các binh sĩ thuộc LĐ trừ làm lực lượng phòng thủ cũa VC mất tinh thần đứng dậy chạy làm bia đạn cho các chiến sĩ đang trong bước tiến công, thân xác chúng trôi dật dờ dưới nước, để lại trên bờ  gồm 18 AK  + 1 K.54 + 1 trung liên Tiệp + 2 Phóng lựu + 1 B.41 + 1 PRC.25 + một số Đạn và Lựu đạn vãi tung trên chiến địa.
 
Sau chiến thắng cấp trên cho LĐ rút quân về nghỉ, tiệc ăn mừng nhậu nhẹt lại diễn ra. Chiến thắng đó không chỉ làm nức lòng các chiến sĩ LĐ mà ấm cả lòng dân. Tôi được chia phần chiến thắng bằng chiếc ‘Anh Dũng Bội Tinh/Ngôi Sao Bạc’ và vì chính chiếc huy chương này đã gắn chặt đời tôi với các ĐĐ/TC hơn là BCH/LĐ. Đến tuần lễ thứ tư của tháng 11/1971, tôi được LĐT gọi về dự tiệc do toán Cố Vấn Mỹ đãi, sau này tôi mới biết đó là ngày Lễ Thanksgiving truyền thống của Dân tộc Hoa kỳ, vì thực phẩm chính bữa tiệc là thịt con Gà Tây to tổ bố. Trong buổi tiệc này ông gợi ý tôi nhận làm ĐĐT/ĐĐ.2 thay thế cho Trung úy Long, ông nói, “Phò, tao đề nghị mày nên làm đơn xuất ngành để hợp pháp nhận lãnh chức vụ ĐĐT vì tao thấy mày có khả năng và đầy triển vọng, thêm vào đó tao thực sự cần mày thay thế thằng Long, vì thằng Long từ lâu nó có dự tính xin thuyên chuyển về quê của nó và chắc kỳ này là dịp tốt cho nó ra đi.”


Lời ông nói mới nghe qua thì quả ông mở rộng đường cho tôi tiến bước, nhưng cái gương như Đại tá Lưu Kim Cương và vô số Sĩ quan cao cấp khác cho thấy có chức vụ cao cũng không bảo đảm có cuộc sống lâu dài! ĐĐT có cả danh lẫn thực và có cơ tạo hái ra tiền, nhưng những cái đó không phải là mục đích tôi cần đạt đến, khóa Sĩ Quan Báo Chí ở Hoa Kỳ vẫn còn bùng cháy mạnh trong tôi, do đó tôi nói với ông ta, “Vấn đề đó để sau buổi tiệc này rồi bàn tính, bây giờ hãy vui với ban Cố Vấn cho họ vui!” Ông đã nghe lời tôi nên không còn bàn thảo việc riêng tư của đơn vị mà nâng ly chúc mừng sức khỏe cho nhau. Đêm càng về khuya rượu càng thêm ngọt, nhưng cuộc vui nào không chẳng có lúc tàn đâu! 11:00 giờ đêm ai về chỗ ngủ, tôi lại một lần nữa bò càng khiến hai người lính phải đến dìu tôi.



Tôi đang mơ màng nửa say nửa tỉnh thì nghe một loạt súng nổ vang cùng có tiếng người la hét bên ngoài: “VC bò vô tấn công! Thức dậy, thức dậy! 4.2 bắn trái sáng lên ngay đi.” Lập tức trái sáng được bắn lên, mọi người đều ào ào chạy ra phòng tuyến. Tôi cũng chạy ra và thấy ông LĐT đang đứng thẳng trên bờ bi phòng thủ một mình.


Tôi tiến lại gần ông cất tiếng hỏi, “Sao Đại úy hay dữ vậy? Sao thấy VC bò vô tấn công?”


Ông nở nụ cười và nói trong giọng nhè nhè, “Uống nhiều rượu nóng quá, không ngủ được tính leo lên bờ bi đứng hóng mát, không ngờ thấy mấy đám lúa trước mặt giao động lạ kỳ, tao thử bắn vào chỗ có di động thì không ngờ thấy VC đứng lên bỏ chạy. Chó ngáp phải ruồi chứ có giỏi gì! Thôi đi ngủ.”



Sáng hôm sau tôi vác súng trở lại sống với anh em ĐĐ.2 cho mãi đến trung tuần tháng12/1971 ông lại gọi tôi về BCH/LĐ. Về đến nơi, tôi mừng rỡ vì thấy trung úy Long bình phục trở về, thêm vào đó LĐ tôi có về thêm một sĩ quan mới, Đại úy Phạm Tấn Nghiệp, xuất thân tử Trường Võ Bị Quốc Gia, Đà Lạt/Khóa 19. Ông nói với tôi, Đại úy Nghiệp sẽ đảm nhận chức vụ LĐP/LĐ rồi ông nói tiếp, “Nay có Trung úy Long về, thôi tạm thời Thiếu úy Phò trở lại BCH để làm vài công tác khẩn cấp là dựng hang đá mừng Giáng Sinh cho anh em Binh sĩ và dân chúng trong vùng vui chơi, thứ đến chuẩn bị thực hiện ‘Đặc San Xuân cho LĐ, để đánh dấu một thời thạnh trị của chúng ta ở nơi đây! Đại úy Nghiệp nghĩ sao?”


Đại úy Nghiệp cười đáp, “Cái đó do Thiếu úy Phò, chứ tôi mới chân ướt, chân ráo về có biết gì đâu!”


Ông Đại úy LĐT cũng cười rồi nói, “Lẽ dĩ nhiên Thiếu úy Phò đảm nhận phần vụ chính, nhưng anh cố gắng giúp đỡ Thiếu úy Phò. Theo tôi, một mình Thiếu úy Phò khó mà thực hiện, anh hãy hứa một tiếng cho Thiếu úy nó an tâm!”
“Thôi được, tôi sẽ cố gắng cộng tác với Phò!” Đại úy Nghiệp cười nói.


Lại một bữa tiệc nhậu lại diễn ra và lần này tôi uống nhiều hơn những lần trước, không biết tửu lượng tôi tăng hay do quá vui nên quên cả men say?!!!



5/ Hoạt dộng CTCT trong khi Tác Chiến


Sáng ngày hôm sau trước khi về đơn vị Trung úy Long mời tôi đi đến CLB/LĐ. uống cà phê, để gọi là cám ơn tôi đã thay anh dìu dắt ĐĐ.2 trong lúc anh nằm viện thật chu toàn. Tôi cười bảo anh đừng quan tâm về việc ấy, hãy quên việc những ngày qua để nhẹ gánh cho tương lai. Anh khen tôi quả không hổ danh SQ xuất thân từ quân trường Đà lạt, làm tôi cảm thấy mát lòng nhưng tuyệt nhiên tôi không nói gì chỉ cười và chìa tay nắm lấy tay anh cùng cùng lời chúc, “Mãi an lành trong chiến trận!” và anh cũng chúc tôi những lời tương tự như vậy.


Trung úy Long đi rồi, tôi quay vào doanh trại Tiền cứ. Đầu óc tôi lại rối lên bỡi hai công việc rất cấp bách mà LĐT vừa giao phó ngày hôm qua:



- Thực hiện Hang Đá Giáng Sinh
- Thực hiện Đặc San Xuân Nhâm Tý (1972)
 
Việc dựng ‘Hang Đá Giáng Sinh’ tôi nghĩ có thể nhờ anh em thuộc Khẩu đội 4.2 (ở chung trong doanh trại) phụ trách, do đó tôi vội vã đến gặp Trung sĩ Khuynh (vì tôi biết anh là người theo đạo Công Giáo.) Thấy tôi bước vào anh lật dật đứng dậy chào tôi trong thế chào trình diện, tôi cười bảo anh đừng quá giữ quy cách nhà binh vì hôm nay tôi đến với anh không trong tư cách là một Sĩ quan, tôi chỉ đến với anh trong tư cách một tín hữu trong giáo phận. Tôi thấy anh trố mắt tỏ vẻ không hiểu nên tôi cười và nhẹ giọng nói, “Anh Khuynh, Đại úy LĐT muốn năm nay chúng ta thực hiện ‘Hang Đá Giáng Sinh’ cho anh em binh sĩ và dân chúng trong vùng vui chơi, anh nghĩ sao?”
“Thật thế sao?” Anh tỏ vẻ vui mừng hỏi.


Tôi điềm tĩnh đáp, “Thật đó! Và tôi thấy ý kiến của Đại úy là hợp tình hợp lý bỡi lẽ chúng ta còn sống đến ngày hôm nay là do hồng ân của Chúa che chở cho chúng ta. Hơn nữa chúng ta đang chiến đấu cho hạnh phúc của người dân ở đây thì ít ra ta cũng nên cho họ nhìn thấy cái thành quả của nó phải không anh Khuynh?”


Khuynh chắc chắc lưỡi mấy cái rồi cười nói, “Thật là tuyệt, từ ngày về đây, đã trên hai năm, em vẫn muốn làm việc này mà không dám đề đạt ý kiến, nay Thiếu úy về lại làm được. Thôi Thiếu úy đừng lo, hãy khoán trắng cho em, em hứa sẽ làm một hang đá thật đẹp.”


Tôi thật vui mừng nên nói, “Tôi tuyệt đối tin vào khả năng và nhiệt tình của anh, tuy có cần gì anh cứ nói với tôi, tôi sẽ nhờ Trung úy Ân hỗ trợ, anh biết ông ta chứ?”


“Trung úy Ân là người tốt, là người hữu dụng cho LĐ chúng ta, ai mà không biết ông ấy!” Huynh nói.


Nhận thấy anh quá nhiệt tình trong công việc, nên tôi an tâm và cũng thấy không cần phải nói thêm gì nữa nên chỉ đưa tay bắt cùng lời chúc anh thành công trong công việc sắp làm.



Xong việc bàn thảo về ‘Hang Đá Giáng Sinh’, đầu óc tôi lại nghĩ đến ‘Đặc San Xuân Nhâm Tý (1972) cho LĐ, đây lại là một công việc đầy khó khăn vì tôi không thấy một ai trong LĐ (kể cả tôi) có đủ điều kiện đóng góp bài vở, cho dù họ có khả năng nhưng không có thì giờ, hóa ra không cũng hoàn không. Tôi tìm đến ông LĐP tham khảo ý kiến thì tình cờ gặp Trung úy Du, Trưởng B.TT/LĐ ở đó. Biết cái khó khăn của tôi nên Trung úy Du hứa sẽ giới thiệu tôi với người bạn gái của anh, đang dạy tại trường Tiểu học Cơ sở Tích Thiện, rồi nhờ người này giới thiệu tôi đến cô Hiệu trưởng Trường.  Và từ đó tôi có thể nhờ các Thầy Cô đóng góp bài viết.



Sáng ngày hôm sau tôi đến ‘Trường Tiểu học Phổ thông’ của Xã Tích Thiện . Cô giáo ra tiếp đón tôi chính là cô Hiệu trưởng của Trường này. Sau lời chào hỏi xã giao tôi tự giới thiệu tôi với cô và nói mục đích của cuộc thăm viếng trường cô hôm đó. Thật là may mắn, cô không những niềm nỡ tiếp chuyện với tôi mà còn hứa sẽ vận động các Thầy Cô trong Trường, mỗi người đóng góp một bài. Lời cô khiến lòng tôi mở hội và tự dưng một tình  cảm đặc biệt đối với cô len lén dậy trong tôi. Dù là vậy, tôi không tỏ ra cần vấn đề gì khác, ngay cả tên cô, tôi cũng chẳng hỏi làm gì. Tôi đứng dậy cáo từ trở về đơn vị, chân tôi mới bước đi vài bước thì nghe tiếng cô gọi tôi thật nhỏ đàng sau, “Thiếu…ú..y!” Tôi quay mặt lại thì thấy cô cúi mặt nói bâng quơ như đang nói với chính nàng, “Thôi…đừng suy nghĩ gì!” rồi quay lưng nhẹ bước vào trong. Chính hình ảnh này làm tôi ray rức nhiều đêm sau đó, nhưng nhớ câu: “Thôi…đừng suy nghĩ gì!” tôi cũng cố làm quên.



Hang Đá Giáng Sinh do Trung sĩ Khuynh làm thật là kỳ công và thật là đẹp, những dàn đèn xanh đỏ, chớp tắt tạo khung cảnh thêm huyền bí lung linh của đêm Chúa Giáng sinh. Người người trong khu vực đua nhau đến xem tạo nên cảnh thanh bình thạnh trị, mở kỷ nguyên đầu cho Tích Thiện/Trà Ôn. Tiếng ngợi khen vang xa đến thành thị, ai cũng ghi công đầu cho ông LĐT và tôi. Tiếng ngợi khen còn vang xa hơn nữa khi Đặc San Xuân ‘Nhâm Tý’ (1972) được trình làng. Tiếng khen đó không chỉ làm cho ông LĐT và tôi nức lòng nhưng niềm vui còn lan rộng trong toàn binh sĩ và người dân!


Nhưng người đời thường nói, “không có cuộc vui nào kéo dài bất tận!” Cuộc vui của chúng tôi và người dân Tích Thiện chấm dứt sau đó, khi cấp trên vinh thăng cấp bậc Thiếu tá cho Đại úy LĐT chúng tôi, đồng thời thuyên chuyển Đại úy LĐP, Phạm Tấn Nghiệp, đi phục vụ đơn vị khác và đưa Đại úy Lê Xuân Sử (một Sĩ quan Văn phòng chưa có kinh nghiệm tác chiến) đến thay ông, rồi kế tiếp gửi thêm 5 Chuẩn úy (Tiểu, Tốt, Bình, Hoàng, và Bá) mới ra trường Thủ Đức về với chúng tôi.



6/ Vào Chiến Trường “Cái Bè – Sầm Giang – Cai Lậy”


Một cuộc họp toàn thể các SQ trong LĐ diễn ra. Thiếu tá LĐT đọc quyết định của cấp trên là cải danh “Liên đội 4/78” chúng tôi thành “Tiểu đoàn 467”. Rồi ông phân định vai trò các sĩ quan mới bổ sung như sau: Trung úy Ân đảm trách B.1 (Quân số), Chuẩn úy Tiểu đảm trách B.4 (Tiếp liệu), Chuẩn úy Tốt đảm trách B.6 (Truyền tin) thay cho Trung úy Du sắp thuyên chuyển, Chuẩn úy Bình đảm trách ĐĐP/ĐĐ.2, Chuẩn úy Hoàng đảm trách ĐĐP/ĐĐ.3, và Chuẩn úy Bá đảm trách ĐĐP/ĐĐ.4. Khi chấm dứt phần phân nhiệm ông cất tiếng hỏi, “Các anh em có ý kiến gì không?”


Ông vừa dứt lời thì Đại úy Sử lên tiếng nói, “Ai đảm trách B.5 (CTCT) vì tôi được biết Thiếu úy Phò hầu như là một SQ/TC bỡi luôn có mặt trong các cuộc hành quân?”


Ông Thiếu tá TĐT nói, “B.5 không quan trọng! Ta không cần đề cử một SQ làm phần vụ này, từ trước đến nay Trung úy Ân vẫn kiêm nhiệm, thì hôm nay Trung úy Ân vẫn tiếp tục làm như vậy. Tôi thấy chiến trường cần Thiếu úy Phò nhiều hơn! Thêm vào đó anh mới về có thể chưa rõ hết sự việc (ý ông muốn nói Đại úy Sử chưa có kinh nghiệm chiến trường) nên tôi để Thiếu úy Phò cận kề bên anh vì khi chúng ta đến Định Tường, TĐ ta sẽ phân thành hai cánh, một cánh do tôi chỉ huy và một cánh do anh chỉ huy, Thiếu úy Phò sẽ giúp anh trong việc điều quân ở bước đầu.” Và rồi ông tiếp hỏi ai còn thấy có gì không ổn trong việc sắp xếp của ông mạnh dạn nêu ý kiến. Tất cả im lặng nên sau đó ông tuyên bố buổi họp chấm dứt và ra lệnh B.1 lập biên bản gửi về cấp trên.


Và một buổi tiệc nhậu linh đình được diễn ra trong ngày hôm đó, có mặt tất cả viên chức xã, ấp và các người quen thân với ông, trong xã Tích Thiện đều đến tham dự.



Lợi dụng lúc mọi người trong cơn vui say, tôi lần đến trường Tiểu học cơ sở trong dự tính nói lời ‘cảm ơn’ đã giúp tôi hoàn tất Đặc San Xuân cùng để từ giã các Thầy Cô, đặc biệt là cô Hiệu Trưởng, thì thật bất ngờ cho tôi khi tôi còn cách trường khoản 50 thước thì cô Hiệu trưởng vội chạy ra đón tôi và nói, “Em biết thế nào ngày hôm nay anh cũng đến…” Hành động, câu nói, và cách xưng hô của cô làm tôi quá đỗi ngạc nhiên. Tôi không biết tại sao cô biết tôi sẽ đến? Chẳng lẽ kế hoạch di chuyển của TĐ tôi đã bị tiết lộ? Chẳng lẽ cô đã hiểu lòng tôi đối với cô? Chẳng lẽ trong cô cũng đã nhen nhúm lên một chút tình cảm nào đó đối với tôi? Tuy trong trí tôi nổi lên những câu hỏi này, nhưng tôi đã che dấu nó bằng một nụ cười lồng trong câu nói nửa đùa nửa thật, “Chà, cô là nhà tiên tri hay là điệp viên tình báo đây? Nói cho vui ‘Thôi…đừng suy nghĩ gì!’” Tôi cố ý lập lại câu nói ngày đầu gặp gỡ để thăm dò phản ứng thì tôi thấy cô cúi mặt đứng im trong dáng điệu suy tư. Thấy thế tôi vội nói, “Thôi chúng ta nên vào trong kẻo Thầy Cô thấy dị nghị.”



Thấy tôi và cô Hiệu Trưởng đi vào thì Thầy Cô ở các phòng bên cũng chạy ra chào đón chúng tôi và kéo nhau vào phòng Hiệu Trưởng trò chuyện. Trong lúc trò chuyện tôi nói cám ơn các Thầy Cô về việc đóng góp bài vở giúp tôi hoàn tất quyển Đặc San Xuân vừa rồi. Các Thầy Cô ai cũng tỏ vẻ hài lòng và đồng nói một câu làm tôi suy nghĩ, “Xin Thiếu úy xem những bài viết đó như là những lời tâm tình hay là kỷ vật mà chúng tôi tặng Thiếu úy để nhớ!”


“Vâng, cám ơn thật nhiều! Tôi xin hứa…” Tôi đáp lời.



Sau cỡ 30 phút trò chuyện, tôi nói lời ‘Từ giã’ đến tất cả các Thầy Cô. Cô Hiệu Trưởng tiễn tôi ra tận đường về doanh trại. Và trước khi chia tay nàng yêu cầu tôi tối đến nhà ‘Sáu Pomat’ để ‘Sáu Pomat’ và nàng làm tiệc tiễn chân tôi. Tôi quá xúc động cộng thêm chút ngạc nhiên nên nói, “Vậy em...(ũa) cô quen với cô ‘Sáu’ (Sáu Pomat) hồi nào?”


Nàng cúi mặt nói, “Đừng gọi em là CÔ nữa, có vẻ xa lạ lắm. Chúng mình, tính ra cũng đã biết nhau khá lâu, chẳng lẽ anh không hiểu em chút nào sao?!” Nàng ngưng giọng đôi chút như để chờ phản ứng của tôi nhưng không thấy tôi nói gì nên nói tiếp, “Em quen ‘Sáu’ lâu lắm rồi. Chúng em vẫn xem nhau như chị em, anh đừng ngại!”


Để đáp lại sự chiếu cố mà cô đã dành cho tôi, nên tôi dùng một câu hỏi hàm ý là tôi cũng rất quan tâm đến nàng, “Em không về Trà ôn sau khi tan trường?”


Nàng trả lời, “Gặp anh ngày hôm nay rồi liệu ngày mai có còn dịp gặp lại nữa không, nên em quyết định ở lại nhà ‘Sáu’ đêm nay để hàn huyên tâm sự cùng anh trong giây lát rồi chia tay!”


Nghe nàng nói tôi cảm thấy tội nghiệp cho tình cảm mà nàng đã dành cho tôi nên không nỡ từ chối, tôi gật đầu chấp nhận.



Và vào khoảng 7 giờ tối hôm đó tôi đến nhà em Sáu. Khi tôi bước vào nhà thì thấy cha mẹ Sáu, Sáu, và nàng (cô Hiệu Trưởng) đang ngồi quây quần quanh một chiếc bàn tròn (có dọn sẵn chén đũa) đang đợi tôi.


Thấy tôi, em Sáu tỏ vẻ vui mừng nên la lên, “Ồ Thiếu úy đến rồi kìa…”


Tôi ngắt lời em Sáu ngay, rồi cười nói, “Thiếu úy nào? Ở đây không có Thiếu úy, mà chỉ có anh năm thôi nghe cô!”
“Hứ, ham lắm!” Nói xong Sáu ngoe nguảy quay đi ra phía sau. Ông già thấy vậy la rầy Sáu, “Lại cãi cọ nữa, mai nó đi rồi nhớ hối tiếc. Ngồi lại đây nói chuyện chơi chứ đi đâu vậy?”


“Con đi xuống bếp bưng thức ăn lên để đãi ảnh chứ chẳng lẽ đãi ảnh bằng nước miếng?!” Sáu đáp lời.
“À, ba quên! Thôi được đi thì đi nhanh lên, ba cũng cảm thấy đói rồi.” Cha Sáu nói.


Dường như mọi thứ đã được làm sẵn, nên không đầy hai phút thì Sáu đem lên một tô  cháo nóng hổi và một đĩa thịt gà đã được chặt sẵn, cộng với rau răm muối ớt xem thật hấp dẫn.


Ông già tỏ ra đói bụng nhưng không quên chai rượu nên hỏi Sáu, “Còn chai rượu đâu con?”


Sáu đến cái tủ phía sau lưng lấy ra một chai rượu đế, đặt trước mặt ông rồi nói, “Ba uống ít thôi và cũng đừng bắt Thiếu úy (ủa) anh năm uống nhiều đó vì sáng mai ảnh còn phải đi xa!”


Ông già cười nói, “Yên tâm!” rồi cầm chia rượu lên rót vào hai ly: một cho ông và một cho tôi, kế đó cầm đũa gắp một miếng ‘gan’ bỏ vào chén tôi rồi giục tôi cầm ly cầm chén. Tôi cầm chén lên định gắp miếng gan bỏ vào miệng để lót bao tử trước, thì nàng lấy tay đè cái chén xuống rồi cười nói, “Bác trai tặng anh ‘lá gan’, còn em tặng anh ‘trái tim’ cho đủ bộ!” rồi nàng lấy đũa gắp trái tim gà bỏ vào chén tôi.


Lời nói và việc làm của nàng làm tôi ngỡ ngàng lúng túng và càng lúng túng hơn khi thấy gương mặt Sáu đượm buồn, cặp mắt ửng đỏ dường như muốn khóc!


Ông già lại giục tôi, “Ăn đi chứ sao ngồi thừ người ra thế, năm?”


“Dạ, ba cho con miếng gan, cô giáo cho con trái tim, bây giờ con ngồi đợi để nhận món quà của em Sáu.” Và tôi quay mặt sang phía Sáu hỏi, “Ba cho anh miếng ‘GAN’ hàm ý khuyên anh phải ‘dũng mạnh’ nơi chiến trường, cô giáo cho anh ‘TRÁI TIM’ hàm ý khuyên anh lấy ‘Tình thương’ chỉ đạo cho cuộc sống. Còn em tặng cho anh cái gì nào?”


Mặt Sáu thụng xuống và nói tiếng cộc lóc, “Trái tim” chị Thủy (tên cô giáo) tặng anh rồi thì em biết lấy cái gì xứng đáng tặng anh đây. Thôi tặng anh cái này nè.” Rồi nàng bốc hai cái ‘chân gà’ thảy mạnh vào chén tôi, làm cái chén xoay vòng muốn ngã! Mọi người thấy vậy cười ầm lên và tôi lợi dụng lúc này để cỡi bỏ cái không khí ngột ngạt do việc làm của cô giáo gây ra, nên tôi nói một câu mà tôi nghĩ rằng nó sẽ làm hài lòng Sáu, “ À, anh hiểu rồi! Ý em chúc anh ‘chân cứng đá mềm’ phải không?”


Tôi vừa dứt câu thì ông già lập tức xen vào, “Năm, mày sao không nhạy bén chút nào! Em Sáu mày muốn có được ống Pomat của mày đó (ủa) muốn mày cho ống Pomat đó!”


Tôi thấy mặt em Sáu ửng đỏ, còn cô giáo thì lấy tay che miệng cười. Tôi ngơ ngẩn không biết tại sao thì mẹ Sáu trách chồng ăn nói không đầu đuôi, chừng đó tôi mới hiểu nên an ủi Sáu.


“Em an tâm, ngày mai trước khi TĐ rời nơi đây anh sẽ bảo y tá Nhi mang đến cho em 12 ống để em mặc sức xài. Chịu chưa?”


Ông già lại xen vào, “Chịu quá đi chứ! Thôi vừa ăn vừa nói và ba muốn con Sáu và thằng Năm không lộn xộn nữa.” Rồi ông cầm chén đũa lên, bà già cầm chén lên, cô giáo cũng cầm chén lên mời tôi. Riêng em Sáu vẫn chưa chịu cầm chén, thấy vậy tôi bảo Sáu nếu em không vui tôi sẽ về ngay, buộc em cũng phải cầm chén với mọi người. Khoảng 10 giờ đêm thì ông bà già đi nghỉ, còn ba đứa tôi trò chuyện thâu đêm.



Sáng sớm ngày hôm tôi vừa về tới cổng doanh trại thì gặp Đại úy Long và Trung úy Minh ở đó. Hai người đều đồng thanh gọi tôi là cậu Tám, “Cậu Tám đêm hồi hôm trốn ở đâu vậy? ‘Út Trầu’ lo cho Cậu nên ngủ cũng chẳng yên. Coi chừng mất cả chì lẫn cả cần..câu. Ha…ha…ha!!!!”


Tôi ngạc nhiên không biết tại sao gọi tôi là ‘Cậu Tám’? Định hỏi nhưng khoảng cách hai người và tôi đã quá xa. Tôi tức tốc tìm đến Hòa để hỏi sự việc đêm qua và đặc biệt để được biết cái biệt danh “Cậu Tám” từ đâu tôi có.
Hòa nhìn tôi cười nói, “Thiếu úy thử đếm: Tý, Sửa, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, MÙI… thì Mùi có phải là con số đứng hàng thứ TÁM không? Và Mùi là con gì vậy Thiếu úy?”


“Trời đất qủy thần ơi, hai thằng cha đó dám bảo tôi là tên dê xồm, thật là ĐỂU!” Tôi nói. Và tiếp tục hỏi Hòa, “Và này anh Hòa, hai thằng cha đó còn nói ‘Út Trầu’ đêm hồi hôm lo cho tôi ngủ không được, rồi lại khuyên tôi ‘coi chừng mất cả chì lẫn chài’ Vậy Út trầu là ai? Và lời khuyên đó hàm chứa những gì?”


Hòa lại cười nói, “Thiếu úy mới về không biết chứ hai ông đó thuộc hàng cao thủ Võ Lâm. Hai ông ấy nói câu gì thì coi chừng có lưỡi câu trong đó. Theo lời Thiếu úy thuật lại thì ‘Út trầu’ chính là Thiếu Tá TĐT, còn ‘Coi chừng mất cả chì lẫn chài’ là mất cả các đặc ân mà Thiếu Tá TĐT đã dành cho.”


“Ông đã dành cho tôi những đặc ân gì anh có thấy?” Tôi hỏi Hòa trong cái giọng điệu hơi cay cú.


Hòa nói, “Sự việc bên trong thì không ai biết, họ chỉ thấy bên ngoài rồi phỏng đoán. Không biết Thiếu úy có để ý không mỗi lần bà nhà đến thăm ông mà có dẫn ‘Bạch Vân’ (Con gái ông) đi theo, thì thế nào ổng cũng gọi Thiếu úy vào gặp bà rồi bà cho Thiếu úy chút quà cáp và vô tình Thiếu úy lại đem chia quà đó cho hai ông ấy. Và một hôm, em nghe hai ông ấy nói với nhau là thế nào Thiếu úy cũng bị ông Thiếu tá TĐT cho TÁM CỦ vì thiếu úy mê cô giáo mà không ngỡ ngàng đến con gái của ông ta!”


À thì ra vậy, giờ này tôi hiểu rõ ý của hai tên ma đầu đó rồi! Tôi thầm nhủ, nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy ghê sợ hai tên ấy. Tôi không biết do những thành quả tôi gặt hái được trên chiến trường (trận đánh Đập Bà Phấn), hoặc do sự thành công trong công tác CTCT (Hang Đá Giáng Sinh & Đặc San Xuân), hoặc do con gái ông mà ông đã có thái độ cỡi mở với tôi mấy tháng gần đây? Tôi lầm lũi cúi mặt bước đi không còn nhận biết thời gian và không gian xung quanh tôi sắp thay đổi, cho đến khi tôi đụng phải một người, ngẩn mặt lên thì bắt gặp ông TĐT đang chăm chú đứng nhìn tôi.


“Đêm hồi hôm mày ở đâu?” Ông hỏi.


Tôi hơi bối rối, nhưng rồi lấy lại bình tĩnh nói cho ông biết đêm rồi tôi đến nhà cha mẹ ‘Sáu Pomat’ để nói lời cám ơn cho những tình cảm họ đã dành cho tôi trong suốt thời gian quen biết ở Tích Thiện này.


“Ngoài những người trong gia đình con Sáu còn có ai nữa không Thiếu úy?” Ông mỉm cười đặt câu hỏi, nhưng có lẽ hỏi để chọc tôi cho vui, chứ ông không cần nghe câu trả lời nên tiếp đó ông giục tôi vào chuẩn bị hành trang để cùng ông và trung sĩ Năm (Cận vệ của ông) về Cần thơ bằng đường thủy (bằng chiếc xuồng máy ho-bo). Còn Đại úy Sử và Trung úy Minh sẽ điều động TĐ băng ruộng qua Vĩnh Xuân cách Tích Thiện độ 10 Km về phía bắc, rồi từ đó có đoàn quân xa đưa về điểm tập trung tại Hậu cứ Trung đoàn 16/SĐ.9 BB (Long Hồ/Thị Xã Vĩnh Long) nằm chờ lệnh.



Đến Cần Thơ ông bảo tôi muốn đi chơi đâu thì đi, miễn sáng ngày hôm sau có mặt tại Long Hồ/VL trước 10:00 sáng là được. Tôi rảo bước một vòng thành phố rồi ghé lại Phòng ngủ Bình Dân trên đường Phan Đình Phùng, thăm Bửu, người lính trước ở ĐĐ.2 của tôi nhưng đã giải ngũ (vì lý do gì tôi không được biết rõ.) Đêm đó Bửu dẫn tôi đến các quán Bia-Ôm vui chơi thỏa thích. Và 9:00 sáng ngày hôm sau khi ăn sáng xong, Bửu lấy xe Honda đưa tôi đến Long Hồ /Vĩnh Long rồi Bửu ra về.



Tôi ở lại đây ba ngày và sau đó (25/3/1972) cùng TĐ trực chỉ vào chiến trường ‘Cái Bè – Sầm Giang – Cai lậy’ thuộc Tiểu khu Định Tường. Và kể từ đó, những ngày vinh quang huy hoàng của TĐ tôi nhường chỗ cho những ngày bi thương buồn tẻ, anh em chúng tôi lần lần rơi rụng như những chiếc lá mùa thu, bỡi những đợt pháo của VC bằng các loại Hỏa tiễn Sam 7, HT.3, đại pháo 122 ly…, và những trận đánh giành đất để treo cờ trên những cây đại thụ, nhất là những ngày sau Hiệp Định Paris được ký kết. Cái đau thương xé lòng là Trung úy Long đã nằm xuống nơi đây, trước khi được nhìn thấy quê anh! Và tôi, một lần nữa, phải trở về ĐĐ.2 để đảm nhận chức vụ ĐĐT thay anh Long. Thất bại liên tiếp giáng xuống TĐ tôi nổi bật nhất là 2 trận đánh lớn: một ở Ba Dừa/Cái Bè mất gần 1/4 quân số, một ở kinh Bồn Bồn/Cai Lậy, giáp ranh Mộc Hóa, mất gần phân nửa.



7/ Phân hóa & Tan hàng


Và kết cuộc, cuối tháng 4/74 TĐ tôi được đưa về TTHL/Chi Lăng/Thất Sơn/Châu Đốc để được tái huấn luyện và bổ sung quân số và trong thời gian ở đây vị Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng của tôi bị thay ngựa giữa dòng và sau khi ông rời TĐ vài tháng, tôi cũng bị điều động đến một nơi khác, nơi đây tôi lại có dịp làm bạn cùng rắn rết muỗi mồng vùng liên ranh Rạch Rùa/ Chương Thiện – Sóc Ven/ Rạch Giá.
 
Cuộc chia tay giữa ông TĐT và tôi diễn ra ban đêm trong căn lều vải đóng ngoài Vườn Xoài, nằm phía dưới chân núi Cấm thật là cảm động, cảm động vì người đi nhưng tâm trí vẫn lo cho người ở lại, ông lo tương lai cho tôi!
 
Ông hắng giọng vài tiếng như để nén sự xúc động rồi ông nói, “Trước khi ra đi, anh muốn hỏi chú mày một câu là tại sao anh tạo nhiều cơ hội để chú mày mau được thăng quan tiến chức mà chú mày không chịu chấp nhận? Chẳng lẽ chú mày sợ trách nhiệm nên không dám nhận? Hay chú mày đang trông đợi cái gì? Anh thật không hiểu! Nói cho chú mày biết, người ta muốn nắm được chức vụ ĐĐT/ĐPQ/TKVL này (anh không nói nơi khác hoặc SĐ) không dễ đâu, nếu không có đủ ba trăm ngàn ($300.000). Anh không tin khi ông Đại úy Ngọt về sẽ cho không chức vụ ĐĐT cho ai đâu vì ông cần lấy lại năm trăm ngàn ($500.000) đã bỏ ra để mua chức vụ TĐT của anh!”


Nghe ông thay đổi cách xưng hô trong khi nói chuyện với tôi làm tôi cảm động, đồng thời nhờ sự tiết lộ này mà tôi mới thấy được cái mặt trái của xã hội lúc bấy giờ, khiến tôi liên tưởng đến lời nói của bạn tôi, NT2 Phạm Phú Hoan, khi tôi tỏ ý định nộp đơn thi vào Trường Sinh Ngữ Quân Đội để được tuyển đi học khóa Sĩ Quan Báo Chí ở Hoa Kỳ, thì Hoan nói tôi đang nằm mơ, “Mày đang nằm mơ hả Phò? Mày nên biết mày chưa nộp đơn đã có danh sách người trúng tuyển rồi đó!”


Tôi lặng im giây lát rồi buông tiếng thở dài nói với ông, “Mấy năm sống chung với Thiếu tá, tôi hiểu Thiếu tá muốn giúp tôi, nhưng tôi không mơ cái chân ĐĐT bằng cái chân Phóng Viên Báo Chí chiến trường. Nếu tôi đồng ý nhận chức vụ ĐĐT thì tôi phải ký đơn xin xuất ngành, mà một khi không còn mang cấp số 630.0 thì tôi không còn hội đủ điều kiện đi Mỹ học khóa Sĩ quan Báo Chí để trở thành Phóng Viên Báo Chí, một chức vụ tôi hằng mơ ước. Đành rằng tiền tài và danh vọng là đỉnh mơ ước của hầu hết con người, nhưng đối với tôi lại là không, Thiếu tá hiểu cho!”
Ông tiếp lời tôi, “Sao chú mày không nói cho anh biết trước đây?” ông ngừng một lát rồi nói tiếp như nói với chính ông, “Thôi cũng được, vì ‘sông có khúc thì người cũng có lúc’ muốn cũng không được, mà không muốn cũng không được!” rồi ông nở một nụ cười nói tiếp, “ Thôi, ngày mai anh sẽ rời đơn vị, chú mày ở lại thận trọng trong cuộc sống hằng ngày.”


Để tháo gỡ nỗi u uẩn trong lòng ông, giúp ông cảm thấy thoải mái trước khi chấm dứt cuộc nói chuyện từ giã đêm đó, tôi cố gắng nở một nụ cười thật tươi rồi nói, “mạng CHỆT thì chết, mạng TÀU thì sống. Hơi đâu mà lo!” (tôi cố lập lại câu nói của ông, mà Trung sĩ Hòa đã cho tôi biết trong ngày đầu về Đơn vi.)



Ông giương tròn đôi mắt nhìn tôi một lúc rồi cười hỏi, “ai nói với chú mày câu đó?”


Tôi lại cười và nói, “Ai trồng khoai đất này!”


Rồi cả hai chúng tôi cùng cười và lui về chỗ ngủ của riêng mình.



Hôm nay nhân sắp đến ngày chúng tôi, NT.2, làm lễ kỷ niệm 40 năm ra trường ngồi nhớ lại, ghi mấy dòng để gửi tặng bạn bè, nhất là để tặng những người thật sự cận kề bên tôi trong cuộc chiến, cuộc chiến nay tuy đã qua nhưng tình cảm của chúng tôi vẫn còn khắng khít không xa.


Lê Diệp                              
Fort Collins,
(ngày tháng 2 năm 2010)