Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai TPP và QUAN HỆ VIỆT-MỸ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

TPP và QUAN HỆ VIỆT-MỸ

In PDF.

 


Những năm gần đây dư luận bàn nhiều về sự hình thành TPP (Trans-Pacific Partnership), Dự án Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương, do Mỹ khởi xướng như một phần về lãnh vực kinh tế trong chiến lược " chuyển hướng" (pivoting), hay tái cân bằng (rebalancing) của Mỹ đối với Á Châu. Việt Nam là một trong những quốc gia hưởng ứng nhanh chóng đối với dự án này. Vậy thử cùng nhau tìm hiểu xem thực chất TPP là gì và VN sẽ được gì khi tham gia TPP.


TPP bắt nguồn từ tổ chức Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (TPSEP hay P4) là một hiệp ước tự do mậu dịch giữa 4 quốc gia : Brunei, Chile, New Zealand và Singapore, được lập ra năm 2005.


Về sau, năm 2008 Mỹ bắt đầu có ý muốn tham gia vào TPSEP, cùng với  Mỹ có thêm Úc, Việt Nam và Peru. Đến năm 2010,với chiến lược " Pivot Aisa", Mỹ đề nghị mở rộng TPSEP ra bao gồm nhiều quốc gia hơn và có tên gọi là Trans-Pacific Partnership, gồm: Australia, Brunei, Canada, Chile, Japan, Malaysia, Mexico, New Zealand,Peru, Singapore, USA và Việt Nam. Kể từ đó tên gọi TPP trở nên quen thuộc, các cuộc thương lượng giữa các quốc gia liên quan diễn ra liên tục và thu hút sự chú ý của công luận hơn. Nam Hàn cũng đã được mời tham gia, nhưng chưa nhận lời. Như vậy tính cho đến nay là gồm 12 quốc gia.


Từ sau Đệ Nhị Thế Chiến cho đến gần đây, một cách tổng quát,  mậu dịch thế giới được điều hành thông qua những định chế quốc tế như IMF, World Bank và WTO. Thoả thuận căn bản cho hoạt động của ITO (International Trade Organization, tiền thân của WTO) và WTO là  GATT (General Tariff and Trade) (Thỏa ước Tổng quát về Mậu Dịch và Thuế Quan), được lập ra từ năm 1944 ở Bretton Wood, dần dà tỏ ra không còn thích hợp với tình hình mới của nền kinh tế thế giới; đặc biệt nhất là từ sau khi Mỹ, dưới thời của tổng thống Nixon, đã đơn phương bải bỏ chế độ Kim bản vị đối với đồng dollars. Những thập niên gần đây, các cuộc thương lượng mậu dịch quốc tế của WTO liên tiếp thất bại; nổi bật nhất là sự thất bại của các vòng đàm phán ở Doha (thủ đô của Qatar, một quốc gia nhở ở vùng Vịnh Ba Tư, Persian Gulf.),kéo dài 10 năm, từ 2001, giữa cấp bộ trưởng của các quốc gia thành viên WTO. Sự bất đồng căn bản là thuế quan (tariffs), kéo theo sự bất đồng trên hàng loạt các vấn đề khác, trong đó đáng chú  ý nhất là vấn đề quyền sỡ hữu trí tuệ (Intellectual Property Rights) , vấn đề tài trợ nông nghiệp, và thủ tục tranh tụng pháp lý giữa các thành viên. Sự thất bại của WTO trong vai trò thống nhất nền mậu dịch quốc tế đang dẫn đến tình trạng ra đời ngày càng nhiều các tổ chức mâu dịch vùng hoặc khu vực (NAFTA, ASEAN, EAFTA, v.v...). Tình hình đó là dấu hiệu cho thấy hệ thống kinh tế thế giới đơn cực do Mỹ thiết lập nên từ sau Đệ Nhị TC đang bị lung lay bởi  một hệ thống đa cực bắt đầu hình thành trong môi trường toàn cầu hoá ngày càng  tăng.


Riêng trong khu vực Á Châu, nhiều nỗ lực về những khu vực mậu dịch như vậy đã bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ 20. Chẳng hạn như khu vực tự do mậu dịch giữa khối ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, thường được gọi là ASEAN PLUS THREE, được thai nghén từ năm 1997, khởi đầu bằng những dự định tự do mậu dịch và hợp tác trong các lãnh vực năng lượng, vận tải và thông tin, những năm gần đây còn bàn thêm cả lãnh vực tài chánh và an ninh. Các quốc gia  cũng đang bàn  thảo về dự án một khu vực tự do mậu dịch Á Châu-Thái Bình Dương trong đó Trung Quốc là trụ cột, báo chí Anh ngữ gọi đó là Asian-Pacific Track. TPP ra đời chính là vì Mỹ không muốn thụ động và đứng bên lề, trái lại muốn chiếm tiên cơ và duy trì thế thượng phong của mình trong nền kinh tế Á Châu-Thái Bình Dương. Hơn nữa dự án Á Châu-Thái Bình Dương chỉ  giới hạn ở tự do mậu dịch đối với hàng hoá, phần lớn là sản phẩm chế tạo (manufacturing goods); trong khi đó TPP lại có kế hoạch mở rộng tự do mậu dịch không chỉ cho hàng hoá, mà còn cho cả các lãnh vực dịch vụ, tài sản trí tuệ, đầu tư và lao động nữa. Trung Quốc, với hệ thống các cơ sở quốc doanh (SOE) vẫn còn chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế, chắc chắn không thể chấp nhận một mức độ tự do hoá mậu dịch (liberalization of trade) cao như vậy, và đó chính là trở lực để Trung Quốc có thể tham gia vào TPP trong tương lai.


Tất nhiên TPP là một thỏa thuận mậu dịch quan trọng. Nó quan trọng không chỉ đối với Mỹ, mà còn đối với tất cả các quốc gia thành viên và cả tương lai của Á Châu. Ngay cả quy mô kinh tế  của TPP thôi cũng đủ nói lên tầm mức quan trọng của  nó; tổng GDP của các quốc gia thành viên sẽ lên đến gần 28 ngàn tỉ dollars, và tổng dân số là gần 800 triệu người. Tính cho đến nay, hàng năm Mỹ nhập khẩu từ các quốc gia thành viên TPP là chừng 850 tỉ dollars và xuất khẩu qua những nước đó chừng 690 tỉ dollars. Tất nhiên sau này khi TPP thành hình mức độ mậu dịch đó sẽ còn gia tăng gấp bội.

 

Quốc Gia
   GDP (tỉ dollars)     Dân Số (triệu người)
Úc 
  $1.542
   22.8
Brunei
$17 
0.4
Chile
  $268
  17.4
Canada
$1,819
34.8
Japan    
$5,964 
127.6
Malaysia       
$304 29.5
Mexico      
$1,177
114.9
New Zealand        $170
4.4
Peru       
$199 30.5
Singapore      
$277
5.4
Vietnam      
$138 90.4
USA       
$15,685 314.2
Tổng Cộng     
$27,558 tỉ
792.2 triệu người












Theo US Congressional Research Services


Lợi ích kinh tế do TPP mang lại cho các quốc gia thành viên được ước tính là sẽ rất lớn. Theo tính toán của Viện Peterson về Kinh tế Quốc tế thì sau khi vận hành, TPP có thể tạo ra một lợi tức đồng niên cho toàn thể các nước thành viên chừng 295 tỉ dollars, trong đó Mỹ sẽ được khoảng 78 tỉ dollars. Riêng Việt Nam thì cũng theo ước tính đó, TPP sẽ giúp gia tăng GDP gấp đôi vào năm 2025 !


Rõ ràng đó là một viễn cảnh rất tốt đẹp,  nhất là cho Việt Nam. Tuy nhiên, những điều tốt đẹp luôn có giá cả riêng của nó và thường thì những điều khó khăn trong bang giao quốc tế không lộ hẳn ra bên ngoài, mà nằm chìm khuất đâu đó ở bên dưới. Những cuộc thương lượng (negotiations) kéo dài và hoàn toàn được giữ bí mật chính là do những khó khăn đó mà ra. Ở đây các cuộc thương lượng để hình thành TPP cũng mang tính chất tương tự như các vòng đàm phán Doha của WTO vậy; nghĩa là cũng bị chi phối bởi bản chất vị kỷ muôn thuở của con người: ai cũng chỉ muốn thủ lợi cho riêng mình, thường chỉ muốn bàn cái gì mình sẽ nhận được hơn là những gì mình phải cho ra! Và sau đây xin thử điểm  qua một số những điểm khó khăn của các vòng thương lượng.


Trước hết là trong lãnh vực nông nghiệp. Theo số liệu năm 2011 thì các quốc gia TPP nhập và xuất khẩu nông nghiệp chiếm chừng 30% tổng lực xuất nhập nông nghiệp của toàn thế giới. Những nông phẩm được quan tâm nhất của các quốc gia TPP gồm bơ sữa, gạo, thịt bò  và đường. Đối với những nông phẩm đó lập trường của Mỹ và các quốc gia thành viên khác nhau khá nhiều. Mỹ thì muốn áp dụng các nguyên tắc của khối NAFTA (khối tự do mậu dịch Bắc Mỹ), nhưng nhiều quốc gia TPP khác không đồng ý.


Đối với bơ sữa, New Zealand và Úc là hai nước xuất khẩu lớn, riêng New Zealand đã chiếm 10 tỉ dollars trên tổng số 39 tỉ dollars bơ sữa của toàn thế giới. Mỹ cũng là một quốc gia xuất khẩu nhiều bơ sữa (4.2 tỉ), tuy không bằng New Zealand, và các nhà sản xuất bơ sữa Mỹ hiện đang muốn cạnh tranh với New Zealand trên thị trường thế giới. Khó khăn là một khi TPP hình thành, bơ sữa của Mỹ sẽ gặp phải sự cạnh tranh ráo riết của New Zealand ngay trên thị trường nội địa của mình, và điều đó sẽ tạo khó khăn cho nỗ lực của các nhà sản xuất bơ sữa Mỹ muốn vươn lên, gia tăng phần mình trong thị trường bơ sữa quốc tế . Chưa kể là ngoài New Zealand, Úc cũng là một nước sản xuất bơ sữa lớn (khoảng hơn  tỉ dollars). Như vậy nếu Mỹ đòi hỏi tự do hoá mậu dịch (trade liberalization) như là tiêu chuẩn của TPP, thì tiêu chuẩn đó cũng phải được áp dụng đồng đều giữa các thành viên và cho các sản phẩm, kể cả bơ sữa. Để làm vậy, thị trường bơ sữa nội điạ của Mỹ phải thay đổi để phù hợp với khung cảnh mậu dịch mới, nhưng đó không phải là điều dễ dàng cho giới sản xuất bơ sữa Mỹ.


Về đường. Lâu nay thỏa ước mậu dịch tự do Mỹ-Úc chấp nhận không tự do hoá mậu dịch về đường; nghĩa là mỗi bên tiếp tục giữ mức quan thuế  của mình. Nhưng nay Úc gia nhập TPP, những gì áp dụng cho Úc-Mỹ cũng phải được áp dụng cho các thành viên khác, còn nếu không thì thỏa thuận trước kia của Mỹ-Úc về đường phải thay đổi. Việt Nam cũng là một nước xuất khẩu đường. Lâu nay Việt Nam chỉ đánh thuế 5% cho đường nhập vào từ các quốc gia ASEAN,nhưng đánh đến 40% đối với đường từ các nước khác, gồm cả đối với những nước hiện nay đang sắp gia nhập TPP. Điều đó có nghĩa rằng đường sẽ là một đề tài thương lượng căng thẳng giữa Mỹ, Việt Nam và các quốc gia TPP khác.


Rồi về gạo. Đây cũng là một nông sản gây ra khó khăn không nhỏ cho các cuộc thương lượng TPP. Nhật Bản là nước tài trợ (subsidy) lớn nhất và thực hiện bảo hộ mậu dịch mạnh cho nông nghiệp, đặc biệt cho lúa gạo. Đó chính là lý do nông dân Nhật trong thời gian gần đây đã biểu tình rầm rộ để chống lại việc Nhật gia nhập TPP, chính phủ Abe đã phải vất vã lắm mới thuyết phục được quốc hội Nhật và vì vậy mải đến cách  đây mấy tuần Nhật mới chính thức tham gia đàm phán để vào TPP. Nhật, Malaysia, và cả Nam Hàn, nếu sau này quốc gia này đổi ý, chắc chắn là muốn giữa nguyên mức thuế quan (tariff) và tài trợ lúa gạo như hiện nay, và không muốn để bị gạo từ Mỹ, Úc ,và Việt Nam cạnh tranh. Hiện nay mức tariff rates đối với gạo giữa các nước TPP rất khác nhau: Mỹ đánh $18-$21 một tấn gạo; Việt Nam đánh từ 20% đến 40%; Malaysia đánh đến 40%. Sự thương lượng để đạt được sự đồng thuận về gạo , như vậy,  không phải dễ dàng và chắc chắn là sẽ mất nhiều thời gian.


Kế đến là thịt bò. Lâu nay Nhật và Nam Hàn cấm nhập cảng bò từ Mỹ kể từ sau vụ bò Mỹ bị phát hiện mắc bịnh rỗng não (bovine spongy encephalopathy) hồi năm 2003. Từ đó đến nay đại diện thương mãi Mỹ đã cố gắng rất nhiều, nhưng vẫn chưa thuyết phục được các quốc gia đó hoàn toàn bãi bỏ lệnh cấm nhập cảng bò. Chưa kể là vấn đề về GM foods (Genetic Modified foods) cũng còn đang là đề tài tranh chấp, tuy không gay go lắm.


Đến đây thiết tưởng cũng cần mở ngoặc để nói sơ về GM Foods, một đề tài tranh chấp căng thẳng từ mấy mươi năm nay giữa Mỹ và Âu Châu, nhưng có lẽ chưa được dư luận của người Việt chúng ta chú ý đến nhiều.


Vắn tắt thì GM FOODS, hay GMO FOODS, là loại thực phẩm được tạo ra do kết quả của việc áp dụng các kỹ thuật sinh học và di truyền học vào một số thực vật và động vật ( như heo, gà, bò, cá hồi, salmons,v.v...). Chữ GM là viết tắt của từ genetic modification, GM Foods là do từ Genetic modified foods mà ra. Kỹ thuật di truyền học, hay DNA Biological technology, có từ nhiều thập kỷ về trước và đã được cải tiến rất nhiều. Thành tựu và những cải tiến liên tục về các kỹ thuật can thiệp vào chuổi DNA đã được áp dụng trong các nghiên cứu y học, dược học, sinh học phân tử , cả  sinh học giảo nghiệm hình sự (forensic biology), và trong lãnh vực nuôi trồng. Trong những thập niên gần đây, hầu hết thực phẩm chế biến ở Mỹ đều đến từ các loại thực vật-động vật mà DNA của chúng đã được biến đổi trong phòng thí nghiệm.


 Thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, và thuốc khai quang là những sản phẩm điển hình và là kết quả thông dụng nhất của các kỹ thuật sinh học DNA. Để thuốc diệt cỏ dại, rãi xuống một cánh đồng đậu nành chẳng hạn, chỉ làm chết cỏ mà không gây tổn hại cho cây đậu nành, người ta đã cấy một gen đặc biệt vào trong hạt giống đậu nành,  khiến cây đậu có khả năng chống lại thuốc diệt cỏ. Vấn đề là chưa có ai biết chắc loại đậu nành bị " genetic modified" như vậy sẽ tác động như thế nào đối với sức khỏe của người ăn đậu nành và đối với môi trường nói chung. Có vài nhà nghiên cứu khoa học quả quyết rằng khi thí nghiệm cho chuột ăn loại khoai tây đã bị " genetic modified" trong một thời gian lâu thì thế hệ chuột thứ hai khi sinh ra não bộ bị nhỏ đi! Tiếc rằng những kết quả nghiên cứu như vậy, vì một lý do khó hiểu nào đó, lại  không được công bố rộng rãi cho công chúng. Có dư luận cho rằng các đại công ty về kỹ thuật sinh học ( Bio-engineering technological companies) đã vận dụng sức mạnh tài chánh của mình để trấn áp các nhà khoa học và ém nhẹm những kết quả nghiên cứu như vậy.  


Dù sao thì mối quan tâm đối với GM Foods đã ngày càng gia tăng, phát khởi mạnh nhất là ở Âu Châu, và vì vậy trong nhiều thập niên , Âu Châu đã ngăn cấm không cho nhập khẩu các sản phẩm đã được " Genetic modified " từ Mỹ. Tuy chưa thu thập đủ bằng chứng khoa học, công chúng ở nhiều nơi đã cho rằng GM Foods tác hại đến sức khoẻ con người, gây ra dị ứng, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi, và ngay cả là mầm móng gây ung thư! Cũng đã có  tranh tụng giữa Ấu Châu-Mỹ trước các toà hoài giải của WTO vào những năm đầu của Thế kỷ. Mới gần đây thôi, công chúng ở Anh quốc cũng đã biểu tình dữ dội để chống lại việc lập các phòng thí nghiệm " genetic modìed plants" trên lãnh thổ của mình. Tại Mỹ, sự chống đối GM Foods cũng diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nơi. Hiện có phong trào đòi phải ghi rõ trong nhãn hiệu thực phẩm có hay không có những thành phẩm GM Foods, mạnh nhất là ở bang California với cuộc vận động gọi là Labeling Initiative, đòi hỏi  Quốc hội Mỹ thông qua luật buộc phải kê khai GM Foods lên nhãn các loại thực phẩm. Phiá các đại công ty sinh học, như Monsanto chẳng hạn, cũng đang nỗ lực để vận động hành lang nhằm chống lại những cuộc vận động như vậy.


Một ưu điểm của GM Foods là giá rẻ. Thịt bò, gà, cá hồi, bắp, đậu nành, khoai tây, v.v... được sản xuất theo  lối GM Foods có giá rẻ hơn nhiều so với các loại sản phẩm đó sản xuất theo lối tự nhiên. Có điều là các nhà nuôi trồng ở các nước, nếu muốn tái sản xuất các sản phẩm GM đó, phải mua giống do các đại công ty sinh học của Mỹ bán, còn không sẽ bị kiện tụng và phạt tiền!


Thiết nghĩ nhà cầm quyền VN và đồng bào ở trong Nước cũng nên có những quan tâm đúng mức đối với vấn đề GM Foods, cần thu thập các công trình nghiên cứu  khách quan của các nhà khoa học các nước, đồng thời phải tự mình tiến hành những nghiên cứu cấp quốc gia đối với đề tài, rồi cấp tốc phổ biến cho giới chuyên trách trong quá trình thương lượng tham gia TPP để có những đối sách thích hợp nhằm bảo vệ lợi ích lâu dài của dân tộc.


Sau nông nghiệp, đến lãnh vực hàng Dệt, Áo quần và Giày Dép là những sản phẩm mà sự thương lượng TPP cũng gặp không ít khó khăn. Và đây là lãnh vực hết sức quan trọng đối với Việt Nam.Trong tổng số chừng 20.3 tỉ dollars hàng VN nhập khẩu vào Mỹ trong năm 2012, khoảng 9.4 tỉ dollars là hàng áo quần và giày dép; nghĩa là khoảng hơn 46% tổng trị giá hàng bán vào Mỹ.  Điều đó nói lên tầm quan trọng của lãnh vực hàng Áo quần và Giày dép đối với phía VN trong quan hệ mậu dịch Việt-Mỹ. Tất nhiên phiá VN muốn được phiá Mỹ cắt giảm đến tối thiểu  thuế quan dành cho hàng may mặc và giày dép của mình. Khó khăn là chính phủ Mỹ, do áp lực của các công ty dệt, lại muốn áp dụng nguyên tắc có tên là Yarn-Forward Rule vào trong TPP. Người ta còn gọi nguyên tắc đó là Crafting Rules of Origin (COO), một nguyên tắc theo đó VN phải mua vật liệu dệt của các công ty Mỹ hoặc của các thành viên TPP, mà không được mua vật liệu đó từ một quốc gia ngoài nhóm TPP, để làm sản phẩm may mặc của mình, sau đó bán trở lại vào Mỹ và được hưởng quy chế thuế quan ưu đãi  của TPP. Điều này dường như đang gây khó khăn cho phiá VN, vì lâu nay VN vẫn mua vật liệu dệt từ Trung Quốc với giá rẻ. Việc phải mua vật liệu dệt từ Mỹ, và giảm hoặc thôi không mua vật liệu đó từ Trung Quốc, không những chỉ ảnh hưởng bất lợi đến doanh thu cho ngành áo quần và giày dép, nhưng có lẽ còn khiến cho giới lãnh đạo ở Hà Nội cảm thấy khó xử về  ngoại giao với người " láng giềng tốt" khổng lồ của mình. Đó là một vướng mắc khác trong quá trình thương lượng gia nhập TPP.


Một lãnh vực khác rất quan trọng là lãnh vực các Quyền Sỡ hữu Trí tuệ( Intellectual Property Rights, IPRs), có liên quan chính yếu đến vấn đề y dược. IPRs còn là một lãnh vực phức tạp, bao gồm quyền về Thương hiệu (trademarks), Bản quyền (copyrights), Bằng Sáng Chế hay Môn bài (patents), và Bí mật doanh nghiệp (trade secrets). Tính chất phức tạp đó, cùng với sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các quốc gia thành viên trong TPP, khiến cho sự thương lượng trong lãnh vực này càng gặp nhiều khó khăn hơn. Tất nhiên quốc gia có trình độ phát triển cao hơn luôn muốn gia tăng mức độ và thời hạn cho việc bảo vệ IPRs; trong khi đó quốc gia kém phát triển lại mong muốn ngược lại ngõ hầu có cơ hội tiếp thu và đem vào xử dụng nhanh, một cách có lợi cho mình, các phát kiến mới trong khoa học-kỹ thuật.


Một ví dụ về mâu thuẩn giữa các quốc gia về IPRs là vấn đề sản xuất thuốc generic medicines. Generic medicines là những loại thuốc mà về mặt thành phần dược liệu và công năng hoàn toàn giống như thuốc chính hiệu (brand names) của công ty sản xuất nguyên thuỷ, kẻ sỡ hữu môn bài. Sự khác nhau quan trọng giữa brand names và generic medicines là giá cả; generic medicines có giá cả rẻ hơn nhiều. Một thoả thuận của các thành viên WTO năm 1994 quy định là tuy vẫn nỗ lực bảo vệ IPRs của các công ty chế thuốc, các quốc gia thành viên được phép, trong tình trạng khẩn cấp, sản xuất các loại generic medicines để đáp ứng cho nhu cầu y tế khẩn cấp đó của mình. Thái Lan là quốc gia đầu tiên đã tự sản xuất generic medicines để dùng cho người mang bệnh AIDS. Vấn đề ở đây là một định nghiã về tình trạng khẩn cấp quốc gia (national emergency). Một quốc gia có tỉ lệ bệnh nhân cancer cao có thể xem đó là một tình trạng khẩn cấp để được phép tự sản xuất generic medicines?


Ngoài ra, như đã nói TPP không chỉ dừng lại ở lãnh vực mậu dịch hàng hoá, mà còn có tham vọng tự do hoá cả về dịch vụ của các lãnh vực tài chánh, ngân hàng, đầu tư và bảo hiểm nữa. Nhưng để san định những bất đồng giữa các quốc gia thành viên, đặc biệt là những quốc gia có trình độ phát triển cao, có tỉ trọng dịch vụ lớn trong nền kinh tế, tạo ra tiêu chuẩn chung cho các lãnh vự đó không phải là điều dễ dàng. Riêng VN, thì do trình độ phát triển còn thấp, các lãnh vực dịch vụ nói đó gần như còn bỏ trống, không có ngay cả cơ sở pháp lý thích hợp, sẽ là miếng mồi ngon cho các đại công ty đa quốc gia về tài chánh, ngân hàng và bảo hiểm mặc sức tung hoành. Các đại diện của VN, vì vậy, hẳn phải đứng trong vị thế rất yếu trong quá trình thương lượng với đại diện của các quốc gia đối tác; nhất là với đại diện của Mỹ.


Tóm lại, TPP là một tổ chức mậu dịch rất quan trọng của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, với tổng GDP và dân số lớn, gồm các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau; Mỹ, Canada, Nhật, Úc, có thể cả Nam Hàn, và Singapore là những quốc gia có trình độ phát triển rất cao, trong khi Việt Nam là nước yếu kém nhất trong số các thành viên và là nước duy nhất có hệ thống các cơ sở quốc doanh (SOEs). Quá trình thương lượng đang diễn ra rất gay go giữa các quốc gia. Việt Nam là nước yếu nhất, nhưng do nhu cầu chiến lược sống còn, nhà cầm quyền VN đang cố gắng trên nhiều mặt trận để trở thành thành viên của TPP với những điều kiện ưu đãi. Phái đoàn hùng hậu do ông Chủ Tịch Trương Tấn Sang dẫn đầu hội kiến với Tổng Thống Obama, vào cuối tháng Bảy vừa rồi,  phần nào nói lên nỗ lực ngoại giao lớn của phía VN cho mục tiêu đó. Được biết tháp tùng ông Sang trong cuộc hội kiến có Bộ Trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, các bộ trưởng Nông Nghiệp và Thương Mại, tướng Tô Lâm, thứ trưởng Công An; và đặc biệt nhất có cả tướng Nguyễn Chí Vịnh, một nhân vật được xem là thân Trung Quốc. Thông dịch cho ông Sang là Phạm Hoàng Xuân An, con trai của cố tướng điệp báo Phạm Xuân Ẩn. Điều mang ý nghĩa đặc biệt là ông Sang đã trao bản copy thư của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh gởi cho cố TT Mỹ Truman, hồi cuối tháng Tám năm 1945, yêu cầu Truman ủng hộ cho nền độc lập của VN. Bức thư đã không nhận được  sự trả lời của chính phủ Truman, đơn giản chỉ vì chính phủ Mỹ , vào thời đó, xem trọng việc phục hồi cho Pháp để có đồng minh trong việc bảo vệ Âu Châu chống lại Liên Xô hơn là việc ủng hộ cho nỗ lực giành độc lập của một nước VN nhỏ yếu, xa xôi. Nhiều người đã cho quyết định đó của cố TT Truman là một sai lầm, một sự lựa chọn sai phía trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ thuộc điạ đang suy tàn ( "getting on the wrong side of the battle against colonialism"). Có lẽ thâm ý của nhà cầm quyền VN, mà đại diện là ông Sang, khi trao bản sao bức thư, là muốn nhắc nhở chính phủ Mỹ không nên  để một sai lầm như vậy trong quan hệ với VN tái diễn chăng ? Nhưng lần này ai là phía kia để cho TT Obama lựa chọn?



31/8/2013
TRƯƠNG Đ. TRUNG
 
Tài liệu biên khảo:

  1) http://www.fas.org/sgp/crs/row/R42344.pdf
  2) Peterson Institution for International Economics, Policy Brief June 2012.
  3) http://www.nytimes.com/2012/05/25/science/dispute-over-labeling-of-genetically-modified-food.html?_r=0
  4) http://www.youtube.com/watch?v=87qrTXZaXkk&noredirect=1
  5) https://www.youtube.com/watch?v=eUd9rRSLY4A
  6) http://www.ustr.gov/countries-regions/southeast-asia-pacific/vietnam