Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2013 CHUYỆN XÓM CŨ

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

CHUYỆN XÓM CŨ

In PDF.

 



Dáng chị đi liêu xiêu ngoài đầu hẻm. Con bé đã trông thấy, nó la lên: “A! Mẹ về! Bà ơi! Mẹ về rồi nè!” . Rồi nó bỏ đám bạn chạy ù ra ôm lấy chị và nũng nịu: “mẹ ơi, mấy ngày ni con ở nhà với ngoại, con nhớ mẹ!”. Chị cúi xuống ôm con thật chặt và nghe lòng mình ấm áp hơn. Chị thở dài suy nghĩ, ngày anh đi tù “cải tạo” con bé còn nằm trong bụng mẹ, nay nó đã vào lớp mẫu giáo mà anh vẫn biền biệt ngày về. Nghe tiếng lao xao của hai mẹ con chị, bà Tám già sau một tràng ho sù sụ hé cửa hỏi vọng ra: “Cô về rồi đó hả? Chú có khỏe không?”. Rồi bà nói với sang nhà bà Sáu: “Thiếm Sáu ơi! Mẹ con bé đi thăm chú ấy về rồi đó!”. Thế rồi cả xóm cùng biết. Một chặp nhà chị đã có mặt đông đủ bà con trong xóm đến hỏi thăm tin tức chuyến đi thăm nuôi chồng của chị. Bà Sáu ngồi bệt xuống sàn nhà nhìn chị lo lắng hỏi: “Nè! Cô có được gặp mặt chú ấy không?”. (Bà lo lắng vì chồng bà đang bị biệt giam, chuyến đi thăm nuôi vừa rồi bà không được gặp mặt ông). “chú có khỏe không rứa thiếm?”, Con có đưa được hết quà cho ba nó không?”. Có thêm ai bị biệt giam không rứa thiếm?”… Mỗi người một câu hỏi làm chị trả lời không kịp. Không biết trời đất dun dủi thế nào mà cái xóm nhỏ của chị tỉ lệ gia đình vợ tù “cải tạo” cao hơn. Bởi vậy họ lặng lẽ quan tâm tới nhau, gần gũi nhau, thông cảm cho nhau cũng như cùng chia xẻ cho nhau những vui buồn, những âu lo trong cuộc sống hằng ngày. Gia đình chị chuyển về sống ở đây từ trước năm 75. Mẹ chị đã đánh đổi sự an ninh, bình an cho gia đình với hơn chục cây vàng để mua lại một căn nhà tôn xập xệ nằm lọt thỏm trong cuối con hẻm nhỏ nầy. Thời buổi chiến tranh ai cũng ráng chen chúc về sống gần thành phố nên nhà cửa san sát nối tiếp nhau.




Sau cuộc đổi đời một số gia đình đã dọn về quê bỏ lại nhiều căn nhà trống, vài miếng đất trống nay đã trở nên hoang phế và đầy cỏ dại. Con hẻm nhỏ nầy trở nên yên ắng hơn. Tuy vậy trong xóm cũng xen lẫn vài gia đình cán bộ dọn tới chiếm ở ngang nhiên mấy căn nhà trống (đa số là nhà của những quan chức lớn của chế độ cũ). Đây là những cái “gai” trong xóm nhưng bà con xóm chị không thể nào nhổ bỏ được. Ngoài những gia đình mới nầy ra còn lại bà con trong xóm là những người đã sống và quen biết nhau từ lâu. Họ thuộc lòng tên của từng thành viên trong mỗi gia đình, biết rõ gốc gác cũng như quê quán của từng người. Những ai ở xa muốn tìm về xóm cũ của chị cứ hỏi thăm đường về cái xóm Vườn Lài thì thế nào cũng tìm ra. Mặc dù cái vườn lài đó ở tuốt mãi trong xa, gần sát với cái xóm Bàu. Cái tên Vườn Lài có được chính do ông chủ của xưởng trà Mai Hac nổi tiếng của thị xã Tam Kỳ đã mua một miếng đất rộng chuyên trồng lài để ướp trà. Sau nầy vườn lài cũng đã bị thu nhỏ lại vì nhà nước trưng dụng đất để xây dựng khu nội trú của trường trung cấp Nông Nghiệp. Tuy vậy cái tên Vườn Lài cũng đã gắn chặt với bà con xóm chị. Bắt đầu là cái chợ chồm hổm cách nhà chị vài chục mét cũng có cái tên chợ Vườn Lài. Trường trung học tư thục Hưng Đạo sau 75 bị nhà nước trưng dụng đổi thành trường trung cấp Nông Nghiệp cũng được gắn thêm mấy chữ “chỗ chợ Vườn Lài” cho dễ tìm. Rồi đến tiệm thuốc tây Vườn Lài, nhà hộ sinh Kim Cúc (cũng được bà con nói thêm cho rõ là chỗ chợ Vườn Lài). Trước mặt nhà chị là con đường Trần Cao Vân. Đây là con đường chính để đi từ thị xã Tam Kỳ đến Tiên Phước, Trà My. Con đường nầy đã trở nên nhộn nhịp hơn sau năm 75 vì đây là con đường chính hướng về các trại tù “cải tạo” Kỳ Trà, Kỳ Sơn, Tiên Lãnh, Sông Tranh, Trại Làng Bầu… Những địa danh mà những người như chị trước đây làm gì biết được.  Thế mà giờ đây đã trở nên quen thuộc, gần gũi, thân thương. Hàng ngày những chuyến xe đò chạy tuyến đường nầy chị thấy đầy ắp những người vợ, người mẹ, người cha của những người tù “cải tạo” đi thăm nuôi. Họ cũng khó khăn, cũng phải thắt lưng bụôt bụng nhưng làm sao có thể bỏ quên được cái núm

ruột của họ đang hiu hắt nơi rừng già xa xôi ấy… Chuyện xóm cũ nhà chị là chuyện dài… Chuyện dài kể làm sao cho hết…


     Ngay đầu con hẻm vào nhà chị bên nầy là nhà bà N, bên kia là tiệm sửa xe Hon đa của ông T. Bà N sống với hai đứa con gái, bà một mình buôn bán nuôi con. Cửa hàng của bà bán đủ thứ tạp nham, có cả dây dừa, dép su, bánh tráng, ớt tỏi… đủ thứ thứ… Đa số là hàng hóa thâm niên cố đế. Khách hàng của bà là những người lạ hoắc ở đâu đâu không biết “đầu đuôi gốc ngọn” của bà nên tấp vô mua. Ở xóm chị ai cũng tránh trớ chẩng dám ghé lại cửa hàng của bà. Lâu lâu có người cũng xã giao tình hàng xóm ghé mua củ tỏi, củ gừng.  Mà mua rồi có sao cũng phải nín khe không dám nói ra vì bà chính là “cái đài phát thanh ngoài giờ” của xóm chị. Sau  năm 75 bà lăn xăn đi tìm cha của hai đứa con gái. Nghe nói cha của hai đứa con bà trước đây là “cán bộ nằm vùng” rồi sau chạy lên núi. Sau mấy tháng săn tìm mõi mệt, một bữa bà bắt đầu mở cái đài phát thanh của bà  ra chưởi đổng: “Tổ cha tụi bây! Uổng công tau che dấu, tiếp tế cho tụi bay. Bây chừ về đây có chức trọng quyền cao nên quên mất cái con mẹ nầy”. Bà “mở đài” liên tục mấy ngày và xóm chị cũng ồn ào mấy ngày. Lâu lâu bà tắt đài để “tu”, cả xóm nghe im re, buồn hiu. Thấy yên lặng quá tụi nhỏ lại ném vài cục gạch vào trước sấn nhà bà , thế là cái “loa phát thanh” của bà mở lại đến mấy ngày chưa chịu tắt… Bà cũng có nhiều lúc thật là cắt cớ làm khổ lòng người khác. Chị nhớ lại… một ngày, sau bảy năm tù “cải tạo” chồng chị được tha về. Trở về lại xóm cũ đã đổi thay nhiều … Chồng chị với bộ quần áo tù nhàu nát, tay xách chiếc giỏ mây (tài sản của người tù “cải tạo”), anh đang lòng vòng tìm lại con hẻm cũ. Bất ngờ bà N trông thấy bà la to chắc để cho mọi người gần đó đều biết: “A! Đại úy về! Đại úy về! Dạ, dạ, con hẻm nầy vô nhà đây Đại úy à!”. Không biết bà đã chơi xỏ hay vẫn còn chút ân tình với những người lính VNCH cũ. Cái chuyện nầy thì không biết trả lời sao chỉ tội nghiệp cho chồng chị “con chim đã bị đạn” bây chừ nghe nhắc lại chuyện xưa anh nghe đau nhói trong tim, khó chịu đến hoảng sợ và lầm lũi đi sâu vào trong con hẻm… Bên cạnh gốc mít trước nhà chị  là cái nhà nhỏ tí tẹo của bà Tám già. Bà Tám thân một mình không con không cháu cũng bỏ cái làng quê ở Quế Sơn vào đây tránh giặc. Bà được ông bà Sáu cho chút đất cất nhà để ở. Bây chừ thì bà hết chỗ chạy nữa rồi. .. Bà có cái kệ nhỏ nhỏ bán bánh kẹo trước hiên tiệm sửa xe của ông T. Tiếng ho khàn đục của bà trong đêm vắng đã như bạn đồng hành giúp chị bạo dạn đi, về trong cái hẻm tối tăm nầy. Cái vườn của bà Sáu sát nhà chị là một khoảng đất rộng . Ngày trước 75 ông bà làm mấy căn nhà tôn để cho thuê. Sau nầy nhà bỏ trống vì mọi người lũ lượt trở về quê. Ông Sáu cũng có chức vụ gì đó trong đảng phái chống cọng thời chế độ cũ nên bây chừ ông cũng vắng nhà như chồng chị để bà phải chăm sóc một đàn con nheo nhóc. Một mình bà bương chải nuôi con. Khoảnh vườn của nhà bà đã biến thành một vườn chuối và khoai sắn. Mấy căn nhà tôn đã được bà tháo ra bán dần để nuôi năm sáu miệng ăn ở nhà và một miệng ăn trên núi. Hằng ngày cứ thấy bà đốn chuối cây ngồi xắt, cây già thì xắt cho bầy heo, cây non thì xắt làm rau, làm gỏi để đàn con ăn độn thêm cho đầy cái bao tử. Cái kho chứa đồ sát bếp nhà bà Sáu được chái rộng ra là nơi tá túc của gia đình thầy Q. Ngày trước thầy làm thư ký cho một trường trung học tư thục, thầy được trường cho một chỗ ở ngay trong trường. Bây chừ trường bị nhà nước trưng dụng nên thầy phải dọn ra ngoài. Hằng ngày chỉ thấy thầy ở nhà trông con, đi lấy hàng phụ cho vợ thầy buôn bán dưới chợ. Cuộc sống gia đình thầy tuy khó khăn nhưng cũng êm đềm trôi qua. Bỗng dưng một ngày xe của công an thị xã dừng lại trước đầu con hẻm. Ba, bốn người công an nối đuôi nhau đi thẳng vô nhà thầy. Họ đọc lệnh triệu tập rồi còng tay thầy dẫn đi trước sự ngơ ngác của bà con xóm chị đứng hai bên con hẻm. Một người trong đoàn dẫn thầy Q đi ôm theo một mớ giấy tờ và một cái bàn máy đánh chữ (chắc là tang chứng ,vật chứng…?). Thầy Q bị còng tay bước đi nhưng cứ quay đầu nhìn lại bà con trong xóm. Trong ánh mắt thầy như có lời gởi gắm lại vợ con cho mọi người. Cái chuyện thầy Q bị bắt đi được bà con trong xóm xầm xì bàn tán nhưng chẳng ai tìm ra câu trả lời, cho đến một đêm trong một buổi họp tổ dân phố, ông công an trưởng tuyên bố cho bà con biết, thầy Q bị bắt vì tội “tham gia hoạt động chống phá chính quyền”. Bà con trong xóm thấy lo âu vì như vậy chắc thầy ngồi gở lịch cũng lâu lắm… Ai cũng len lén nói với nhau khâm phục thầy Q thật là can đảm. Bà Tám già và bà Sáu lại có thêm viêc để làm là hằng ngày giúp đỡ coi chừng mấy đứa con cho vợ thầy xuống chợ buôn bán.  Vợ thầy Q bắt đầu tham gia vào “đội quân đi thăm nuôi chồng” của xóm chị từ ngày đó. Để lo cho việc củng cố chính quyền trong những ngày mới “giải phóng” được miền nam, bà con xóm chị được chính quyền triệu tập họp hành liên miên, thỉnh  thoảng mới được nghỉ một đêm. Hết họp nhóm, đến họp tổ, họp khối, họp phường… Riêng chị một mình “đứng hai ba chân”, ngoài những buổi họp chính của chính quyền chị còn phải tham gia họp ở nhiều nhóm khác nhau như hội phụ nữ (vì chị đã có chồng, có con), hội thanh niên (vì tuổi đời chị mới 24 tuổi), hội lão bà (chị phải đi họp thay cho mẹ chị).  Bởi vậy cho nên tối nào chị cũng bận rộn cho viêc họp hành, cứ xoay vần trong tuần, trong tháng. Những gia đình như chị có người thân đi tù “cải tạo” lại phải tích cực tham gia đầy đủ nên chẳng ai dám ù lì. Đặc biệt nhất là những đêm họp để giải quản (xóa đi cái án quản chế tại đia phương cho những anh em “ngụy quân, ngụy quyền” đi tù  “cải tạo” về). Mọi người tham dự rất đông. Trong những buổi họp nầy ý kiến của người dân trong xóm, trong nhóm cũng quan trọng lắm. Bà Tám già ngó vậy mà lại được việc. Chắc bà thí cái mạng già của bà nên “điếc không sợ súng”.  Cái giọng khàn khàn, re re của bà lúc nào cũng cất lên “khai hỏa” trước để bọn đàn bà nhóm vợ tù như chị cất lên sau.  Chính những ý kiến đóng góp tốt của bà con trong xóm đã giúp cho nhiều anh em tù “cải tạo” có thêm được chút quyền tự do  trong cuộc sống hằng ngày. Thế mà trong lần họp giải quản cho chồng con Ch cũng gặp nhiều điều không ưng ý. Chồng con Ch thật là xui xẻo, đeo lon chuẩn úy có mấy ngày là tan đàn rả nghé thế mà cũng mất một năm ở tù “cải tạo”. Trong những đêm họp nầy người tù về họp để giải quản phải đọc trước chính quyền và bà con nhân dân về dự họp cái bản kiểm điểm sinh hoạt cá nhân của mình trong thời gian bị quản chế tại địa phương. Hôm đó chồng con Ch viết cái bản kiểm điểm dài thòng và tự tin đứng đọc. Chị không còn nhớ chồng con Ch đọc những gì, diễn tả ý nghĩ của chú ấy ra sao mà chị chỉ nhớ có một câu chú ấy đọc “Đường nào rồi cũng đi về La Mã…” Khi nghe đến đây chị thấy ông trưởng công an đưa tay chặn lại rồi nói: “Thôi đủ rồi, đừng đọc nữa, đi đâu mà nhiều thế!”.  Rồi quay qua anh công an ngồi bên cạnh ông nói “Tiếp tục quản chế tên nầy! Chưa rõ ràng, còn nhiều chỗ đáng nghi ngờ”. Chồng con Ch chưng hửng, há hốc miệng, đứng im như trời trồng. Còn con Ch thì mặt méo xẹo. Thế mà nó hy vọng lần nầy chồng nó sẽ hết án quản chế và được phép chạy xe thồ xa hơn để kiếm thêm tiền phụ nó nuôi mấy đứa con. Tội nghiệp! Một hy vọng nho nhỏ như vậy mà cũng không được như ý! Bà con xóm chị cũng bất ngờ, không hiểu chuyện như thế là thế nào và chưa ai có được một ý kiến đóng góp nào giúp cho chồng con Ch cả. Bà Tám già nảy giờ chưa “khai hỏa” được nên mở hàng bằng một tràng ho sù sụ rồi buồn lòng đứng lên đi về trước.  Còn cái hôm họp giải quản cho chồng bà năm Sún thì sôi nổi hơn. Chồng bà năm Sún làm cảnh sát thời chế độ cũ.Nghe nói ông hay ngồi gác chỗ cổng ra vào của ty cảnh sát. Hôm đó ông viết  tờ kiểm điểm cũng dài, ngồi ở dưới nhìn lên chị thấy cũng đầy được một trang giấy. Ông cầm tờ giấy run run, đọc hoài mà không ra tiếng.  Bà năm Sún ở dưới nóng ruột cứ nhắc tuồng “ Đọc đi! Đọc đi!” Cuối cùng rồi ông cũng rề rà đọc xong bản kiểm điểm.  Ông trưởng công an ngồi cười cười rồi cho bà con có ý kiến. Lần nầy không chờ bà Tám già  “bắn phát súng đầu tiên”, bà năm Sún đã đưa tay có ý kiến cho chồng bà làm bà con ở đây la lối nói bà năm Sún “mèo khen mèo dài đuôi”, ai mà tin. Thế rồi mọi người ai cũng có ý kiến tốt cho chồng bà năm Sún. Thực ra thì ông ấy cũng rất hiền lành, chất phát. Từ hồi nào đền giờ ông chưa làm mích lòng ai. Bà Năm tính lại mau mắn, xấu người nhưng tốt bụng, bà con trong xóm ai cũng thương mến. Ông trưởng công an nảy giờ ngồi nghe rồi hỏi bà con trong buổi họp “giải án quản chế cho tên nầy được không bà con? ” Mọi người đồng thanh nói “được! được!”. Xoay qua anh công an bên cạnh ông nói “Giải quản cho nó đi, mười thằng như thằng nầy cũng chẳng sợ”. Bà năm Sún mừng húm, cười toe toét lộ ra cả hàm răng sún thật là tội nghiệp. 


Nếu có ai để ý chút  xíu sẽ thấy khó chịu ở những buổi họp như thế nầy vì tiếng gải sột soạt, tiếng cựa mình liên tục của bà con đang ngồi họp. Đó là cái dịch bệnh ghẻ ngứa không biết từ đâu lan nhanh trong chòm xóm (bà con trong xóm xầm xì với nhau là dịch ghẻ “bộ đội”). Người lớn thì ghẻ ngứa, con nít thì ghẻ lỡ. Thuốc men không đầy đủ bà con chỉ biết tự tắm rửa bằng nước nấu từ các loại lá cây. Các trạm y tế chỉ cung cấp cho mỗi  một thứ  thuốc lưu huỳnh để bôi xức. Thuốc có màu xanh như mực nên khi dùng để bôi ghẻ bọn con nít đứa nào cũng xanh lét một màu trông thật tội nghiệp. Trong những buổi họp như thế nầy bà con trong xóm chị sợ nhất là ý kiến của vợ chồng ông cả U và ông hai L. Mấy người nầy thường hay vạch là tìm sâu, luôn luôn tạo khó khăn cho mọi người. Hồi chế độ cũ họ cũng là những người lính cộng hòa, nhưng ngó vậy mà không phải vậy, bởi bây chừ họ là người của chính quyền mới. Họ theo dõi từng hành vi cử động của bà con trong xóm để đi tâu mét lại với chính quyền. Mẹ chị thường hay nói đó là những “ngọn cỏ đuôi chồn”, gió chiều nào ngã theo chiều đó. Vợ ông hai L là tổ trưởng phụ nữ. Cứ một tháng hai lần bà tới từng nhà thu “gạo nuôi quân”. Cái nhóm từ “gạo nuôi quân” nầy mẹ chị nói có từ thời sống với Việt Minh, nhưng lúc đó chị còn nhỏ quá nên bây chừ chị nghe rất  lạ tai. Mỗi lần vợ ông hai L đến thu gạo nuôi quân là bà cứ luôn miệng nhắc nhở mẹ chị “Bác cố gắng đong thêm gạo lên vì quân mình còn thiếu thốn”. Cứ thế mẹ chị lại phải tăng dần số gạo đong cho bà từ nửa lon lên một lon, lên lon rưởi…trong lúc gia đình chị cũng đang khó khăn và cũng đếm từng hạt gạo. Nhớ cái ngày “quân giải phóng” mới vào thành phố, ông cả U nhanh nhẹn tháo bỏ bộ đồ trận, tay đeo băng đỏ chạy lăng xăng theo mấy anh “giải phóng” vòng vèo qua mấy con phố, miệng thổi còi te te, khua chân múa tay giữ trật tự. Theo cái đà nầy ông ta tiến từ từ lên các chức vụ ở tổ dân phố, khối phố rồi lên đến phường. Ông thiệt ngây thơ không hiểu được ông như lát chanh và họ sẽ vứt đi sau khi đã vắt hết nước. Ai mà tin tưởng được những con người như ông. Trong thời buổi đó những con người như ông cả U, ông hai L không phải là ít. Họ máy móc chạy theo thời, quay lưng lại với bà con chòm xóm, quay lưng lại với bạn bè…Bên kia hàng rào kẻm gai sát nhà chị là vườn của gia đình ông cán bộ mới từ ngoài Bắc dọn vào. Căn nhà mà ông cán bộ nầy dọn ở ngày trước là nhà của một quan chức làm trong Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa. Chắc nhà nước cấp không cho ông cán bộ nầy. Mới vừa dọn vào hơn một tháng chị đã thấy vợ chồng ông cán bộ xới tung cái vườn lên để tăng gia sản xuất. Có lẽ vợ chồng ông cán bộ đã rút được kinh nghiệm trong cuộc sống ở ngoài Bắc nên đi “tiên phong” cho bà con trong xóm học tập. Từ đó sáng sáng bà con xóm chị bị “đánh thức” bởi cái mùi xú uế bốc lên từ nơi hầm “phân bắc” mà vợ chồng ông cán bộ dùng bón và tưới rau. “Phân bắc” quả tốt thiệt, mới không bao lâu mà cái vườn rau của ông bà ấy xanh ngắt một màu. Vợ chồng ông cán bộ sống cũng có tình cảm với bà con chòm xóm, lâu lâu cũng mang tặng bà con hàng xóm vài cây cải to như cái nơm nhưng chẳng ai dám dùng. Không khí trong xóm bị ô nhiểm bởi cái mùi xú uế phát ra từ nhà ông cán bộ nhưng bà con phải cúi đầu mà ngửi, biết kiện thưa với ai vì chủ trương của nhà nước cũng phát động nhân dân nên sử dụng “phân bắc” trong sản xuất mà. Nói đến chuyện “phân bắc” chị lại nhớ lại câu chuyện làm “phân bắc” mà chồng chị đã kể lại cho chị nghe lúc anh còn ở trong trại tù “cải tạo”. Lúc ấy anh làm trong đội làm “phân bắc” của trại tù. Hàng ngày anh cùng các bạn tù gánh những thùng phân mà các bạn tù vừa thải ra trong ngày hôm trước ra ruộng. Rồi dùng đôi tay trần của mình bóp cho nhuyển những cục phân đó ra, trộn với tro và rải xuống ruộng bón cho lúa. Câu chuyện mới nghe ai cũng rùng mình tưởng như không có thật nhưng thực tế là như vậy. Chỉ những người sống trong “cái thế giới của đỉnh cao trí tuệ” mới có được những sáng kiến tuyệt vời nầy! Nhích lên phía trên nhà bà Sáu là nhà hộ sinh Kim Cúc và tiệm thuốc tây Vườn Lài. Chủ hai cơ sở nầy là một người đàn bà nhân hậu, luôn luôn trải rộng lòng ra để giúp đỡ bà con trong xóm. Đó là chị Kim Cúc. Cái “xưởng đẻ” và cái nhà thuốc tây của chị Kim Cúc chỉ hoạt động được một thời gian rồi cũng phải đóng cửa vì tất cả phải tập trung vào sự quản lý của nhà nước. Chị còn nhớ những ngày sau 75 khi tiệm thuốc tây Vườn Lài còn mở cửa đó là nơi liên lạc thư từ của chồng chị.  Qua trung gian của mấy người bán cà rem, chạy xe thồ…thỉnh thoảng những cánh thư tù của chồng chị được chuyển về đây. Những cánh thư tù được xếp lại nhỏ xíu bên ngoài có ghi mấy chữ “nhờ chuyển về chỗ nhà thuốc tây Vườn Lài”, thế là chị Kim Cúc lại hối hả đi vào trong con hẻm tìm trao tận tay cho chị. Chị quên làm sao được những cánh thư tù ấy…Không có con dấu bưu điện…Không có những lời thư yêu thương lãng mạng như ngày nào… Nhưng những cánh thư ấy như một ngọn nến vàng thắp sáng niềm tin trong chị. ..như sức mạnh kỳ diệu tiếp sức cho chị vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống hàng ngày …Đứa con đầu lòng của chị cũng chào đời tại nhà hộ sinh Kim Cúc nầy. Trong hoàn cảnh của chị lúc ấy, chị Kim Cúc đã giúp đỡ, chăm sóc cho chị như người chi lo cho em mà không lấy một đồng xu cắt bạc nào. Bây chừ chị Kim Cúc đã không còn nữa. Chị đã vĩnh viễn ra đi trong một tai nạn giao thông, để lại sự thương mến cho bà con trong xóm. Hôm nay chị nhắc đến chị Kim Cúc với sự tiếc thương như đốt một nén hương lòng tưởng nhớ đến chị Kim Cúc để thay cho một lời cám ơn…



     Quê chị tuy nghèo nhưng cũng có những ngày Xuân thật đẹp. Khi những cọng nắng hanh vàng kéo về hong trên các cành cây ngọn cỏ. Gió Xuân hây hây thổi đùa giởn trên những luống cải đầy hoa vàng trong vườn nhà chị. Đó là lúc bà con xóm chị lao xao chuẩn bị đón Xuân về. Nhóm đàn bà vợ tù “cải tạo” như chị lại lo sắm sửa quà cáp cho chuyến đi xa thăm nuôi chồng. Tuy nhiên, dù làm gì thì làm nhưng bà con xóm chị cũng không thể quên, hay thiếu vắng trong mấy ngày “ra quân lao động” đầu năm mà chính quyền bắt buột. Mọi người lo cúng kiến ông bà, vui xuân …gói gọn trong ngày mùng một tết để ngày mùng hai lên đường lao động. Bởi vậy nhóm vợ tù của chị hẹn nhau “xuất hành” đi thăm chồng từ sau ngày mùng ba tết để còn lo về làm ăn nuôi con . 
  
 Những năm về sau khi tình hình bớt khắc khe hơn, cuộc sống dễ thở hơn, người dân được hưởng chút ít tự do…Cũng vào một ngày Xuân, khi lo xong cái nghĩa vụ của người dân, thằng Hùng “thẹo” dông xe xuống  phố thuê một cái TV, một cái đầu máy và cũng không quên thuê thêm mấy bộ phim chưởng đem về nhà để chơi xuân. (Thằng Hùng sống bằng nghề đạp xe ba gác , trong một lần dành giựt mối làm ăn đã ẩu đả với người ta để lại vết thẹo trên má , từ đó bà con cứ gọi nó là Hùng “thẹo”.Ba thằng Hùng là Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn của thời chế độ cũ bị kết tội có “nợ máu” sao đó nên cũng còn mịt mù nơi núi rừng Tiên Lãnh như chồng chị. Thằng Hùng bỏ học lăn lộn vào đời giúp mẹ nuôi mấy đứa em ). Không phải kiên cử đầu năm như mọi người, nhà thằng Hùng chật ních người đến xem phim miễn phí. Thằng Hùng “thẹo” cũng đã chịu khó sắp xếp chỗ ngồi cho bà con trong xóm. Ngồi trong cùng là mấy đứa con nít, rồi đền mấy ông bà già, mấy người sồn sồn; mấy đứa thanh niên trai trẻ thì ở ngoài cùng. Bộ phim “Anh Hùng Xạ Điêu” được xuất hiện trên màn hình TV, tiếng đấm đá ì xèo. Mọi người vỗ tay, la hét om sòm. Cái chuyện xem phim chưởng thường hay ghiền nên chẳng ai nghĩ đến chuyện buồn ngủ và phim được chiếu thâu đêm suốt sáng. Những bước chân chạy rầm rập, tiếng chó sủa râm ran làm cho xóm nghèo của chị “vui như ngày Tết!”. Thằng Hùng tay bưng ly nước ra đứng trước sân nhìn vô trong nhà có vẻ thích thú, mãn nguyện như đã làm được một việc nghĩa hiệp lớn. Nhưng cái “rạp chiếu phim” của thằng Hùng hoạt động được hai ngày thì mấy anh công an khu vực đến “làm việc” và bắt mọi người phải giải tán không được “tập họp trái phép” gây mất an ninh, trật tự. Nếu không có mấy anh công an nầy tới giải tán thì thằng Hùng cũng chỉ có thể cầm cự “cái rạp chiếu bóng tự phát” nầy thêm được một ngày nữa thôi vì số tiền dành dụm để chơi Xuân của nó cũng cạn rồi…Tưởng mọi chuyện qua đi … nhưng ngày hôm sau thằng Hùng bị công an khu vực mời đến “làm việc”. Sau khi viết xong bản kiểm điểm thằng Hùng được tha về . Ai cũng lo lắng nhìn nó . Nhất là mẹ nó , hai tay bà chấp lại vừa

lạy vừa nói “mẹ lạy con ! mẹ lạy con!”. Thằng Hùng thì tỉnh queo ,cười cười rồi nói với bà con trong xóm “Có sao đâu , “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt . Còn hơn là le lói suốt năm canh”. Bà con yên tâm đi ! Tui để dành tiền đến Tết tới tui chơi nữa “.
*
     
 Mùa Xuân qua nhanh và mùa Hạ lại về. Xóm nhỏ nhà chị lại râm ran tiếng ve. Phượng đỏ thấp thoáng đó đây trong các sân trường. Bọn nhỏ học trò lưu luyến chia tay thầy cô và bè bạn để về nghỉ hè…


  Rồi cũng một mùa hè như thế, gia đình chị đã hoàn tất hồ sơ đi định cư tại Mỹ. Bà con trong xóm đến nhà chị thăm hỏi để chia tay. Ai cũng mừng cho gia đình chị, nhưng cũng không khỏi để lộ vẻ buồn trên nét mặt vì phải chia tay người bạn đã chia xẻ cùng nhau trong những ngày cơ khổ. Bà cán bộ hàng xóm nghe phong phanh chuyện đi Mỹ của gia đình chị cũng đã nói chuyện với chị  từ chỗ hàng rào kẻm gai sát bên nhà.: “Cô ơi! Nghe nói cô chú đi Mỹ hả? Ối trời ơi! Đi làm gì thế hở cô? Ở đây cô chú làm ăn ngon lành như thế thì tội gì đi sang bên đó làm đầy tớ cho Mỹ”. Chị muốn nói cho bà cán bộ hàng xóm biết “dẫu làm đầy tớ cho Mỹ cũng vẫn còn hơn ở đây làm cán bộ”, nhưng chị làm thinh vì biết có nói với bà ấy thì cũng như “đem đàn mà gảy tai trâu”…

*
 
  Sau nhiều năm xa cách chị trở về thăm quê nhà.  Xóm cũ nhà chị cũng đã đổi thay nhiều, những gia đình bạn “vợ tù cải tạo” cũng lần lượt ra đi định cư ở Mỹ. Nhiều gia đình làm ăn không thuận lợi đã vào Sài Gòn lập nghiệp. Nhiều căn nhà lầu cao tầng của những người mới tới mọc lên làm cho con hẻm càng thêm sâu hút. Ông Hai L đã già yếu không còn chạy nổi xe thồ nên ngồi một chỗ để suy gẫm chuyện đời. Ông cả U tóc đã muối tiêu vừa mới ra tù vì tội thâm thủng tiền quỹ thuế của phường.(nghe đâu ông làm thâm thủng mấy chục triệu mà phải ở tù hơn ba năm, còn những người thâm thủng tiền triệu triệu, tiền tỷ thì vẫn phè phởn ngoài vòng pháp luật. Ông cả U đã làm “con dê tế thần” cho họ mà ông không biết). Ngôi nhà cũ của chị đã được sửa chữa lại khang trang hơn. Trở về thăm xóm cũ lòng chị bồi hồi xúc động, khung trời kỹ niệm cũ lại hiện về … hình ảnh những người bạn xóm giềng như vẫn còn gần gũi đâu đây…Bà Sáu, bà N, bà Tám già, vợ thầy Q, bà Năm Sún, thằng Hùng thẹo, con Ch…tất cả như những chứng nhân cho một cuộc đổi đời…


  Xóm cũ mến yêu ơi! Xa rồi những ngày khốn khó…Nhớ thương đầy ắp lòng ta…  
                                                                                                                    
Nguyễn Thị Duy

(nàng dâu NT1 Trần Kim Khôi)
Charlotte, những ngày chớm thu

Trở lại: Mục Lục Đặc San Ức Trai 2013