Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2013 Cha bỏ quê, con bỏ nước.

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Cha bỏ quê, con bỏ nước.

In PDF.





Ba tôi và vợ tôi lên trại cải tạo Vườn Đào, gần Cai Lậy, Mỹ Tho lãnh tôi về. Những ngày vui đoàn tụ qua nhanh, nhường chỗ cho nỗi lo cho kinh tế gia đình. Ở lại Cần Thơ không biết làm gì để sống, nên vợ chồng tôi, lúc ấy chỉ có đứa con gái đầu lòng dọn về quê, chọn nghề ruộng rẫy. Bà Nội tôi cho được ít công ruộng sống qua ngày.

 


Sống ở quê được ít tháng, tôi mới biết đây không phải là nơi dung thân của mình, tôi là quân nhân của chế độ cũ, bị “quản chế”, mỗi tháng phải mang cơm nhà áo vợ, đi làm công tác cho xã hết 20 ngày và có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào, phép vua thua lệ làng mà. Nhưng điều quan trọng hơn hết của tôi là tương lai con cái tôi, sống dưới chế độ này, nơi quê cha đất tổ, con cái tôi sẽ không thể tiến thân nổi, nên tôi quyết định tìm đường ra đi.


Ngày lễ kính Thánh Cả Giuse năm ấy, Thứ Bẩy 19 tháng 3, tôi và một số ngưòi từ Sài Gòn về Cần Thơ, đang ở nhà Ba Má tôi chờ người báo tin để xuống ghe vượt biên. Má tôi mặc áo dài chuẩn bị bước ra khỏi nhà và quay lại bảo tôi “má đi nhà thờ cầu nguyện cho con vượt biên được bình an”. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy và được nghe Má tôi nói.


Đang lúc Má tôi ở nhà thờ Bình Thủy cầu nguyện cho tôi thì người báo tin đến, tôi nhìn Ba tôi đang ngồi trên chiếc “đi-văng” thật lâu mà không dám nói lời nào, Ba tôi cũng im lặng nhìn tôi. Tôi nuốt nước mắt cùng những người bạn bước ra khỏi nhà lên xe đi Cầu Kè và xuống ghe ra cửa sông Hậu trong đêm ấy. Sau bao trở ngại trên đường đi, cuối cùng chiếc ghe vượt biên của chúng tôi ra đến cửa sông khi trời vừa rạng sáng.


Nhìn xa xa thấy một đàn ghe, không biết có phải là ghe đánh cá hay ghe của công an biên phòng, bổng trời tối sầm, trời đổ cơn mưa, mưa tầm tả, chúng tôi ra khơi … Bờ biển quê hương mờ dần, mờ dần rồi khuất hẳn, chỉ còn trời và biển bao la, công ơn cha mẹ như trời biển bao la…Tôi bỏ nước ra đi.


Bỏ lại vợ và bốn đứa con thơ dại ở quê nhà, một mình vật lộn với cuộc sống nơi xứ người, nhớ Ba Má và vợ con không tả nổi, mỗi lần ra thùng thư nhìn thấy thư từ quê nhà gởi qua lòng vui rộn rã. Nhưng có một hôm bốc thư của vợ tôi gởi qua, khi đọc đến giòng chữ: “Má đã về nhà Chúa rồi anh ơi”, mắt tôi mờ đi, tôi không còn thấy gì nữa, lá thư rớt xuống sàn nhà. Từ nay tôi mồ côi mẹ, mất mẹ, tôi mất cả một vùng trời yêu thương. Cuộc đời Má tôi bình thường cũng giống như bao bà mẹ khác, hình ảnh Má tôi lại về trong tôi như môt cuốn phim quay chậm.


Tôi được sinh ra ở họ đạo Bôna, trên mảnh đất của ông Nội tôi, được rửa tội ở họ đạo Kinh Đức Bà, quê Ngoại tôi. Chuỗi ngày thơ ấu của tôi trôi êm đềm trong vòng tay yêu thương của ông bà nội ngoại. Căn nhà nhỏ gồm Ba Má và ba chị em chúng tôi bên bờ sông, sống trong tiếng cười, yêu thương, hạnh phúc. Khi bâp bẹ biết nói Má tôi dạy tôi làm dấu Thánh Giá. Lớn thêm nột chút dạy tôi đọc kinh Kính Mừng, lần chuỗi Mân Côi, đọc kinh tối, kinh sáng, dạy tôi cầu nguyện.


Mỗi khi Tết đến, Má tôi kêu tôi thức dậy thật sớm, tôi bật dậy ngay, hôm nay được mặc quần áo mới. Ba bơi xuồng, chở cả nhà qua sông đi nhà thờ mừng tuổi Chúa, tôi còn nhớ lỏm bỏm câu hát: năm cũ đã qua bước sang năm mới… chúng con rày tới kính chúc Mẹ hiền.


Đến lễ Giáng Sinh Ba Má tôi phải bơi xuồng qua nhà thờ thật sớm để cho chị em chúng tôi được xem “thiên thần bảo”. Lúc xưa ở quê đám trẻ chúng tôi thường gọi hoạt cảnh Giáng Sinh là “thiên thần bảo”. Mấy chị đeo cánh làm thiên thần, leo lên cây điệp bên cạnh sân nhà thờ, đứng trên cành cây “bảo” các anh mục đồng đang nằm ngủ dưới gốc cây, đi hang Bê-lem thờ lạy Chúa Hài Đồng. Mỗi năm khi Giáng Sinh về, đám trẻ chúng tôi thường hỏi nhau năm nay có “thiên thần bảo” không, năm nào không có, chúng tôi buồn thiu.


Nhà bà Ba Viên cách nhà tôi ba căn, bà Ba sống với người con Út, chú Út Rép, các chú lớn hơn đã đi tập kết ra Bắc. Sau nhà bà có bờ ruộng, có mọc những cây gáo, người hàng xóm gọi là bờ gáo. Mấy ngày nay có bác Hai Diệm đến ở, bác hay đi đến nhà hàng xóm để làm quen.


Vào một buổi sáng nọ tôi vác chiếc lờ theo một anh hàng xóm lớn tuổi hơn tôi, đi theo bờ gáo ra ruộng bắt cá sặc. Đang lội bì bỏm dưới nước thì tôi nghe tiếng súng chát chúa từ nhà bà Ba, tiếng đạn bay vèo vèo trên đầu, nhìn lên bờ gáo thấy Bác Hai đang cầm cây súng ngắn trên tay, chạy thụt mạng,vấp té, bác lũi vô đám lục bình dưới ruộng nằm im. Tôi nghe tiếng kêu thất thanh của Má tôi vọng ra ruộng “ Hồng  ơi, con ơi, con ơi” . Tôi vừa khóc vừa hét  “con đây nè Má ơi, Má ơi”…Không biết Má có nghe tiếng tôi.


Khi tiếng súng đã im, tôi leo lên bờ gáo, không thấy người nhưng nghe tiếng quát “ê, thằng nhỏ, mày có thấy Việt Cộng chạy ra ngoài này không”, theo bản tính tự nhiên của một đứa trẻ tôi phải trả lời “có” vì rõ ràng bác Hai Diệm đang nằm im dưới đám lục bình, nhưng không hiểu sao tôi lại trả lời “không, con không thấy ai”. Những người lính quốc gia từ trong bụi rậm chạy ra và đưa tôi về nhà.


Chiều tối hôm ấy bác Hai đến nhà tôi vừa vò đầu tôi và cám ơn tôi đã cứu bác, nếu tôi chỉ cho những người lính biết bác trốn dưới đám lục bình ngoài ruộng, thì chắc bác không còn trên cõi đời này. Sau này tôi mới biết lính ở xã đã có tin tức là Việt Cộng nằm vùng đang ở nhà bà Ba Viên, lính đến xét nhà gặp ngay bác Hai. Bác rút khẩu súng lục, nhanh tay bắn người lính xét nhà và chạy bán mạng ra bờ gáo. Lính rượt và bắn xối xã theo. Nằm im dưới đám lục bình, bác nghe đưọc câu trả lời của tôi. Sau khi chiến cuộc trên quê hương mình chấm dứt, bác Hai mang quân hàm Thượng Úy.



Ba tôi sinh ra ở vùng quê nhưng may mắn được ông bà nội cho lên Sài Gòn đi học, được ít chữ nghĩa nên được mời làm cho Hội Đồng Xã thời ấy. Sau này Ba tôi ở luôn trong cơ quan xã ở ngã ba Xẽo Xu, gần nhà thờ Trà Lồng, lâu lâu mới về nhà. Má và ba chị em chúng tôi ở nhà với ruộng đất tương đối rộng, một mình Má tôi không trông coi nổi, cỏ hoang mọc đầy.


Tưởng sẽ được sống an bình mãi trong căn nhà hạnh phúc ấy, thì bổng một ngày nọ, sáng sớm Ba tôi trở về nhà. Ba tôi nói những ngày yên bình sẽ không còn nữa, mấy ông Cộng nổi lên, đêm nay dùng mã tấu chặt đầu người này, đêm mai chặt đầu người khác, những người cộng tác với chính quyền quốc gia từ từ sẽ bị thanh toán. Ba tôi từ giã Má con chúng tôi và vội vã đón tàu ra đi ngay sáng hôm đó,… Ba tôi đã bỏ quê ra đi.


Ba tôi có người quen, bác Hai Sanh lúc ấy đang làm Cai Tổng ở Đại Ngãi, bác tìm việc làm cho Ba tôi. Ba nhắn Má đem tôi ra Đại Ngãi để tôi đi học, vì ở quê không có trường học, kể cả một lớp tiểu học cũng không có. Ở Đại Ngãi có trường tiểu học rất khang trang. Khi Má chưa về quê thì tôi còn đi học, nhưng khi nghe Má phải về quê tôi lại không chịu đến trường vì tôi chưa bao giờ phải xa Má, tôi muốn theo Má về quê. Ba tôi bắt tôi ở lại với Ba để đi học, tôi không chịu đi, hôm ấy tôi bị một trận đòn để đời. Ba tôi đành thua tôi và đồng ý cho tôi về quê theo Má.


Tôi nghe Ba nói với Má: ra đến Sóc Trăng đi ngang qua Trường Nam Lasan nhìn học sinh mặc đồng phục Ba lại nhớ đến tôi, khi đi ngang qua Trường Nữ Providence thì nhớ đến chị tôi. Nhớ con mình chưa được đến trường, bây giờ Ba quyết định bỏ hết nhà cửa, ruộng đất dọn ra Đại Ngãi để cho chúng tôi đi học. Má con tôi trở về quê, gởi nhà và ruộng đất cho ông chú bà con, ruộng đất yêu thương này về sau không bao giờ được  trả lại.


Hôm trước ngày ra đi chị em chúng tôi đến từ giã ông bà nội, ông bà nôi tôi ôm chúng tôi vào lòng và nghẹn ngào: “lâu lâu nhớ về thăm nội nghe con”. Sáng sớm hôm ấy, Má con chúng tôi đón tàu ra đi, bùi ngùi nhìn lại căn nhà nhỏ bên bờ sông. Tạm biệt mi căn nhà yêu dấu của ta, không biết đến bao giờ ta sẽ trở lại. Chúng tôi theo Ba, bỏ quê ra đi.



Ba tôi đón Mẹ con chúng tôi ở chợ Phụng Hiệp và đưa cả nhà về Đại Ngãi. Chị em chúng tôi hoc xong tiểu học, tôi vào Chủng Viện Sóc Trăng, chị và em tôi ra Sóc Trăng tiếp tục bậc trung học. Cả nhà sống được là nhờ đồng lương ít ỏi của Ba tôi. Ba tôi thường hay nói với chúng tôi, dù nghèo khổ thế nào, Ba tôi vẫn nuôi cho chúng tôi đi học để có tương lai tươi sáng hơn.


Con cám ơn Ba nhiều nghe Ba, nếu Ba không sáng suốt rời bỏ nhà cửa, ruộng đất thì chị em chúng con đã dốt nát và chưa chắc gì con còn sống đến ngày nay. Mấy thằng bạn hàng xóm cùng trang lứa của con, thằng Lợi con chú Năm Cầm, thằng Tâm con bác Tám Cần, thằng Ngàn con cô Ba Vàng, trong chiến tranh tụi nó đã ngã gục giữa hai lằn đạn đang độ tuổi thanh xuân, không có đứa nào còn sống sót. Bây giờ con đã làm cha, làm ông nội, ông ngoại, con mới biết thế nào là cái giá của từ bỏ, của hy sinh.


Ba ơi, Ba bỏ quê vì tương lai của chị em con. Còn con, con bỏ nước vì tương lai của đám cháu nội Ba. Con viết những giòng này để cảm tạ Chúa, tạ ơn Thánh Cả Giuse, “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi”. Tạ ơn ông bà cha mẹ đã vất vả, hy sinh để tương lai con cháu được tốt đẹp hơn. Cám ơn tất cả những tình thương yêu, giúp đở của bạn bè, ân nhân trãi dài trong cuộc đời tôi để tôi có được cuộc sống hạnh phúc hôm nay, đặc biệt mãi mãi nhớ ơn gia đình người bạn thân quí nhất đời tôi, Đặng Hiéu Sinh.


 Xin tạ ơn đất nước Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay, cưu mang và tạo cho gia đình tôi sống yên vui trên vùng đất chảy sữa và mật này, vùng đất mà mọi nguời trên thế giới đều mơ ước được đặt chân tới.




Dallas, mùa Lễ Tạ Ơn 2012

NT3 Lý Phước Hồng

***************************************************

Trở lại: Mục Lục Đặc San Ức Trai 2013