Bạn Đang ở đây: Đặc San Ức Trai Đặc San Ức Trai 2013 Tưởng nhớ cố Đại úy Phạm Đức Thắng Khóa 2 - Chiến Tranh Chính Trị

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Tưởng nhớ cố Đại úy Phạm Đức Thắng Khóa 2 - Chiến Tranh Chính Trị

In PDF.



Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương 
Mầy hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi, hưởng chút ân cần.

(Thơ Trạch Gầm)  

 



Tôi xin mượn ba phần tư ý thơ của ông Trạch Gầm gởi bạn ông ta để  gởi bạn tôi, cố Đại Úy Phạm Đức Thắng. Tôi gọi là ba phần tư ý thơ bỡi vì bạn tôi cũng đã ra đi, nhưng ra đi trong tức tưởi, âm thầm. Không có chút “lễ nghi”, không có chút “ần cần” nào dành cho người lính nằm xuống vào tối ngày 28 tháng tư năm 1975, khi  mà cả đơn vị và đồng đội của anh đang ngập trong biển lửa, đang cố giữ vững tay súng và cũng đang theo nhau nằm xuống để  trả cái giá danh dự cho Tổ Quốc của những người lính đúng nghĩa.



Đề tựa tôi dùng cho bài viết này có thể kỳ cục với nhiều người, nhưng chắc nó gần gũi, thân quen với những người lính. Cho tôi được một lần gọi lại bạn tôi bằng cái ám danh truyền tin quân đội mà chúng tôi vẫn thường gọi nhau suốt hai năm dài sống chết bên nhau. Tôi gọi bạn tôi để nói với anh  rằng đồng đội  không bao giờ quên anh. Tôi có nhiều lý do để nói như vậy. Thứ nhất, bài viết này - với tôi -  là một biệt lệ, được viết theo “đơn đặt hàng” của các anh em thuộc khóa hai, trường sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, những người bạn cùng khóa gần bốn mươi năm trước của Phạm Đức Thắng vẫn luôn nhớ đến anh và vẫn muốn được một lần nhắc lại về anh; kế nữa, với tôi, đây không phải lần đầu tiên tôi viết về Thắng.
 
Nhiều năm trước đây, trong bài “Tây Ninh Chút Còn Lại Trong Lòng Một Người Lính” khi nhắc đến trận đánh bi hùng ở Suối Đá, tôi có viết về cái chết hào hùng của chuẩn úy Trần Hồng Thu và nguyên một tiểu đội vũ khí nặng 8 người của em và có đề cập đến người chỉ huy trẻ đầy lý tưởng của những chiến sĩ can trường này. Bài viết có đoạn:



Đại đội ba và Chuẩn úy Trần Hồng Thu đã làm đúng theo lời nhật lịnh của mình, không tiến được cũng không lùi một bước, quân đội không rườm rà bóng bẩy gì cả gọi như thế là ngon lành. Không ngon sao được, đại đội ba do Trung úy Thắng “mát” nắm mà. Xin lỗi bạn, bạn biết đó, khi đặt hỗn danh cho bạn không ai coi bạn là bất bình thường, bạn chỉ khác thường thôi. Không khác thường mà xuất thân từ lò Chiến Tranh Chính Trị, đàn anh khóa hai, được đào tạo để đánh giặc bằng cái đầu, cây viết và ba tấc lưỡi, bạn đã xin xuất ngành để trở thành lính bộ binh, ám số chuyên nghiệp 240 để nắm đại đội. Ước mong của bạn thật nhỏ: được coi Tiểu Đoàn để chấm dứt tình trạng bắt anh em đi lính cho Câu Lạc Bộ. Lính khổ quá, buồn quá, nghỉ ngơi ở đâu một chút, xe Dodge của hậu cứ chở hàng lên giá nào cũng mua, cỡ nào cũng chơi, ký sổ mà, và đến cuối tháng, từ bàn ông sĩ quan tài ngân, bước qua bàn ông quản lý câu lạc bộ và nhẹ túi bước ra ngoài nên lính đùa là đi lính cho câu lạc bộ. Thắng muốn dẹp nạn móc túi người lính và chỉ có thể làm được khi mình có quyền; tiếc thay anh chưa kịp “cưu” anh em thì chính anh đã bỏ anh em. Chiều tối ngày 28-4-1975, Trung úy Phạm Đức Thắng đã trở thành cố đại úy.



Phạm Đức Thắng, khóa 2 Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, ra trường năm 1971. Vào thời điểm này, những sĩ quan chiến tranh chính trị, có trình độ đại học xuất thân từ  ngôi trường chuyên nghiệp này không nhiều - trên dưới năm trăm người - Những hạt giống hiếm quí này, một phần  được phân phối về Tổng Cục hay các Cục trực thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, một số khác phục vụ tại các Tiểu Đoàn Chiến Tranh Chính Trị thuộc các Quân Đoàn hay các Khối Chiến Tranh Chính Trị, thuộc các quân binh chủng, Sư Đoàn, Tiểu Khu, Trung Đoàn… nhưng phần lớn những sĩ quan được đào tạo chuyên nghiệp (chính qui) này được điều động về cấp Tiểu đoàn, thậm chí cấp Đại đội bộ binh tác chiến. Thắng là một trong số những người  này. Thiếu Úy Phạm Đức Thắng đã phải làm quen với chiến trường một thời gian ngắn trong cương vị Trung Đội Trưởng trước khi được phục vụ đúng ngành đào tạo: Đại Đội Phó Chiến Tranh Chính Trị, thuộc Tiểu Đoàn 3/46 Sư Đoàn 25 Bộ Binh.



Trên nguyên tắc, ngành Chiến Tranh Chính Trị được đánh giá cao trong tổ chức quân đội và các cán bộ Chiến Tranh Chính Trị có mặt ở khắp các đơn vị, tuy nhiên, ở các đơn vị tác chiến, những sĩ quan xuất thân từ ngành này chỉ làm nhiệm vụ chuyên môn trong cương vị phụ tá cho đơn vị trưởng như Đại Đội Phó, Tiểu Đoàn Phó, Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị. Họ chỉ  làm Đơn Vị Trưởng khi đã chuyển ngành cho thích hợp và Thắng cũng ở trong trường hợp này. Đầu năm 1973, Trung Úy Phạm Đức Thắng, với ám số chuyên nghiệp 240 bộ binh trở thành Đại Đội Trưởng, Đại Đội 3 Tiểu đoàn 2/46, Sư Đoàn 25 Bộ Binh.



Sư Đoàn 25 Hành Khúc có đoạn:  “Đây sư đoàn 25, từ ven đô, đi Long An, về Bầu Tre, Tây Ninh lập thêm chiến công….” và Hùng Ca  2/46 khẳng quyết “Long An giúp dân, giúp dân, giúp dân, Tây Ninh trấn biên, trấn biên, trấn biên…đây Campuchia xông pha bao lần…”



Thắng đã bao lần ngẩng cao đầu, mắt sáng quắc, cùng anh em hát to lời tâm nguyện mà  đơn vị đã kỳ vọng  ủy thác và đã kiêu hãnh mang cái phù hiệu “Sét Miền Đông” với cái mặt trời đỏ và tia chớp vàng dũng mãnh lao vào các chiến trường lừng danh trong khu vực trách nhiệm của đơn vị ở Củ Chi, An Nhơn Tây,Trung Lập, Hố Bò, Chà Rầy, Bời Lời, Tầm Đinh, Sa Nhỏ của Hậu Nghĩa. Ngã Ba Đất Sét, Cổng Đen, Suối Ông Hùng, Cầu Khởi, Dầu Tiếng, Cầy Siêng, Trại Bí, Suối Đá, Phước Tân, Trãng Sụp, Ba Thu, Mỏ Vẹt của Tây Ninh và cũng đã bao lần rời ranh giới khu vực trách nhiệm cùng đơn vị bạn vượt giòng sông máu Thị Tính để tái chiếm An Điền, Rạch Bắp, Căn Cứ 82 hay theo quốc lộ 13, vựợt Lai Khê, Chơn Thành, Suối Tầu Ô hướng về An Lộc. Ngoài chiến trường, Phạm Đức Thắng có cái liều lĩnh, táo bạo của một sĩ quan trẻ tuổi, độc thân đầy ắp lý tưởng và trách nhiệm, nhưng cũng không bao giờ hành sử với bạn, với thù ra ngoài cái giới hạn mà trường mẹ đã dạy theo lời Thánh Tổ Nguyễn Trãi: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường baọ”. Như vậy đó, Phạm Đức Thắng đã sống những ngày đáng sống, đã sống để không hổ thẹn với chính mình, với đồng đội và với tổ quốc.



Sáng ngày 24 tháng tư năm 1975, Tiểu Đoàn 2/46 rời Gò Dầu Hạ, cùng Chi đoàn 2/10 Thiết kỵ nhận lệnh tăng phái cho Tiểu Khu Hậu Nghĩa. Người lính cuốn mìn, lấp hố, lãnh đủ hai lần cấp số đạn và ba lô lên vai hướng về khu vực trách nhiệm mới. Hậu Nghĩa như đang trong lò lửa nóng, cái tỉnh lỵ ven đô nghèo nàn xơ xác này như một cái gai cần xóa bỏ bằng mọi giá trong ý đố ép sát và cô lập thủ đô của Bắc quân. Hậu Nghĩa bị bao vây từ nhiều phía, bị pháo kích từ nhiều vị trí và nhiệm vụ của 2/46 là hành quân giải tỏa áp lực địch, mở rộng vành đai an ninh cho thị xã, hướng tiến quân là ngã ba Tân Mỹ, là nhà máy đường Hiệp Hòa, là Đức Hòa, Đức Huệ. 


24 tháng 4 - 75, tổ quốc chênh vênh bên bờ vực thẳm, lúc này lúc khác, chỗ nọ chỗ kia, qua tin tức từ hậu cứ, qua báo chí nhận được những lần tiếp tế hiếm hoi, qua những chương trình phát thanh từ các chiếc máy nhỏ cầm tay thì thầm giữ khuya, người lính biết vùng một đã mất, cao nguyên đã di tản, Qui Nhơn, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết đã không còn, Bình Long, Phước Long đã không còn, Sài Gòn đã bất ổn. Người lính biết lãnh đạo quốc gia đã thay đổi, lãnh đạo quân đội đã thay đổi, người Mỹ đã có kế hoạch ra đi, nhiều người có chức quyền đã ra đi, phòng tuyết Xuân Lộc đã khó còn giữ vững. Tất cả, tất cả là những thực tế làm quặn lòng người lính. Tuy nhiên, người lính không có thì giờ để nghĩ nhiều, người lính cũng không ảo tưởng gì về những nghĩa vụ lớn lao cứu dân cứu nước, người lính chỉ biết danh dự của những chiến sĩ Cộng Hòa và trách nhiệm của từng người đối với đơn vị, đối với  những đồng đội nhỏ nhoi tội nghiệp như nhau. Người lính giữ vững tay súng, bò lên, trườn lên, rất nhiều người có thể ngã xuống để chiếm lại từng tất đấùt, giữ từng mái nhà, bảo vệ từng người dân. Đó là danh dự, cái danh dư thiêng liêng mà người lính quyết bảo vể cho dẫu chỉ còn một hơi thở, cho dẫu ngày mai không biết rồi sẽ ra sao. Tôi không đại ngôn lớn lối ca tụng về một quân đội đã không còn, về một tập thể mà tôi có mặt. Tôi chỉ nói từ những kinh nghiệm máu xương về những giờ phút lịch sử, chua cay mà kiêu hãnh,  thay cho những người đã nằm xuống như bạn tôi Phạm Đức Thắng, hay thay cho hàng hàng lớp lớp những người lính đã chiến đấu đến những giây phút cuối cùng, sẵn sàng nằm xuống không rụt rè, không hối tiếc hay đã ứa lệ buông súng chỉ đến khi không còn ai chỉ huy, không còn một vùng đất nhà , không còn một đơn vị bạn nào để tìm tới họp đàn.



Tôi gặp - đúng ra phải nói là nhìn thấy  Phạm Đức Thắng lần cuối cùng chiều  ngày 28 tháng tư. Tiểu đoàn 2/46 nhận lệnh về bảo vệ Tiểu Khu , bảo vệ Tòa Hành Chánh, bảo vệ Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận. Tôi điều động anh em vào vị trí được chỉ định, ở một hướng khác không xa lắm, Thắng cũng đang làm một việc tương tự, chúng tôi nhìn thấy nhau và dơ tay lên cao để chào nhau. Những lúc sau này chúng tôi ít có dịp gặp gỡ, chuyện trò. Họạ hoằn lắm mới có những phút tao ngộ tình cờ ngắn ngủi trên đường chuyển quân và thường chúng tôi cũng chỉ cầm tay nhau, nhìn nhau trong im lặng như thầm nói với nhau một ước hẹn gắn bó không lời, như an ủi, như khích lệ nhau.



Thành phố đang trong biển lửa, đạn pháo làm kho đạn nổ, kho xăng cháy  và nhà cửa, đường sá sụp đổ, thủng nát. Tôi đi một vòng tuyến nhìn anh em binh sĩ lầm lũi đào hầm, căng mìn, nhìn thường vụ cắt gác, nhắc nhở chuyện nọ chuyện kia. Tôi xót xa nhìn những toán tiền đồn lặng lẽ tiến về các vị trí án ngữ xa xa. Người lính u uẩn mà kiên gan làm phận sự của mình. Chín giờ đêm 28 tháng 4 - 75, tôi gọi Phạm Đức Thắng trên hệ thống liên lạc nội bộ của đơn vị, người trả lời tôi là 53 B - 11 Mạnh Mẽ ( Đại đội phó đại đội 3, Thiếu uý Mưu). Tôi được Mưu nghẹn ngào trả lời 53 đi rồi 51 khi tôi hỏi thăm về Thắng. Ống liên hợp rung lên trong tay tôi, đầu óc tôi lùng bùng. Tôi loáng thoáng nghe Mưu kể về đợt pháo hỏa tập của đối phương vào vị trí đóng quân, về trái đạn delay xuyên thủng hầm  chỉ huy ngay phút đầu tiên và Thắng đã tức tưởi rời xa chúng tôi không một lời từ gĩa. Tôi buồn lắm nhưng có những lúc ngoài mặt trận người lính không có thì giờ để buồn, cũng không được phép buồn. Tiếng đạn pháo vẫn rít trên đầu, những quả đạn chạm nổ vẫn lóe sáng chỗ này, chỗ khác. Tôi phải trở về với thực tế, hò hét nhắc nhở anh em chuyện nọ chuyện kia và tự hứa với lòng sẽ ghé bệnh xá Tiểu khu thăm Thắng vào sáng hôm sau. Điều tự hứa của tôi không bao giờ còn thực hiện được. Buổi sáng ngày 29 tháng 4, pháo kích của đối phương tăng cường độ, những toán tiền đồn báo cáo phát hiện bộ binh phương Bắc đã xuất hiện ở nhiều nơi. Tiếng súng tấn công đã nổ rộ từ nhiều phía. Dân chúng hoảng loạn nhốn nháo. Liên lạc vô tuyến với chiến đoàn thưa dần rồi ngưng hẳn. Tiểu đoàn 2/46 tự quyết định bảo vệ và hướng dẫn dân chúng triệt thoái khỏi Hậu Nghĩa trưa ngày 29 tháng 4, năm 1975. Phạm Đức Thắng và nhiều anh em khác đã nằm lại nơi đó. Thân xác bạn có thể đã bị vùi lấp đâu đó trong một ngôi mộ tập thể vô danh vào  những giờ phút  hỗn mãn của thời cuộc, còn lại chăng là chút hồi ức buồn, luôn đậm nét trong lòng những người thân và những chiến hữu một thời sống chết bên nhau.



Nguyễn Mạnh An Dân

Những Lời Viết Thêm


Bài viết của tôi đã hoàn tất, trong lúc chờ sửa chữa cho hoàn chỉnh tôi nhận được một email của Đại Uý Vũ Đình Khoa, đại đội trưởng ĐĐ 2 Tiểu đoàn 2/46. Thư Khoa có một chi tiết rất đáng suy nghĩ: Quyết định ở lại sống chết cùng đơn vị của NT2 Phạm Đức Thắng mặc dù anh biết rõ tình hình tuyệt vọng và mặc dù có sự khuyến khích, hướng dẫn của một người bạn thân, đến phút cuối vẫn nghĩ đến anh và muốn điều tốt cho anh !

Mời quí vị đọc  lá thư mộc mạc của anh Vũ Đình Khoa để càng thấy trân trọng hơn tấm lòng của Phạm Đức Thắng



From: khoa vu <khoavu43@yahoo. com>
Subject: Thu cua KHOA goi DAN
To: dannguyen123@ yahoo.com
Date: Saturday, December 20, 2008, 11:11 PM

  

DAN than,
Toi nho lai lan cuoi cung gap THANG va so mang cua THANG gan den ngay dut phim. Chac DAN con nho ca Tieu doan dong o Go Dau Ha lanh luong ngay 22/4/75 sau do 24/4 di chuyen tang phai cho Tieu khu Hau Nghia, khi den noi cac Hau cu DD cho luong thuc vao cho cac Dai doi. Trong so di theo toan tiep te co Th/uy LAM CHANH TAO di theo vao gap toi co noi la Tr/uy NGUYEN GIA BINH dang o nga tu Cu chi - Hau Nghia sau khi o Saigon len, nho TAO vao gap toi va THANG, bao bo Don vi va BINH dang cho o ngoai do di ve Saigon, vi BINH len noi luc do o Saigon chuan bi ra di nhieu roi, vi BINH muon toi va THANG ba dua ra di, neu de chet gio thu 25 thi uong lam. Han ta chi muon hai chung toi theo han thoi. Sau khi lanh tiep te va hop voi Tieu doan xong thi toi va THANG cung TAO ra goc ruong, noi nho TAO noi lai,, hai chung toi khong bo Don vi dau. The la may hom sau, chieu  28/4/75 THANG trung dan phao kich tu tran.
Bye DAN nhe, toi chi nho lan cuoi cung gap THANG nhu vay thoi.
  
KHOA








***************************************************************

Trở Lại: Mục Lục Đặc San Ức Trai Hè 2013