Bạn Đang ở đây: Văn Khang Thư Quán Văn Khố Ức Trai Đoản Văn Ức Trai Một vài kỷ niệm với một người bạn tù: Đại úy Quách Dược Thanh

Tổng Hội Chiến Tranh Chính Trị

Một vài kỷ niệm với một người bạn tù: Đại úy Quách Dược Thanh

In PDF.

 



Sau khi đọc vài bài báo phổ biến trên báo in, cũng như  trên các trang web, viết về anh Quách Dược Thanh, vì cũng đã có một thời gian tôi bị giam chung với anh ấy, nên tôi xin đóng góp thêm một vài kỷ niệm của tôi về anh ấy, theo yêu cầu của con gái anh, để các con anh có niềm hãnh diện về  người cha của mình.



Gần cuối năm 1975, hầu như tất cả các sĩ quan QLVNCH, cấp bậc Đại úy đang bị giam giữ các nơi ở Quân Khu 4, đều được VC chuyển về giam tại khu gia binh Trung đoàn 33 Sư đoàn 21 bộ binh, gần phi trường Trà Nóc, Cần Thơ, có tên gọi là Liên trại 3. Liên trại 3 có 3 trại (trại 1, trại 2 và trại 3), trong mỗi trại có nhiều đội trực thuộc. Tôi cũng bị chuyển vào giam ở đó, tôi thuộc trại 3.  Theo đường tỉnh lộ Cần Thơ - Long Xuyên, qua khỏi cầu Bình Thủy, khỏi kho đạn, bên phải là bến tàu Hải Quân, bên trái có một con lộ đi vào, cuối con lộ là khu gia binh Trung đoàn 33BB. Từ cổng đi vào, bên tay trái là những dãy nhà của khu gia binh, CS dùng để giam giữ tù cải tạo trong những gian nhà đó. Tất cả đều là cấp bậc Đại úy.



Những điều tôi viết ra đây, sau khi cố gắng nhớ lại những sự việc đã xảy ra, trong trại giam khu gia binh Trung đoàn 33  Sư đoàn 21 bộ binh, cá nhân tôi chỉ nhớ rời rạc, không đầy đủ, tôi có gọi phone hỏi lại một vài người bạn tù ngày trước, cũng bị giam ở đó, kẻ nhớ ít, người nhớ nhiều, nói lại cho tôi nghe, người góp ý nhiều nhất là người bạn thân của tôi, tên M.V.Th., hiện đang ở San Jose, Tôi  xin tóm tắt như sau:



1./ Vào ngày 23 Tết năm Bính Thìn, 1976, chúng tôi nhìn thấy có thấp thoáng bên kia con rạch, những người vợ tù, (vì dãy nhà chúng tôi ở là dãy cuối cùng, cách một khoảng đất trống thì tới ao bông súng), đi tới đi lui, thỉnh thoảng đứng lại nhìn vào, như có ý tìm kiếm, biết đâu người trong kia đang nhìn ra đó lại không phải là chồng của mình (?). Các chị thấy một vài người tù đứng gần đó, nên ném vào mấy đòn bánh tét. Những tên VC vũ trang đứng gác bắt gặp, chạy ra bắt bốn chị, đưa vào nhốt vào conex. Những người tù lúc nãy, chạy về trại hô lớn: “Chúng nó bắt nhốt conex vợ con mình các bạn ơi!”. Tất cả mọi người tù đều nhốn nháo, hầu như ai nấy cũng ngừng sinh hoạt, kẻ trước người sau cùng chạy về hướng bộ chỉ huy trại, để xem thật sự như thế nào, vừa để bảo vệ (!) cho vợ con mình. Người nầy chỉ người kia, chỗ mấy cái conex, (một loại container của quân đội Hoa Kỳ dùng để vận chuyển hàng hóa). Thấy mấy tên VC đội nón tai bèo, dẫn bốn bà, đẩy vào conex và đóng cửa lại. Những người tù la lớn, rũ hùa nhau chay lên sân, càng lúc càng đông, đứng đầy cả sân. Thấy tình thế có thể trở nên căng thẳng, nguy ngập (?), bọn lính tại bộ chỉ huy Trung đoàn 81, do tên Trung tá Ba Song là chính ủy, quát tháo lên, ra lịnh: “Các anh hãy giải tán nhanh, bằng không chúng tôi sẽ nổ súng!”. Và cứ như thế, chúng hô to, trấn áp…Đáp lại là những tiếng la to: ”Hãy thả vợ con chúng tôi ra ngay!” Sau đó, vì không giải tán được tù binh, một tên lính dép râu, nón tai bèo, liền quơ súng AK67, (loại súng liên thanh, nòng ngắn, giống khẩu Thompson), hướng súng về phía tù cải tạo bắn chỉ thiên. Nhưng thật khó mà giải tán được, vì những người phía truớc thì ngồi xuống tránh làn đạn bay vèo vèo trên đầu, còn những người phía sau, và những người chưa chạy ra, nghe tiếng đạn nổ cứ ùn ùn chạy tới, càng lúc càng đông thêm.... Bắt buộc, chúng gọi người đứng trên cùng, người nầy là Bác sĩ quân y, (nghe nói vị bác sĩ nầy có lúc làm Đại diện Cộng đồng người Việt tại một thành phố lớn ở Hoa Kỳ?), và hai anh tù cải tạo nữa, một trong hai anh là anh Quách Dược Thanh., vào phòng làm viêc. Sau đó chúng thả bốn chị ra về và bắt giam anh Bác sĩ quân y vào conex với tội danh “xách động cải tạo viên làm loạn.”



2./ Sau đó vào ngày 29 Tết năm ấy, trong một lần tập họp toàn trại sinh hoạt cuối năm, có một tiết mục, gọi là chúc Xuân cho nhau, giữa những người đang chiến thắng và những người bại trận. Trong phần phát biểu của đại diện những người tù cải tạo, (sau nầy tôi mới biết là anh Quách Dược Thanh) tôi thấy có một anh tù cải tạo, thuộc Trại 1, chững chạc lên phát biểu cảm tưởng. Anh dáng người ốm, hơi cao, giọng nói trầm và ồ. Nội dung bài phát biểu, hồi đó và dĩ nhiên cho đến hôm nay tôi không nhớ hết, tôi chỉ còn nhớ một câu, nói theo ngôn ngữ trong nước bây giờ, rất là ấn tượng, Anh nói: Đối với các anh (có ý nói những người CS, đang ngồi trên ghế) thì những ngày Xuân là những ngày nhựt tân, nhựt tân hựu nhật tân. Đối với chúng tôi, (có ý nói những người tù đang ngồi dưới đất) thì những ngày Xuân là những ngày tà huy, tà huy, hựu tà huy (?).



3./ Cũng vào những ngày Tết nầy, các anh  tù cải tạo bên Trại 1, Trại của anh Thanh ở, có thành lập(!) một đoàn Lân, dùng những thùng thiếc và những vật dụng kiếm được trong cư khu gia binh, làm thành trống, chiêng, để múa Lân mừng đón Xuân mới, từ đội nầy qua đội khác. Những tên quản giáo của trại thấy hay và vui mắt, nên kêu đoàn Lân lên múa mừng Bộ Chỉ Huy trại. Anh Quách Dược Thanh nói rằng: Lân của người Quốc Gia, không thể múa lạy Cộng Sản được. Rồi các anh trong đoàn Lân lấy đầu Lân đem đi đốt, và sau đó chúng tôi không còn nghe thấy múa Lân nữa.



4./ Đã nhiều lần anh Thanh và chính ủy Liên trại 3, tên là Ba Song, tranh luận với nhau về đề tài: “Ky Tô giáo không thể sống chung với chủ nghĩa Cộng Sản.”, và sau đó Ba Song đuối lý.



Các bạn tù thường rỉ tai nhau và tôi được biết như thế, chứ chưa hề quen và biết anh; câu chuyện về người tù phát biểu gây rất nhiều cảm xúc đó, và người tù hôm 23 Tết kêu gọi CS thả vợ tù bị chúng giam trong conex, chuyện đốt đầu Lân, chuyện đấu lí với chính ủy Ba Song, đều có liên hệ đến anh Quách Dược Thanh, giảng viên trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.



Vì những sự việc kể trên, và có thể còn nhiều chuyện khác nữa, mà tôi không biết …(?), nên chính ủy Ba Song bắt giam anh Quách Dược Thanh trong Conex cho đến khi anh bị chuyển đi Cơi Năm.



Trong thời gian anh bị nhốt, Trại chuyển một số rất đông tù cải tạo đi Bắc. Anh Thanh không bị đưa đi trong chuyến ấy. Sau đó, Trại chuyển một số tù cải tạo nữa đi Cơi Năm, một địa danh nằm ở cuối Muĩ Cà Mau, gần hòn Đá Bạc, thuộc rừng U Minh Hạ. Tôi bị đưa đi trong toán đó, đến Cơi Năm, tôi được biết Quách Dược Thanh cũng được chuyển đi trong trại 1. Trại 1 cũng có những chị đại úy Nữ quân nhân, tôi nghe nhắc đến tên chị Thủy và một vài chị nữa (?) Tôi cũng có một người bạn học cùng một khóa trong Không Quân, sau nầy cũng đổi về Cần Thơ làm chung một đơn vị, hiện đang ở tại Seatle, Washington State, có nói với tôi rằng, anh ấy cùng ở chung một đội C3, Lán 9 với anh Quách Dược Thanh ở Khu gia binh Trung Đòan 33, cùng đi với anh Quách Dược Thanh xuống Cơi Năm, Đá Bạc. Sau đó anh nầy chuyển đi Lình Quỳnh, Rạch Giá.



Cũng xin nói thêm ra đây một ít về lao động của những người tù cải tạo đưa xuống Cơi Năm. Khi trại của tôi đến Cơi Năm, mỗi người được giao cho 2 tấm tôn, và toàn trại có một số gỗ. Mỗi tổ 10 người, dùng gỗ làm sườn, 10 miếng tôn làm mái lán, lợp xuôi xuôi, 10 miếng còn lại, đập phẳng ra, kê sát nhau làm giường ngũ, xung quanh được che bằng sậy. Nơi chúng tôi đang lao động, là một rừng sậy mịt mùng. Công việc của tù cải tạo là phát quang rừng sậy đó để lấy đất cấy lúa. Khi chúng tôi xuống là vào đầu mùa mưa. Phát sậy, cào những cây sậy đã phát xong làm thành giồng, lùa mạ về và cấy xuống. Cây mạ rất cao, cao gần cả thước tây. Một tay cầm một thanh gỗ, gọi là nọc, xoi xuống đất, đất cứng chứ không phải đất sình, ngập sâu trong nước, tay kia cầm năm ba tép mạ, nhét xuống cái lỗ vừa xoi xong đó, rồi bít đất lại, sao cho bụi mạ không ngập dưới nước và sau đó chúng không được nổi lên, cách cấy lúa nầy gọi là cấy dăm. Những khi người tù đưa bàn tay cầm nắm mạ đâm xuống ruộng nước đỏ ngòm, đục ngầu, tối thui đó, và cả những khi người tù đưa chân không (không đi giày dép) xuống, chỗ mà mình trước đây đã dùng phảng chặt đứt những bụi sậy, giờ đây gốc của nó đã biến thành những bàn chông nhọn hoắc đang phục sẵn. Sự việc gì sẽ đón chờ họ? Một ngày cấy được mấy ngàn nắm mạ, bước được mấy chục ngàn bước chân, bị những cây sậy nhọn hoắt đó “vô tư” đâm vào tay, vào chân là cái chắt, là điều không một người tù nào tránh khỏi!



Làm lao động một thời gian, khoảng năm ba tháng, vào một buổi sáng, Tôi được lệnh thu xếp đồ đạc cá nhân để chuyển trại, lúc đó tôi nghĩ là sẽ có nhiều người cùng đi với tôi, nhưng đợi hoài, tôi chỉ thấy trong đội 1 có một mình tôi... Anh Sơn đội trưởng dẫn tôi giao cho tên quản giáo đội, sau đó tôi được đưa đi đến một lán tôn nằm thòi lòi, cách khoảng khá xa với đội của tôi.…



Lần lượt có một vài người ở những trại khác đến. Một trong số những người ấy, tôi nhận được ngay anh Quách Dược Thanh. Đến  chiều, chúng tôi đếm được trong nhóm có tổng cộng là 13 người. Tôi còn nhớ được tên của một số anh:



1./ Quách Dưọec Thanh, Chiến tranh Chính trị.

2./ Hồ Kim Long, Tiểu đoàn phó Địa phương quân đóng ở Plây-ku.

3./ Lâm Văn Thanh, Tiểu đoàn phó Địa phương quân đóng ở Long Xuyên.

4./ Lê Tấn Châu (Châu Râu) Pháo binh.

5./ Thái Quốc Lý,

6./ Ngà, Pháo binh

7./ Tước (?) Biệt cách 81

- Còn 5 người nữa tôi không nhớ tên.

13./ Và tôi, Không quân.



Nhìn qua nhìn lại, ngó tới ngó lui, tôi chẳng biết vì sao mình laị “được” nhập vào trong nhóm có những “nhân vật nặng ký” nầy?! Biết bao nhiêu câu hỏi âm thầm trong đầu tôi, cả một quá khứ mười năm trong quân ngũ, thật tình tôi chỉ vào hạng “thường thường bậc trung”. Thế thì sao đây, hay là…Chữ “hay là” hiện về trong đầu óc tôi lúc bấy giờ như một đám mây đen bao phủ rừng U Minh, mà ở đây vốn dĩ đã có quá nhiều muỗi, nhiều mây đen và mưa gió rồi. Tôi lại nghĩ, hay là… những người cùng tôi tiếp tục chiến đấu, họ đã bị bắt, bị tra tấn và đã khai về tôi… (xin mở một dấu ngoặc ở đây là đến trưa ngày 02-05-75, taị Cù Lao Ông Chưởng, Long Xuyên, tỉnh An Giang, tôi mới cởi bỏ bộ áo bay và đưa cây súng P38 của tôi cho một chiến hữu kiên cuờng hơn tôi tiếp tục chiến đấu, trở về phi trường Bình Thủy trình diện). Thắc mắc nầy lúc ấy có rất nhiều câu trả lời, mà câu trả lời nào cũng mở đầu bằng chữ “có lẽ”. Đến nay câu trả lời vẫn chưa có giải đáp, ngoại trừ…có lẽ  Cộng sản sợ những người như chúng tôi, nên chuyển về nơi khác giam giữ cẩn thận hơn.



Nhóm của tôi nằm chờ, ban ngày câu cá, nói chuyện tầm phào, hỏi han chút ít về nhau, đánh cờ tướng, ban đêm nghe anh Quách Dược Thanh kể chuyện chưởng. Khoảng năm ba ngày sau đó, nhóm chúng tôi được chuyển về liên đội 3, Trại Chi Lăng, Châu đốc. Tôi và anh Hồ Kim Long ở chung một phòng, phòng 1, sát cổng ra vào, bên tay trái, đối diện hội trường của liên đội. Anh Quách Dược Thanh ở phòng khác, phía trong cùng bên trái. nhưng tất cả đều ở chung một liên đôi 3. Hằng ngày chúng tôi thường liên lạc với nhau, dĩ nhiên là không công khai cho lắm.



Điều khiến cho tôi nhớ mãi, là sự hiện diện cháu Bạch Nhật, một ngưòi tù cải tạo bất đắc dĩ của Liên đội 3. Nhân tiện tôi kể sơ, gọi là chút tưởng nhớ của tôi về cháu Bạch Nhật. Bạch Nhật là tên của con gái anh Trung úy Phương, Quân cảnh Sư đoàn 21BB, đồn trú tại tỉnh Bạc Liêu. Sau một lần thăm nuôi trước cổng trại Chi Lăng, tối hôm đó, thay vì đón xe lam về nhà như mọi người vợ thăm nuôi chồng khác, vợ của anh Phương, đã ở lại trong một ngôi nhà trước cổng trại, và chị đã uống thuốc tự vẫn. Sáng hôm sau anh Phương được cán bộ trại dẫn cháu Bạch Nhật vào giao cho anh Phương nuôi. Thời gian đó, cháu chừng bốn năm tuổi, cháu cũng có một chỗ nằm  trên nền xi măng, một chiếc chiếu để ngủ,  và cũng có một phần cơm để ăn. Đáng thương nhất là nếu có ai, dĩ nhiên là những “chú tù” hỏi:



- Cháu loại mấy?



Cháu trả lời:



- Cháu loại ba.



- Tại sao vậy?



- Tại cháu ở chung với mấy chú loại ba.



- Thế cháu có biết cháu ở tù  bao lâu không?



Cháu trả lời gọn ơ, không cần suy nghĩ:



- Mút mùa!



Vì cháu đã nghe các chú hay nói chữ ‘mút mùa’. Tội nghiệp cho đầu óc non trẻ của một cháu bé, con của một người bạn tù của tôi, mà tôi thấy trước mắt. Và cũng cùng lúc ấy, ngoài xã hội, những con em nhỏ bé của chúng tôi nữa, xa cha, suốt ngày mẹ chúng bỏ ở nhà, có thể cùng với mấy anh chị em bé nhỏ của nó, hoặc chẳng có anh chị em nào, lang thang lếch thếch, để mẹ chúng còn phải tần tảo kiếm ăn, nuôi thân, nuôi chúng, nuôi chồng! Chúng sẽ sống và sẽ khôn lớn như thế nào đây. Năm 1982, khi ở tù về, tôi và hai người bạn, anh Nhung và anh Vinh, có ghé cư xá Phú Lâm, Saigòn để thăm anh Phương, hôm đó cháu Bạch Nhật không có ở nhà.



Một thời gian lâu sau đó, chúng tôi được chuyển về trại Vườn Đào, thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Tôi vẫn ở chung cùng một liên đội 3 với anh Quách Dươc Thanh, cho đến ngày tôi chuyển lên trại Z30A, Xuân Lộc Đồng Nai. Lúc đó VC đã bắn Trung tá Nguyễn Đức Xích rồi và anh Quách Dược Thanh còn bị giam trong conex.. Có lần tôi làm lao động gần cái conex giam anh, lúc đó anh được ra đổ phân, tôi thấy anh ốm quá, đôi mắt anh đờ đẫn, không biết anh có nhận ra tôi không. Đó cũng là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy anh. Sau khi ra tù tôi nghe bạn tù nói rằng, CS đã giết anh trước khi đóng cửa trại giam Vườn Đào.



Như tôi đã nói, theo tôi, anh Quách Dược Thanh có một trí nhớ tuyệt vời. Sau đây tôi xin kể laị ít nhiều kỹ niệm giữa anh và tôi, trong những ngày sống trong trại cải tạo. Anh Thanh người cao cao, giọng nói trầm, khi anh ngồi đánh cờ tướng hai đầu gối kẹp vào, cao lắm, che khuất hai mép tai, có người bảo đó là dị tướng(?) Quê anh ở Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, vợ anh tên là Giao Kim Keo.



Quách Dược Thanh kể chuyện chưởng thì tuyệt cú mèo. Chẳng hạn như khi kể chuyện Cô Gái Đồ Long của Kim Dung, Quách Dược Thanh nói từng tên, từ Tống Viễn Kiều cho đến người thứ bảy là Mạc Thanh Cốc của Võ Đang Thất Hiệp, nói luôn sở trường xử dụng vũ khí của từng người, nhất là lúc tả Ngũ Hiệp Trương Thúy Sơn, Quách Dụợc Thanh đi vào chi tiết hấp đẫn vô cùng, Trương Thúy Sơn ăn mặc đẹp như thế nào, anh nói đến vũ khí Ngân Câu Thiết Hoạch, Phán Quan Bút, Rồi những câu thơ Trương Thúy Sơn dùng Phán Quan bút và Ngân Câu múa võ khắt trên vách đá: Võ Lâm Chí Tôn, Bảo đao Đồ Long, Hiệu Lịnh Thiên Hạ, Mạc Cãm Bất Tòng, Ỷ Thiên Bất Xuất, Thùy Dữ Tranh Phong. Anh đọc thuộc lòng 24 chữ và còn nói có 211 nét (?). Thật tình lúc đó tôi cũng hơi nghi ngờ con số 211, trùng tên một Phi Đoàn Trực Thăng của Sư đoàn 4 Không Quân, mà cho dẫu nói ra một con số nào đó cũng “chẳng ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới”, miễn sao nghe hấp dẫn là ấm lòng người tù cải tạo, là hả dạ lắm rồi. Sau đó, có dịp ở gần anh, tiếp xúc anh, nghe anh nói nhiều điều, tôi xác nhận bằng linh cảm của mình rằng con số 211 nét của 24 chữ là đúng. Tôi còn nhớ, khi kể đến đoạn quần hùng chánh phái, bức tử cha mẹ Trương Vô Kỵ, trước khi tự sát chết, Hân Tố Tố đã dùng kế “ Di Họa Giang Đông” rất độc ác. Nàng mời  Không Văn đại sư, chưởng môn nhân của phái Thiếu Lâm, lại gần mình và nói lớn: “…Tạ Tốn đang ở tại..”, sau đó nàng kê sát miệng mình vào tai của Không Văn đại sư nói nhỏ…mà thật ra chẳng nói gì cả (!), cốt ý di họa cho phái Thiếu Lâm. Lúc đó Quách Dược Thanh nói, nếu có dịp anh sẽ nói rõ hơn về kế Di Họa Giang Đông trong “Tam thập Lục Kế’ cho chúng tôi nghe. Anh còn tả lại cảnh Trương Vô Kỵ đánh thắng Diệt Tuyệt Sư Thái, chưởng môn nhân của phái Nga My như thế nào, bà nầy ra lịnh cho Chu Chỉ Nhược cầm kiếm đâm Trương Vô Kỵ ra sao và diễn biến tâm lý của hai nhân vật ấy trước và sau khi tình huống éo le đó xảy ra như thế nào… Kể chuyện chưởng mà nói đầy đủ những chi tiết, tên tuổi, thêm vào đó với giọng nói trầm trầm, ồ ồ, như Quách Dược Thanh, thật là tuyệt cú mèo, ai mà chẳng mê.



Có đêm, ở rừng U Minh, khi cả nhóm đang nằm im lặng nghe anh kể, chúng tôi phát giác ra có người lạ, du kích điạ phương hoặc quản giáo, đang đi kiểm soát bằng xuồng ba lá, ngay đầu nằm của  chúng tôi. Anh Quách Dược Thanh biết, nên im, không kể nữa. Một lát sau, có giọng người miền Nam nói lớn:



- “Cứ kể tiếp đi, không sao đâu!”.



VC cũng thích anh Thanh kể chuyện chưởng?!



Lúc ở trại giam Chi Lăng, tôi cũng được may mắn, nghe một người khác kể chuyện chưởng cũng gần như hoặc bằng anh, đó là anh Võ Hợi, Vũ đức Sao Biển, giáo sư dạy Triết tại trường Trung học Bạc Liêu. Và khi ở đội 17A, trại Z30A, có anh Trịnh Thái Phẩm quê ở Cần Thơ, làm việc ở Rạch Giá, kể chuyện chưởng cũng hay lắm lắm. Khi đứng trên đồi của núi Chứa Chan cuốc đất, mà được đứng gần anh Phẩm, nghe kể chuyện chưởng, nếu có ai hỏi:



- “Chán Chưa?”



Sẽ nghe câu trả lời là:



- “Chan Chứa, Chưa Chán!”.



Cũng nhờ các anh đã kể cho tôi nghe nhiều lần, tôi nhớ chút ít dành làm vốn cho riêng mình, để sau nầy, khi ở tù bên biên giới Thái Lan-Kampuchia, tôi đã bị chuyển qua nhiều nhà tù, có nhà tù dùng cùm, loại làm bằng gỗ, và cũng có nhà tù dùng còng, loại làm bằng sắt, CS đã còng hoặc cùm một hoặc hai chân của tôi lại nhiều ngày, nhiều tháng. Những tháng ngày bị giam trong hoàn cảnh đó, tôi moi hết những “chiêu thức” mà ba người bạn đã truyền dạy cho tôi, kể lại cho các bạn tù mới nghe, phần đông là những chú lính trẻ xuất thân từ miền Bắc Việt Nam, đào ngũ làm lính bụi, họ thích nghe lắm. Nhờ vậy mà có thuốc Lào, thuốc 3 số, thuốc Hero, thuốc Jet, và đôi khi có cả “bồ đà” (tiếng lóng chỉ lá cần sa do mấy chú đội CSVN ở Kampuchia đặt) và chút cơm ăn qua ngày. Cám ơn các anh đã cho tôi những “kiến thức” quí giá để “mưu sinh thoát hiểm”, trong những trại tù dọc biên giới Thái Lan- Kampuchia xa xôi và cả khi bị giam ở Chí Hòa nữa, trong phòng “Kiên Giam” của khu ED, lúc còn là “tù mồ côi”, tiếng gọi dành cho những người tù chưa được gia đình thăm nuôi.



Ngoài tài kể chuyện chuởng, anh Thanh còn kể cho chúng tôi nghe về “Những người đàn bà lừng danh trong lịch sữ”. Từ Cléopâtre, đến Từ Hy thái hậu, từ Rosephine đến Võ tắc Thiên, từ Tây Thi cho đến nhiều nhiều lắm. Anh nói và giảng giải cho chúng tôi nghe rành mạch về: “Tam Thập Lục Kế”, từ Giã Đồ Diệt Quắc đến Dục Hoãn Cầu Mưu, từ Man Thiên Quá Hải đến Chỉ Tang Mạ Hòe, đến Không Thành Kế, đến Mỹ Nhân Kế và cho đến cuối cùng là Dĩ Đào Vi Thượng. Anh giải thích rành mạch ý nghĩa của mỗi kế, những người nào áp dụng kế gì, trong trường hợp nào, tại sao thất bại, tại sao thành công. Tôi vẫn thầm tiếc, phải chi lúc ở U Minh anh có đủ thiên thời, điạ lợi và nhân hòa để áp dụng kế thứ 36 cho chính anh thì….tốt biết chừng nào. Tôi không còn nhớ rõ là anh có cái thú đá gà không, nhưng khi anh nói về gà đá, có nhiều bác tù lớn tuổi cầm giấy ghi ghi, chép chép, chắc là để lâu lâu coi lại cho thuộc, hầu sau nầy ra tù về đời thi thố tài năng chăng (?).



Và những điều anh kể, làm tôi nhớ nhiều, bên cạnh chuyện chưởng, là quyển sách Kỳ Đạo của Khổng Trọng Thư. Qua quyển sách nầy, và theo trí nhớ của anh, anh giảng giải cho tôi hiểu về cờ tướng, một môn giải trí vượt lên trên cả thắng thua, đứng hạng thứ hai trong nghệ thuật, Cầm Kỳ Thi Họa. Tôi xin ghi lại đây, theo trí nhớ của tôi, tiếc rằng nó cũng đã quên nhiều theo năm tháng.



Bàn cờ tướng có 32 con cờ, chia làm hai phía, hai màu khác nhau, hình vẽ trên mỗi con, có con giống mà cũng có con vẽ khác nhau, mặc dầu phiên âm và cách đọc tiếng Việt có giống nhau. Một bên sơn màu đỏ và một bên sơn màu đen, sau nầy có nơi thay vì sơn đen, người ta sơn màu xanh. Vì khác nhau nên mới có chuyện “đánh” nhau. Một bên là con Tuớng, một bên là con Súy, một bên là con Tốt, một bên là con Binh. Năm con chốt tượng trương cho ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hỏa và thổ. Con Xe thuộc về thái dương, con Pháo là thiếu dương, con dương đi thẳng, chính trực, tượng trương cho người quân tử, mỗi nước đi của con cờ dương chúng ta dễ nhìn thấy, dễ suy đoán. Con Tượng là thái âm, con Mã là thiếu âm. Con âm đi xéo, nham hiểm, khó đoán. Khi bắt đầu khai cuộc, giống như thời mới khai thiên lập đia, ngũ hành biến hóa, âm dương di động. Khi bàn cờ vào hồi tàn cuộc, ngũ hành hội tụ, mỗi bước đi của con chốt là một nhát gươm đâm thẳng, từng nhát một, từng nhát một, làm cho nhịp tim của con Tướng và con Sĩ như muốn thót lên. Cờ tàn mà phối hợp một con dương, một con âm và một con ngũ hành, phần thắng hầu như nắm trong tay.



Nói về người cầm quân cờ đi tiên, người cầm quân cờ đen đi trước, thường là người vai vế thấp hơn, địa vị thấp hơn, hoặc trình độ cờ thấp hơn. Nếu mình cầm con pháo 2, bình qua 5, thế pháo đầu, là hỏng bét rồi. Vừa không đúng với lễ nghĩa, đạo lý, vừa không đúng với kỹ thuật dụng binh. Vì khi dùng thế pháo đầu sức mình phải trên tay đối thủ, còn nếu bằng nhau thì cũng khó thủ huề. Vì cũng như hai võ sĩ, lên võ đài thi đấu, nếu mình không biết khả năng đối phương, mà tung quyền hay kiếm ra đánh thí mạng, thì sẽ ra sao? Sao ta không dùng thế bình phong mã, vừa lễ nghĩa, hợp đạo lý, vừa dò xét khả năng đối phương, vừa nếu cần đổi qua thế công cũng không trễ.



Nói về thế cờ chấp, chấp bằng cách bỏ bớt đi một quân, hay hai quân cờ là “không được” rồi. Vì khi lên võ đài, có võ sĩ nào mà laị cột một tay, bịt một mắt thi đấu bao giờ đâu. Nếu thắng tạo cho mình sự kiêu căng, lố bịch. Đấu cờ nếu bất đắt dĩ phải chấp, thì may ra có thể nhường trước một nước, hai nước, cũng như khi đấu, nhường trước một vài chiêu vậy.



Nhìn người đánh cờ không những ta biết được tính tình của người chơi cờ, mà ta còn biết được người đó có bị bệnh tật gì không…(Chương nầy tôi quên)



Có một buổi sáng, tác giả Khổng trọng Thư, sửa soạn khăn áo chỉnh tề chuẩn bị ra khỏi nhà để tham dự một trận đấu cờ với một người chơi cờ nổi tiếng của một huyện lớn trong tỉnh ông đang ở. Vợ ông hỏi ông:



- Ông sẽ thắng hay thua.



Ông hỏi lại bà:



- Theo bà, tôi nên thắng hay nên thua.



- Ông nên thua, hoặc huề.



- Bà đã đi đến chỗ kỳ đạo, đúng là người bạn đời tri kỷ. Làm sao mà tranh thắng bại với một danh cờ, từ xa đến đây với bao hy vọng của biết bao người ái mộ trông đợi ở quê nhà.



Chương cuối của quyển sách Kỳ Đạo có đề tựa là “Tỵ Thư” tức là “Đốt sách”. Tôi chỉ nhớ có hai chữ Tỵ Thư của chương nầy. Xin lạm bàn thêm vài ý của mình, nếu có sai sót, xin độc giả niệm tình tha thứ.



Trong cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ do nhà văn Kim Dung viết, trong đoạn, khi bị sư phụ Nhạc Bất Quần phạt một mình ở trên đỉnh Sám Hối của phái Hoa Sơn, Lệnh hồ Xung được Phong Thanh Duơng truyền dạy võ công. Sau khi đã dạy hết những chiêu thức trong Độc Cô Cửu Kiếm, như Phá Đao thức, Phá Kiếm Thức, Phá Tiển Thức… vân vân…Phong Thanh Dương đã giải thích cho Lệnh Hồ Xung biết rằng, cho dù ta có học thuộc lòng tất cả những chiêu thức trong các thế kiếm, đã xử dụng các chiêu thức đó một cách thuần thục, nhưng nếu chỉ có vậy, thì khi lâm trận, đối thủ của ta vẫn có thể phá giải được như thường. Vì khi nào ta còn xử dựng chiêu thức thì ta vẫn còn có kẻ hở, đối phương có thể nhìn vào kẻ hở đó mà thắng ta. Do đó, ta phải luyện đến khi nào, khi ra chiêu không còn có chiêu thức nữa thì đối phương không tài nào phá giải được. Khi cái biết, cái thuộc lòng đã nhập vào trong tâm. Kiếm thức đã biến vào trong tâm ta, lúc đó ta không còn phân biệt giữa ta và kiếm thức. Như vậy khi ta xuất chiêu chẳng còn chiêu thức của kiếm nữa, mà là kiếm ý. Đã là kiếm ý thì đâu còn chỗ hở để mà phá.



Ở đây cũng vậy, tác giả Khổng Trọng Thư, không muốn những hậu bối của mình  xử dụng cuốn Kỳ Đạo như một bửu bối để khi đánh cờ đem ra đọc từng đoạn, coi lại từng chương thì làm sao tiến lên hàng kỳ đạo. Chơi cờ tướng cũng như xử dụng kiếm, phải chơi bằng ý, chứ không phải thế, thì đâu còn sơ hở, đâu còn luận đến thắng, đến thua. Lúc đó quyển Kỳ Đạo giữ để làm gì nữa, đốt đi hay cho lại người khác cũng vậy thôi. Hay là tác giả thấm nhuần giáo lý Phật Giáo qua câu kệ sau đây:



Mượn chỉ đưa diều lên khỏi gió,
Buông thuyền khi khách đã sang sông.



Tôi nghe nói, có những người đánh cờ, lên đến hàng “Kỳ đạo”, lâu ngày gặp mặt, sắp bàn cờ ra, đánh năm bảy nước, xếp cờ đứng dậy, cùng nhau uống vài chung trà, nhắp vài ly rượu, nhìn nhau trong im lặng, hoặc nói một vài điều…rồi mai chia tay, chẳng thú vị lắm sao! Cũng xin nói thêm với độc giả rằng, khả năng đánh cờ tướng của tôi trong trại cải tạo bạn tù xếp vào hạng “cờ cơm”, chữ nầy có nghĩa là ai đánh cờ với tôi cũng ăn rất dễ, dễ như tù cải tạo ăn cơm.

Để kết thúc bài viết nầy, tôi xin đưa ra nhận xét của một số người bạn tù, sau nầy gặp lại, khi nhắc đến anh Quách Dược Thanh như sau:



Quách Dược Thanh là một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị đa tài, dũng cảm, không sợ hãi trước kẻ thù và bạo lực; mặc dù với hoàn cảnh hết sức khó khăn ở trong tù, anh đã đứng lên đấu tranh cho những lý tưởng mà anh theo đuổi…Vì vậy, Cộng sản sợ anh, nên đã tìm mọi cách để thủ tiêu anh.



Những người Việt Nam Quốc Gia, chúng ta cùng nhau thắp lên nén hương, để tiếc thương và tưởng nhớ đến anh.



Trần Phước Huynh
Trích Nguồn: http://www.quocgiahanhchanh.com/quachduocthanh.htm

**************************************************

Trở Lại:  Mục Lục Đặc San Ức Trai Hè 2013